THEO VẾT CHÂN VI TIỂU BẢO
 Ký sự của Thủy Trường

LTS: Năm ngoái, khi bản tin THĐL 16 đã lên khuôn ở "nhà in" chúng tôi mới nhận được bài viết này. Không đủ thì giờ sửa soạn để cho đăng vào số 16, chúng tôi liên lạc với tác giả và hẹn để dành cho năm nay. Thêm một gia đình THĐL "đi Tàu." Mời các bạn dõi theo vết chân Vi Tiểu Bảo.

Cuộc hành trình thành hình từ lúc chúng tôi nhận được giấy quảng cáo của hãng Connection kỷ niệm 10 năm thành lập, giá chỉ còn 700US$ thay vì 1200US$ Bruxelles - Beijing (Bắc kinh). Sắp hàng mua vé xong, tôi lại tiếc rẻ không đi một tháng rưỡi, vì theo cuốn guide (tài liệu hướng dẫn) thì giá sinh hoạt rất thấp. Tôi bắt đầu "í, e, xán, xứ, ..." học tiếng Tàu từ ngày đó. Ngẩm nghĩ, hai vợ chồng không biết một chữ nhứt là một mà dám dự định đơn thân độc mã đi hết nước Tàu thì đúng là một cuộc phiêu lưu lớn. Nhưng ý chí thực hiện mộng hồ hải đã không làm chúng tôi chùn bước. Cái may đầu tiên đã đến khi một bà cancérologue (chuyên viên về ung thư) người Tàu đến nhờ con gái chúng tôi chữa răng. Từ đó phăng ra cô em họ của bà ở Bắc kinh chịu làm guide (hướng dẫn viên) trong thời gian chúng tôi ghé Bắc kinh.
Chúng tôi lên đường ngày 27 tháng 8, 1996, bay từ Bruxelles tới Frankfurt, 40 phút bay, để đổi tàu. Máy bay 747 cất cánh từ Frankfurt lúc 5 giờ chiều, bay non-stop tới Bắc kinh sáng ngày hôm sau, mất 10 tiếng đồng hồ. Phi trường Bắc kinh cũ mèm, có lẽ có từ thời Tưởng Giới Thạch còn sanh tiền. Được Vương Lai (Wang Lai) và một cô bạn đợt sóng mới thông thạo Anh ngữ ra đón, tụi tôi về thành phố bằng tắc xi. Xa lộ 4 băng (lane) bị kẹt ngay cửa vào mặc dầu thành phố đã được trang bị bằng một hệ thống xa lộ cao tốc (expressway) 12 băng, mỗi bên 3 băng cho xe chạy mau, 3 băng dành cho xe chạy chậm và xe đạp. Ở các ngã tư, một trong hai đường chạy vòng lên, đường dưới cùng có một bùng binh (rond point , circle) dành cho các xe đổi hướng.
Cơm trưa xong, chúng tôi đi xem Cấm thành, nằm ngay sau công trường lịch sử Thiên an môn. Đền vua nhà Minh rồi nhà Thanh gồm nhiều dinh thự lớn kinh khủng, sắp xếp ngăn nắp, thành quách toàn bằng đá, nhưng không một bóng cây nên có vẻ khô khan như chúng ta đã được xem trong phim The Last Emperor.
Đến Vạn lý trường thành, hai cô hướng dẫn nổi máu bon chen mua vé cho người bản xứ làm tụi này bị nhận diện hạch hỏi. Nguyên thủy, trường thành được sắp xếp bằng đá khối, nay được tu bổ lại bằng gạch. Đứng trên trường thành, bồi hồi nghĩ đến cách nay 2200 năm, hằng cả vạn vạn công nhân nô lệ gồng gánh di chuyển từng khối đá, hy sinh bao nhiêu mồ hôi nước mắt và máu để cho ngày hôm nay mình đứng trên cao ngưỡng mộ một kỳ quan mà chỉ có những dân tộc lớn mới thực hiện nổi. Người đi xem hàng hàng lớp lớp, người bản xứ, người Đài loan, người Hồng kông, người Tân gia ba, người Mỹ, ... Chỉ có người Âu là thuộc thiểu số!
Mộ nhà Minh có đặc điểm đặt dưới hầm lạnh. Một con đường hai bên có các tượng thú vật như voi, lạc đà, sư tử, ... đặt hai bên dẫn ra cửa hậu, chung quanh có tường bao bọc.
Lâu đài mùa hạ được xây dựa cạnh một cái hồ lớn, qua nhiều cầu vòng hồ sen và nhà thủy tạ hình chiếc thuyền bằng cẩm thạch bên hông một lâu đài cất trên triền núi. Có lẽ đây là cảnh đẹp thơ mộng duy nhất ở Bắc kinh có nhiều kinh, hồ, cây cối mọc sum sê, tuy nhiên lại ít du khách.
Ngày hôm sau, 29 tháng 8, chúng tôi đi viếng đền Thiên an. Đây là nơi người ta đến để cầu cho được mùa. Đền là một cái tháp hình tròn, cao khoảng 50 thước, bao bọc bởi một bức tường hình vòng cung nên gây được tiếng dội. Mỗi du khách vào cửa phải mua vé khoảng 4 US$ (1 US$ = 8 Yuan: đồng quan).
Sau đó là thong thả shopping khu Tiền môn Đại sách lan (Dazhalan), các đường hẻm chen chúc người và người, mua bán tấp nập từ thượng vàng đến hạ cám, thức ăn đựng trong thau có điện trở hâm nóng (résistance chauffante) nhưng sạch sẽ hơn chợ Sài gòn, người bán mặc blouse trắng, giày, vớ, quần áo, va li, đồ kỷ niệm, ... Xích lên 3 lốc (bloc) bên hông của Thiên an môn là đường Vương phủ tỉnh (Wang fuling) có nhiều trật tự hơn, hàng có phẩm chất cao hơn, một bộ com-lê mùa xuân 20 US$, một áo sơ mi 4 US$, ...
Gia đình cô hướng dẫn viên thết đãi tụi tôi ở một nhà hàng với món vịt Bắc kinh và đặc biệt món bọ cạp chiên bơ ăn với bánh phồng tôm. Bọ cạp nuôi mập cỡ 6 cm chiên dòn, lúc đầu ngài ngại, nhưng quen miệng thấy ngon làm người đãi phải kêu thêm một dĩa, ...
Nhà của ba cô Vương (Wang) nằm trong bin đinh tập thể Văn công, nhà có 3 phòng, trong lúc nhà một trung úy có 2 phòng. Một công nhân viên được cấp nhà loại này, ngoài ra còn được trợ cấp điện, nước, y tế phí. Chính phủ dần dần bỏ chế độ bao cấp này nên nhà cửa không được tu bổ, xuống cấp thậm tệ, cửa nẻo vá víu, nhìn vào giống như những hang chuột. Bù lại thì lương họ thấp (khoảng 500 Yuan = 62 US$), trong lúc thơ ký một hãng tư lãnh khoảng 600 US$ nhưng không có phụ cấp gì hết. Trung quốc vẫn còn duy trì chế độ xã hội song hành với tư bản (biểu tượng là nhà lầu, xe hơi, máy móc), những nhu cầu cơ bản vẫn được trợ cấp, như xe buýt, xe điện ngầm (1 Yuan), tem thư trong nước (0,2 Yuan), tem thư ngoại quốc (2,9 Yuan); gạo rau đều rất thấp, tắc xi lên trả ngay 10 Yuan, xe lửa giá ghế mềm mắc bằng 4 lần ghế cứng (bình dân).
Ông Vương bứt rứt về việc hai đứa chúng tôi không một chữ Tàu dính túi mà dự định đi khắp nước Tàu. Ông bèn lục lại hồ sơ đám học trò âm nhạc của ông ở các tỉnh khắp nước, rồi ông điện thoại dặn dò học trò ra tận nhà ga đón chúng tôi.
Lên xe, chúng tôi làm quen với một công nhân làm ở Vladivostock, anh chàng rán rặn đỏ mặt tía tai được mấy chữ Anh, và một nhà nghiên cứu ở Nam ninh (Nanning) từng du học ở Mỹ đến chuyện trò. Xe lửa Tàu có 4 hạng: ghế cứng bình dân, mua vé lúc nào cũng có, có quyền khạc nhổ tứ tung; từ ghế mềm trở lên có máy lạnh; ghế mềm giá vé bằng hai, có nhiều tiện nghi và sạch sẽ hơn; giường cứng có 6 người một ca bin, giá bằng 4 lần ghế cứng; và hạng giường mềm 4 người trong một ca bin thường dành cho cán bộ cao cấp, chăn và ra (drap) trải giường được thay mỗi chuyến, mỗi giờ có người lau quét sàn và châm nước nóng. Thức ăn bán theo xe đẩy hoặc ở toa nhà hàng: 2,5 US$ cho một bữa ăn 3 món.
Bắc kinh - Quế lâm (Guilin) 2200 cây số xe lửa chạy 2 đêm một ngày, tốc độ trung bình 80 cây số một giờ. Gần đến nhà ga, bao nhiêu người nhắc nhở, người phụ tránh toa thông báo có người ra đón. Học trò ông Vương là một thầy dạy âm nhạc, có dẫn theo một cô giáo sư Anh văn. Họ khệ nệ dành khiêng va li lại khách sạn gần đó, lấy phòng và dặn mua vé cho chuyến tới. Tụi tôi làm một vòng thành phố. Gần biên giới Việt nam nên Quế lâm có một cái nóng những ngày Tết bên ta, đường phố rộng rãi nhưng xe cộ thật hỗn độn như mọi nơi trên nước Tàu (trừ Thượng hải và Bắc kinh tương đối trật tự hơn), bất kể đèn xanh đỏ, người đi bộ, xe đạp, mạnh ai nấy dành đường mà đi. Tuy nhiên có lẽ họ cũng có những thoả hiệp riêng nên ít xảy ra tai nạn; ai yếu thế thì nhường người khác đi qua, kèn chuông đinh tai nhức óc.
Thường người ta đi từ Quế lâm tới Dương sóc (Yangshuo), 80 cây số, bằng đường sông. Nhân lúc hỏi thăm chỗ mua vé thuyền đi Dương sóc, tôi có được làm quen với một cô bé công nhân giặt mướn. Cô ta dẫn tới, dẫn lui, điện thoại lung tung, cuối cùng phải nhờ ông anh chở đi Dương sóc bằng tắc xi. Từ Dương sóc chúng tôi mướn thuyền đi Phù lý (Fuli). Sông Lý giang nước trong vắt lờ đờ chảy qua một vùng núi đá vôi hình dáng trơ trọi, hai bên bờ tre mọc phủ như tóc mây xỏa kín bờ vai. Các ngư phủ dùng thuyền làm bằng ống tre ghép lại để di chuyển, đánh cá bằng chim cốc (bói cá, cormoran). Thật là một phong cảnh thần tiên ở hạ giới. Phù lý là một làng quê mang nhiều sắc thái đặc thù của Trung quốc, không khí tĩnh mịch, nhà cửa thô sơ, tối tăm, nếp sống bình dị, ...
Chúng tôi có dịp ăn cơm trên thuyền dọc theo sông Lý với món cá trạch nấu lẩu, cá chiên tươi dầm nước mắm, cá chưng tương ... Dọc theo sông đầy hoang dã thỉnh thoảng có một vài cô đầm thả phao trôi dọc theo sông, rồi nhờ các thuyền kéo trở về Dương sóc. Đến ngày 5 tháng 9, 1996, chúng tôi viếng công viên Lộ đế (Ludi), một vùng đồi núi đặc biệt của Quế lâm.
Cũng như hầu hết trên đất Tàu, có rất nhiều nhà tập thể, các bin đinh khoảng 10 năm trở lại, người Tàu ít săn sóc nhà cửa, phòng ốc tối tăm, các hành lang công cọng đầy rác rến, ánh sáng mù mờ. Đối với họ, nhà chỉ là nơi đặt lưng nghỉ, ăn uống qua loa, còn lại là buôn bán hay làm công nhân viên. Do đó mà khắp thành phố người người đều bán, nhà nhà đều bán, và ở đâu cũng có người mua.
Ngày 6 tháng 9, chúng tôi lấy xe lửa đi Hàng châu (Hangzhou), Triết giang (Zhejiang), cách khoảng 2000 cây số, chạy trong 2 đêm một ngày. Trên xe tôi có trò chuyện với một gia đình khá giả, cô chị đã có việc làm ở Thượng hải (Shanghai), nói thông thạo tiếng Anh, hai đứa em học đại học chập chững đến Thượng hải tìm việc làm. Đây là một phong trào, ai ai cũng đổ vào các vùng kinh tế đặc biệt để có cơ may làm ra tiền. Họ cũng có nhiều ý kiến về chính sách mở rộng, về tham nhũng, về kinh tế thị trường của nhà nước cọng sản, những điều mà 5 năm trước đây họ không hề dám mở miệng.
Chúng tôi nhận thấy trên xe lửa, xe buýt, tắc xi, hay bất cứ ở đâu, người Tàu rất dễ làm thân với nhau, dễ hàn huyên với nhau, và từ đó câu chuyện kéo dài ra như anh em trong một nhà. Đồng thời họ cũng thích xen vào việc của người khác không ăn nhằm gì tới mình. Một cuộc cãi lộn ngoài đường là một dịp may cho bao nhiêu người bàn tán góp ý. Như vậy thành ra khi chúng tôi đưa họa đồ thành phố ra hỏi thì cả chục mạng saün sàng hướng dẫn nhiệt tình. Rốt cuộc một là tụi tôi không hiểu gì cả, hai là trớt lớt, ba là họ dẫn đến hang cùng ngõ hẻm.
Còn gọi là Giang nam (thất quái!), Hàng châu là nơi Trần Cận Nam dấy quân Thiên địa hội chống nhà Thanh, nên Vi Tiểu Bảo đứng giữa thầy và bạn (vua Càn long). Ở đây nổi tiếng nhờ Hồ Tây (Hu Xi). Hồ rộng khoảng 5 cây số vuông, đẹp nhờ bờ hồ có nhiều sen, có nhiều cầu hình vòng cung, nhứt là ở giữa hồ nổi lên các đảo nhỏ nhiều nhà thủy tạ, thảo mộc xanh um. Hàng châu cũng có đặc điểm là các người bắt mối chở thuyền dạo hồ dai như đỉa đói, họ cứ theo lải nhải cả cây số, nhất định không buông khách bốn phương. Nhiều tượng Phật cao cỡ 35 thước, tượng Phật nằm khoảng 50 thước dài, nhiều tượng Di lặc, Bồ tát, được tạc trong núi đá ở Linh ẩn tự (Linyin - Temple de la solitude inspirée), làm cho chúng tôi bỏ ý định đi Lã dương (Luoyang) vì ở đây cũng có các tượng tương tự. Chùa Lục hòa tháp (Liuhe ta - Temple des six harmonies) có nhiều tháp cao đủ kiểu, đủ loại, trong đó có cái cao đến 60 thước.
Mỗi sáng, nếu ai chịu khó dậy sớm khoảng 5 giờ 30, sẽ được chứng kiến một cảnh lạ mắt trên hồ Tây: hàng đoàn người từng nhóm thực tập các môn thể dục như múa gươm, Thái cực quyền, múa gậy, đi ngược, Thiếu lâm, Thiền, và cả các điệu vũ như Tango, Madison, Paso, cũng được chiếu cố qua các máy cassette cầm tay.
Chiều chiều hai đứa tôi thay phiên dẫn mấy cô hầu bàn chỉ các món ăn có saün để đặt hàng, vì "thiếu chữ nghĩa" để giải thích. Cơm xong là thả bộ dọc theo con đường chợ Đêm, được bày bán trên một con đường tấp nập, nào là bình trà (Triết giang nổi tiếng về đồ gốm), tượng Phật, triện ấn bằng đá có khắc tên mình, tranh, bút lông, ... và nhất là gương sen, củ ấu, xá lị, hột dẻ (marron) nướng, khoai lang nướng, ... rất hợp khẩu vị cho ai thích ăn vặt như tôi.
Thật là bối rối cùng cực khi biết mình lọt vào một "tour" dành cho người Tàu: mua vé bên vệ đường, tưởng là vé thường đi Hoàng san (An huy), ai ngờ họ xí xô xí xào, mình không hiểu mô tê gì cả. Từ Hàng châu đi Hoàng san chỉ có 320 cây số, mà bác tài lết tới hơn 8 giờ, lý do là đường xấu, lại chật, hiểm trở, mà bác tài lại nổi tiếng về tiết kiệm xăng, mỗi lần tới đầu dốc là bác tắt máy rồi cho đổ dốc, hết dốc lại ì ạch leo lên. May sao, lúc viếng một ngôi chùa, chúng tôi gặp một sinh viên Nhựt theo học tiếng Tàu một năm ở Bắc kinh, nay mãn khóa anh dẫn ông thân đi một vòng nước Tàu. Lòng tốt của anh thật hiếm có, anh ta bỏ đám bạn, cùng theo xe chúng tôi về khách sạn để đặt phòng, chỉ dẫn các nơi phải xem, giờ giấc hẹn hò với đoàn, rồi trở về khách sạn của anh để ăn cơm với ông thân, xong trở lại khách sạn chúng tôi ở.
Sáng hôm sau, chúng tôi đang ở lưng chừng núi (đoạn trên cable car) thì lại thấy anh ta hì hục dẫn ông già leo lên, mặc dù hôm trước hai cha con đã leo lên rồi. Anh ta nói dối với ông già là đánh mất địa chỉ, lên xin lại với mục đích là hướng dẫn tụi này tường tận qua các đỉnh của Hoàng san. Cao 2100 thước, Hoàng san không thuộc bốn ngọn núi linh thiêng của Trung quốc là Nga mi sơn (Eimeshan), Phổ đà sơn (Puthuoshan), Vũ đại sơn (Wutaishan), và Cửu hoa sơn (Jiuhashan), nhưng nổi tiếng đẹp nhất Trung quốc, và có thể đẹp nhất thế giới. Các ngọn trọc cao sừng sững lơ lửng giữa làn mây như những đảo trôi giạt giữa Thiên thai, những cành tùng vặn vẹo cả trăm tuổi từ trong hốc núi cheo leo mọc xiên ra. Nhiều cặp nhân tình trẻ mang những khóa có khắc tên họ của mình lên đây xích lại thành một sợi dài lê thê, như vậy mối tình của họ sẽ trăm năm bền vững.
Sáng 5 giờ, thiên hạ đập cửa kêu nhau dậy đi xem mặt trời mọc ở Bắc hải. Hình bóng các ngọn núi hùng vĩ vượt thẳng lên nền trời, tô điểm bởi các cành tùng in lên bầu trời mờ ảo, mặt trời từ từ nhô lên giữa đám mây làm người xem có cảm tưởng như đang ở cõi non bồng nước nhược. Những gì thấy trong tranh thủy mạc là có trong hiện thực. Nếu phải đi một lèo từ dưới thẳng lên thì không khó lắm, cái khó là ở chỗ lên tới một đỉnh lại phải tuột xuống mấy trăm bậc rồi ì ạch leo lên mấy trăm bậc cho đỉnh kế tiếp. Cả mấy ngàn bậc thang gồm những viên đá ngang cỡ 2 thước, được sắp xếp ngay hàng thẳng lối, trên đường cứ một trăm thước lại có giỏ rác, một người phụ trách quét dọn. Cả một đạo quân hốt rác để khắc lại đạo quân du khách xả rác, bù lại 10 US$ vô cửa và 10 US$ đi cable car.
Quang minh đỉnh (Pic of Clearness), nơi Minh giáo quần họp bầu Trương Vô Kî làm giáo chủ, chỉ là ngọn núi cao nhất, hình bầu trơ trọi hiện là đài phát tuyến địa phương. Phải mất 7 giờ để xuống, mỏi bắp đùi hơn cả lúc đi lên. Đi lên khó khăn như vậy mà nhiều nhân công kiệu mấy người già, họ phải gánh từng 6 viên gạch lốc (bloc), từng 15 kí lô cát, thức ăn, ngay cả máy diesel, lên tận đỉnh. Họ đã phải hò hát lấy lại sức, đi chừng 15, 20 bậc lại ngừng lại để nghỉ lấy sức. Đó cũng là lý do để các khách sạn ở đây lấy gấp đôi giá dưới đồng bằng.
Nói là để tránh di chuyển ngày 13, chúng tôi ở lại Hàng châu thêm một ngày. Ngày 14 thay vì đi Tô châu (Suzhou) bằng thuyền mất 12 tiếng, tụi tôi đi xe lửa qua ngã Thượng hải chỉ mất hơn 4 tiếng. Đến nhà ga Tô châu, bà xã tôi kéo va li không nổi. Bỗng có một kỹ sư Tàu nói được tiếng Anh, làm quen kéo giùm. Thấy bọn tắc xi đeo quá, ông nạt đùa, rồi hướng dẫn tụi tôi về khách sạn, lại hẹn đến thăm Vô tích (Wuxi) cách đó 80 cây số. Tô châu nổi tiếng về tơ lụa và các vườn hoa. Tơ lụa thì bà xã tôi ham mua chất đầy va li làm tôi vác khờ luôn. Vườn hoa có đặc điểm là họ phối hợp đá, hồ sen, thủy tạ, so với Nhật thì Trung hoa rất cầu kỳ, lấy màu đỏ làm màu chính. Quay phim các kinh rạch đẹp hơn Venise nhờ các cầu vồng, ghe thuyền qua lại, các bờ đá cũ kỹ; nhưng trong thực tế thì không có gì thơ mộng vì nước ở đây bị ô nhiễm nặng. Giang nam là huyết mạch của nền thương mại của Trung quốc từ ngàn xưa nên ngày nay vẫn còn lại dấu vết của thời xưa. Ngoài Thượng hải và Bắc kinh, Tô châu đứng đầu về tầm vóc các cửa hàng bách hóa (department store): lớn gấp rưỡi Lafayette, bằng Macy's ở New York, nhưng ở đây nhiều chủ, mỗi chủ bán một loại hàng, hoặc một hiệu.
Ngày 15 tháng 9, 1996: trong thơ bằng tiếng Tàu, ông Vương dặn tài xế đưa ra highway bus (trạm xe buýt đường xa). Vì không có highway bus, anh ta lại tưởng bảo đưa ra highway, làm tôi phải rát cả họng mới trở lại được bến xe đò thường. Vô tích (có nghĩa là "no silk", để đối lại Giang nam có nhiều "silk") có một cái hồ mênh mông, muốn ra đảo phải đi bằng thuyền, trên đảo có đền chùa, tượng thần linh cao 50 thước. Các thành phố lớn như Vô tích, Thượng hải, cứ cách vài lốc lại có một bin đinh xây cất ngày và đêm. Tưởng tượng với nhịp độ đó không bao lâu nữa thành phố nào cũng đầy khách sạn và cửa hàng lớn.
Ngày 17 tháng 9, chúng tôi rời Tô châu đi Thượng hải, một tiếng rưỡi. Hệ thống xe lửa Trung quốc có nhiều cái kỳ cục. Khách sạn ăn chịu với xe lửa, phải ở khách sạn mới nhờ họ mua vé xe cọng thêm 10 Yuan. Nhược bằng sắp hàng ở nhà ga thì chỉ nhận được hai tiếng "Mèi Yòu" (không có), nếu không thì phải chấp nhận vé ngồi cứng: bị khạc nhổ như mưa bấc. Đã vậy lại không được giữ vé trước cho chặng kế tiếp. Do đó phải đến Thượng hải, ở khách sạn rồi mới nhờ họ mua vé về Bắc kinh. Trên xe, 4 người lạ hoắc, gặp nhau ráp lại là họ gầy sòng đánh một loại bài gần giống như xập xám, đánh ăn chơi nhưng vui như quen nhau từ lâu đời. Thế là tôi quen được một business man, làm cho một công ty xuất nhập cảng ở Vô tích, đi Thượng hải họp. Anh chàng khệ nệ khiêng va li gởi tủ khóa (luggage locker) rồi lại khách sạn Longmen ở kế bên định mướn phòng rồi nhờ mua vé xe. Ai ngờ ở đây là khách sạn quốc tế nên có quầy bán vé xe y như trong ga. Mua vé xe được, nên tụi tôi chỉ ở lại cho tới tối. Anh chàng hướng dẫn tụi tôi ra Đại lộ Thừa lương (The Bund Ave-nue) xem phố Thượng hải đến tối mới lên xe lửa về Bắc kinh.
Thượng hải - Bắc kinh: 1100 cây số, 18 tiếng.
Ngày 18 tháng 9, chúng tôi từ khu đại học Hải định (Haidian) đến đền Lạt ma, đến những 4 tiếng, xem một tiếng, về 3 tiếng. Giống như Cấm thành nhưng tầm vóc nhỏ hơn, đền Lạt ma từ ngoài vào tới trong cứ qua một lớp cổng lại tới một cái đền trong có nhiều tượng Phật và sư Tây tạng.
Sáng ngày 21 tháng 9 đi xem Lâu đài Mùa hạ cũ (Yuanmingyuan - Nguyên minh viên), vào cửa là gặp ngay các tượng giả như người thiệt giống Thúc Sinh, Thúy Kiều. Bà xã tôi bèn giả làm tỳ nữ hầu Thúc Sinh. Phía sau là một cái hồ lớn đầy thuyền buồm, nhiều liễu, tùng, và các cầu vồng tô điểm cho vườn hoa.
Nằm trên đồi cao phía sau Cấm thành, Bạch tháp (White Pagoda) là một tháp trắng to khoảng 10 thước đường kính, tháp nhìn xuống hồ, chung quanh có nhiều đền và bức tường nổi tiếng có 9 con rồng.
Bản chất của người Tàu là hòa đồng và xuề xòa. Một hành khách bị một tên đồ tể trên kệ rớt xuống thiếu điều trặc cả cổ mà người bị thương chỉ lấy tay xoa xoa rồi cười thôi. Rất dễ làm bạn và có óc của người buôn bán, đồng thời không sạch lắm, đồ đạc để ngổn ngang, không trật tự, hay chen lấn. Bạn đừng lấy làm lạ là mình đang tới phiên sắp mua vé thì bỗng đâu một chàng hộ pháp nhảy bổ vào lưng mình chìa tiền mua vé và người bán vé cũng bình tĩnh bán luôn. Họ là những người khề khà nhất thế giới, vui cười bất kể giờ giấc. 10 giờ đêm vào tiệm chạp phô gõ cửa xin điện thoại mướn, bà chủ không ngớt "qỉng nị, qỉng nị" (xin mời, xin mời).
Ngoài đường bao nhiêu người bình thản đạp những chiếc xe cọc cạch, trên xe buýt họ trò chuyện như bắp rang dù cho xe chật như nêm. Trong khách sạn, mỗi tầng có một cô gác thường trực để vui vẻ tiếp khách, mở cửa phòng, phục vụ nước uống ... Trong tiệm ăn tôi có dịp quan sát mấy cô hầu bàn, họ vui vẻ làm tất cả mọi chuyện không bao giờ sanh nạnh so bì: lấy thực đơn, phục vụ, lau nhà, thay nắp bàn, giặt khăn ăn ... Toàn người trẻ, hơi lớn tuổi là hưu trí non, ở nhà coi chừng cháu cưng.
Những nhận xét trên làm tôi suy nghĩ những đức tính mà người Tàu hiện có xuất phát từ dân tộc Hán, hay do những biến cố chính trị (như Bước nhảy vọt, Cách mạng văn hóa, Thiên an môn, ...) đã nhào nắn, cho họ trải qua bao đau khổ, sống lây lất trong đau khổ hay làm rất nhiều mà không lãnh được bao nhiêu. Bây giờ kiếm được chút việc, có đồng ra vô (dù rất khiêm nhường), nhưng họ vẫn thấy hạnh phúc mặc dù công việc nhọc nhằn. Buôn bán phải trả giá, dù là buôn lẻ nhưng số đông rất lương thiện, họ trả lại ngay dù dư chỉ một "jiào" (0,01 US$). Tôi đã từng trả tiền bằng cách móc cả bụm tiền để họ chọn mà không lần nào thấy lố. Những biện pháp răn đe như xử bắn tại chỗ ăn cướp, bắt đeo bản án nếu là ăn cắp vặt đã làm cho thành phố an toàn thật sự. Đi ngoài đường không hề nơm nớp bị giựt dọc, mấy cô gái mười mấy tuổi tỉnh bơ dạo mát ban đêm, không hề biết du đãng cao bồi là gì. Mong sao họ vẫn giữ mãi những đức tính đó.
Sống ở trời Âu, ta có cảm tưởng an toàn vì có cảnh sát, lưu thông trật tự nhờ đèn xanh đỏ, nhưng đời sống luôn luôn bị thúc đẩy vì công việc (stress), nơm nớp lo sợ mất việc, lo sợ trộm cướp giết người. Ta đã có nhiều ưu phiền trong cái vỏ an ninh đó. Ở Trung quốc, bề ngoài như thiếu an toàn, như hỗn độn trong nhà cửa, lưu thông loạn xà ngầu, chen lấn chỗ đông người, nhưng người dân sống thư thả, lương thiện và hiền hòa, không lo trộm cướp. Họ thực sự an bần lạc đạo trong một khung cảnh hỗn độn khó tả.
Ở Bắc kinh có xe điện ngầm (subway), có xe điện chạy bằng bánh cao su (tramway), một loại xe buýt lớn luôn luôn đầy ắp do toàn đàn bà lái, và một loại xe buýt nhỏ (minibus) 16 chỗ ngồi, thường có một phụ lơ đứng bán vé và đón khách. Chúng tôi thường sử dụng ngôn ngữ của mấy người câm để đi đường: muốn di chuyển trong thành phố tụi tôi chỉ địa điểm muốn đến trong bản đồ thành phố, nếu phụ lơ gật đầu là tụi tôi leo lẹ lên được. Đến nơi, chị ta ra dấu là tụi tôi ngoan ngoản tuột xuống ngay.
Phải mất hai tiếng để dành chỗ xem đoàn nhào lộn Bắc kinh, khách ngoại quốc bị chém 8 US$ nhưng được ưu tiên ngồi các hàng ghế giữa. Đoàn gồm toàn trẻ con 10-17 tuổi, xuất sắc trong các màn dẻo dai và nhào lộn.
Nhiều chuyện lạ xảy ra lúc ra phi trường: không có màn khám đồ cổ, hành lý không hề bị cân lường, nhưng bị mất cả tiếng vì thủ tục rườm rà xuất cảnh, máy bay bay trễ cả tiếng. Về đến Frankfurt sau 9 giờ rưỡi bay, đến Bruxelles sau 35 phút bay.
Đây là cuộc hành trình mà vợ chồng tôi mơ ước từ lâu, nhiều bạn bè tưởng như không thực hiện được. Trên đường dong ruổi, tụi tôi còn nhận được tin vui các con ở nhà thi đậu ra trường. Có lẽ nhờ may mắn nên đến mỗi nơi đều gặp "quới nhơn" giúp đỡ, hay nhờ lòng tốt của cả một dân tộc hiếu khách. Chỉ biết rằng khi trở về quê hương thứ hai của mình, nhìn qua khung cửa kính máy bay thấy mưa phùn lất phất bay lạnh lẽo ảm đạm, chúng tôi lại luyến tiếc nắng ấm của Bắc kinh, ngọn núi Hoàng san có mây bay lơ lửng ngang đồi, hồ Tây với liễu rũ la đà, Quế lâm có mặt nước xanh biếc của Lý giang, và nhớ mãi đến người dân chất phác cần cù của Trung quốc.

Boncelles, Trung Thu 1996
Thủy Trường