VIẾNG ÚC CHÂU
Bài của Phạm Hữu Bình
Thơ gởi anh Nguyễn Đăng Thi,

Úc châu đấõt rộng người thưa,
Thiên đàng hạ giới, không thừa lời khen.

Hè 1997 tôi viếng Úc châu. Tìm cách liên lạc với anh, nhưng thơ không trả lời, điện thoại không đáp. Tôi mượn trang bản tin THĐL nầy kể cho anh nghe về cái xứ Úc của anh. Tôi viếng Úc trong ba tuần lễ. Tôi thấy lắm chuyện ngộ nghĩnh, cảnh vật tràn trề, tâm tình chứa chan. Nói là hè chớ thật ra là đông ở xứ Úc. Đông ở đây (+8 độ C) chưa thấm thía gì với đông ở Ba lê, mà lại còn tràn ngập ánh nắng ban mai. Khi anh biết được cảnh trời âm u ướt át mùa đông Paris, thì anh mới thưởng thức được bầu trời quang đãng sáng rực ánh thái dương của mùa đông Sydney! Mặt trời tuy không tốn tiền, nhưng ông Trời đâu có chia phần đồng đều cho mọi người! (Cho nên nếu anh có bị hiếp đáp, xin đừng kêu ông Trời bất công!)
Sau khi đến Sydney, tôi (cùng với người nhà) khởi hành đi viếng miền nam nước Úc. Đi bằng Toyota Tarago 8 chỗ ngồi. Ngang qua Canberra bận đi, tôi ngủ đêm tại một Caravan Park. Thoạt tiên, tôi nghĩ là đất cắm trại. Ở Pháp, tôi vẫn đi cắm trại. Nhưng Caravan Park ở Úc là chuyện khác: nhà vách bằng cây, có cửa, kín gió kín mưa, chớ đâu phải cần câu căng lên lều vải, có khả năng chứa đến bảy người. (Vì họ hàng nhiều năm chưa gặp nên chúng tôi cần ở chung để hàn huyên nhiều). Bảy người một đêm mà họ chỉ lấy có 75 AUS$ thôi, kể cả giường nệm chén bát muỗng nỉa bếp núc đèn khí nước. Đó là một ngạc nhiên lý thú!
Đêm hôm sau bọn tôi ở nhà anh HVThiết. Tìm nhà anh Thiết chưa ra thì gặp một cảnh chùa. Lạ quá, ở cái xứ convicts của Nữ Hoàng Victoria mà lại có chùa Phật. Lại còn có sư VN trụ trì! Nghe sư nói Phật, tôi nghĩ ông nầy là thứ thiệt chớ không phải sư quốc doanh. Bạo mồm tôi hỏi sư làm sao mà sư trôi giạt về đây? Sư đáp: vượt biên! (Tôi chưa quy y nên cứ gọi là sư vì không rành pháp danh ngôi thứ). Thỏa mãn với câu trả lời, tôi cúng dường và xin thỉnh kinh.
Melbourne là chặng kế tiếp. Hume highway đi từ Canberra đến Melbourne 800km. Tôi tưởng là xa lộ thứ thiệt, vì cũng có hai lanes láng cóùng mỗi bên, cũng có dãy đất giữa, nhưng mà chưa phải xa lộ theo định nghĩa công chánh: thỉnh thoảng có ngã tư, rest area chẳng có quán cóc gì ráo, phải rest bên gốc cây, trạm xăng thì biệt mù thăm thẳm, có lần tôi lên ruột vì ỷ y còn nửa bầu xăng! Người ta đã nói highway cơ mà, ai bảo cứ nhầm lẫn với freeway! Xứ Úc cho chạy có 110km/h thôi cho nên 800km có hơi lâu. Chúng tôi có dừng chân tại một thành phố lẻ. Thành phố nầy rất là xinh xắn, có quán McDonald, có quán KFC, có xác tàu lặn giữa đất liền, có cửa hàng cất từ năm 1802, năm mà bên ta vua Gia Long lên ngôi, Pháp chưa vào Nam kỳ Lục tỉnh.
Đến Melbourne tôi được đi chợ Footscray. Ở đây toàn là tóc đen. Nghe kỹ, họ nói tiếng của mình. Ô vui thay, họ nói tiếng VN! Ở xứ Pháp tôi đâu có cái chợ như vậy. Kể ra chợ nầy to thật, có khi to hơn chợ Đa kao của tôi hồi trước. Bước quanh một khu phố, nhìn qua nhà chợ bên kia đường, tôi đọc được một hàng chữ to FM FM FM FM chạm trổ bằng xi măng trên thành chợ. Tôi giựt mình : Ở đây người ta bán súng kia kìa ! Cốt tôi có bốn năm quân ngũ cho nên chữ FM đối với tôi là súng liên thanh! Rất đỗi sửng sốt, tôi quan sát một hồi mới nghĩ ra: Footscray Market! Ôi, cái bức màn vô minh của tôi sao mà nó dầy cộm quá!
Chưa hết ngạc nhiên! Đi vào trong lòng chợ FM tôi thấy hàng rau cải trái cây sao mà nhiều quá. Tôi nghĩ: quân ngũ nào ăn cho hết. Toàn là rau tươi nhiệt đới quê nhà. Không thấy một cọng rau héo. Tôi vẫn chưa hiểu họ vất rau héo đi đâu cho hết mỗi ngày! Ngạc nhiên nầy chưa đáng kể bằng hàng thịt: người đứng cầm dao lẻo thịt ở đây là một cô bán hàng. Cho tới hôm nay tôi chỉ biết có tên đồ tề hung bạo chớ có bao giờ đàn bà con gái ai mà đi chặt thịt bò thịt heo. Các cô lại mặt áo choàng đồng phục đỏ trông rất là xinh đẹp. Họ chính là cô gái VN. Tôi chụp một tấm hình làm kỷ niệm vì đàn bà VN dám làm đủ nghề. Tôi phục thật!
Tối về Melbourne, tôi được dịp hàn huyên với các THĐL ở đây tại nhà anh Ngọc. Thật ra chỉ có hai người: Anh chị Nguyễn Thạch Ngọc và Anh Chị Nguyễn Thị Kiêm Loan. Nhà anh Ngọc to thật, làm tôi láng mắt. Nhưng sự có mặt của chị Loan (và cả anh nữa) làm cho tôi mừng rỡ hơn vì tình thắm thiết THĐL hải ngoại. Tôi biết chị Loan ở một thời điểm xa và thời gian ngắn. Vậy mà tôi không bị lờ đi khi chị biết tôi đến quê chị. Mong sao mọi THĐL các nơi được như vậy! Còn một chị nữa cứ vắng nhà như là chim nhạn. Điện thoại đến nhà thì đầu dây lại đáp bằng tiếng VN: ở đây không có ai tên là Song Hương.
Tiếp tục hành trình, tôi viếng bờ biển miền nam nước Úc. Có khi qua rừng khuynh diệp, có khi qua rừng thông tựa như rừng Blao. Kaola rừng không thấy, chỉ thấy Kangaroo cà thọt qua đường bạt mạng. Bờ biển nam Úc có phần ngoắt ngoéo, nhìn ra Nam băng dương cảnh trí đẹp thật, đáng một chuyến đi. Tôi đến một địa danh tên là "Mười hai sứ đồ" (Twelve Apostles). Đó là những hòn đá đỏ do ông Tạo điêu khắc trồng giữa bờ biển. Thấy sóng nước thủy triều vỗ về hòn đá, tôi lại nghĩ tới quê nhà đã mất:
Đá đỏ hao mòn theo sóng nước
Vạn vật rồi ra phải chuyển mình
Huống chi một nước linh đinh
Vô minh ngu muội tưởng mình diên niên
Khi rời 12 sứ đồ, thì trời cũng vừa sụp tối. Lần theo ven biển chúng tôi đi kiếm Caravan Park. Nhưng ở đây chỉ có vách đá! Đi đêm đến nhừ người mới gặp được một motel giữa triền núi. Ngã người ra khỏe quá!
Đã đến lúc phải quay đầu về. Chúng tôi tìm lối đi bằng phẳng hơn. Phía đồng bằng thì toàn là cánh đồng bát ngát. Miền nam VN có câu: ruộng cò bay thẳng cánh. Miền nam Úc châu, phải nói: ruộng cò bay mỏi cánh. Phong cảnh như trong phim Dallas JR, với trang trại rộng lớn, hàng rào sơn trắng, nhà này tiếp đến nhà kế cận cách nhau cỡ một cây số đồng cỏ; mỗi trang trại đều có một đàn bò cỡ 100 con là ít, nhởn nhơ đêm ngày trong sương gió. Ở đây người ta không nuôi bò trong chuồng. Xin nói thêm là miếng bò tái trong tô phở Bankstown ngon đáo để, hơn hẳn Little Saigon. Các THĐL Cali không tin thì cứ kéo nhau về họp ở Sydney một phen sẽ biết. Anh Úc Chị Úc sẽ mừng lắm đó!
Trên đường về, tôi ghé lại Canberra vì trên chuyến đi anh HVThiết vắng nhà bận đi họp THĐL 1997 ở Cali. Gặp được cả nhà, vui mừng lắm. Anh Thiết đưa chúng tôi đi xem những nơi tôi chưa biết của thành phố. Đúng là thổ địa mới biết hết như vậy. Anh Thiết là một trường hợp vượt biên thành công đáng được ghi vào Readers Digest. Xin anh Thiết cho phép tôi kể cuộc đời lập nghiệp của anh. Khi đến Úc anh Thiết bắt đầu làm việc cho một nhà thầu tư. Lương bổng không cao vì bị coi như không có văn bằng. Cách chọn người làm công ở Úc có chỗ đáng chê: Bằng cấp Úc thì chẳng bằng ai mà phải có văn bằng Úc thì mới được xét đơn. Pharmacie ở Úc học 3 năm + 1 năm bán hàng. (Pháp 5 năm + thèse). Anh Thiết cố công học thêm ban tối. Có được mảnh bằng, anh được nể hơn. Ít lâu sau anh được Cty Điện Nước Úc thâu nhận với hàng kỹ sư. Trong 10 năm tại chức anh được cất nhắc liên tiếp. Khi trưởng sở về hưu, anh lên ngồi ghế trưởng sở thiết kế!!! Một kỹ sư VN vừa ngoài 50, ít thâm niên, Á châu, thay thế một trưởng sở Úc tới tuổi về hưu, xin khen anh một tiếng và xin anh cho bạn bè Bà Quẹo và THĐL được miếng thơm lây. Chưa hết! Trong thời gian đó anh chị Thiết có quen một người khác. Vợ chồng anh Thiết (góp phần hùn nhỏ) và nhóm người kia bày ra lập tiệm bánh mì. Một tiệm bánh mì sinh ra hai tiệm bánh mì, rồi sinh ba tiệm bánh mì, rồi sinh bốn tiệm bánh mì, rồi năm tiệm, rồi sáu tiệm, rồi ..., rồi ... Hôm tôi gặp anh, anh đang "thiết kế" tiệm thứ chín!!! Con người giản dị, anh Thiết kể tiếp: "Kiếm nhiều tiền làm chi cho mệt. Cho nên tôi đã xin thôi Cty Điện Nước Úc và có lẽ 9 tiệm cũng đủ rồi. Bây giờ tôi thong thả lắm." Triết lý nầy của anh Thiết rất đúng ý tôi. (Nhưng về tiền nong, tôi thua xa anh Thiết) :
Tiền nong nhân thế bao là đủ.
Hạnh phúc trần gian đếm đủ thì mua.
Tôi trở về Sydney và sau đó đi viếng Gold Coast. Gold Coast là một địa danh của Úc có thể nói là dành cho du khách; thành phố lớn gần đó là Brisbane. Thân tôi chỉ biết có vài bờ biển thôi như là: VN, Pháp, Togo, Cali, Bali. Nhưng bờ biển Gold Coast thật không hổ danh là biển vàng với hạt cát nhuyễn mịn đặc biệt. Về mặt thiết kế đô thị, và giữ gìn sạch sẽ tiện nghi bờ biển, phải công nhận các ông thị trưởng cai trị ở đây có trí khôn và chu đáo. Ở đây có những trung tâm thương mại đồ sộ như Paradise Center, Pacific Fair. Đã đến một lần thì lại muốn trở lại lần nữa ! Nơi đây rất lý tưởng cho những ai có ngày rộng tháng dài đi thuê một holiday apartment nghỉ mát trọn một mùa xuân. Trời thì không nóng mà cũng chẳng lạnh. Giá sinh hoạt ở đây chỉ có bằng nửa giá sinh hoạt tại Pháp! Người Nhật và xe Nhật rất nhiều. Cao ốc loại vài chục tầng đang xây cất tôi đếm ra được ba cái. Nếu anh Thi ít tiền, anh nên đặt mua một holiday apartment ở đây, lời chắc chắn hơn là chơi stocks! Nếu Trời còn thương, tôi sẽ đi tìm hai mùa xuân trong một năm, anh Thi có tái xuất giang hồ để tiếp tôi không?
Gold Coast thuộc tiểu bang Queensland (Queensland lớn hơn Tây Âu). Đặc biệt ở Queensland có đủ loại trái cây VN như là thơm, mía, mít, bưởi, xoài, sầu riêng, chôm chôm, mãng cầu, măng cụt, v... v... phẩm chất lại ngon ngọt hơn. Có cả gừng và nhà máy làm kẹo gừng! Xứ VN mà cứ tự mãn về thành tích và cây cối của mình, có ngày con cháu mình không còn thị trường xuất cảng vì đất Queensland phì nhiêu rộng lớn mưa nhiều nắng ấm, trồng trọt qui mô khoa học.
Thành phố Brisbane rất gần Gold Coast. Gần là 100km theo tiêu chuẩn Úc. (Diện tích xứ Úc: 7.700.000km2, VN: 330.000 km2, Pháp: 550.000 km2, Anh: 230.000 km2, Ấn độ: 3.300.000 km2, Trung Hoa lục địa: 9.500.000 km2, USA: 9.400.000 km2). Cho nên tôi được anh Đặng Ngọc Hùng rước về nhà một tối. Nhà anh Hùng cất trên một ngọn đồi xinh xắn, kiểu nhà vẽ theo ý riêng. Nếu ở VN, chắc anh Hùng không có được một biệt thự như vầy. Các THĐL ở Brisbane dành cho tôi một bữa cơm tối hàn huyên ấm cúng, gồm có: Đặng Vũ Thám, Trần Văn Trực, Âu Dương Duy (Đơn dương). Ở đây, tôi được biết anh Thi được khỏe mạnh và đang làm việc tại nhà đèn Gladstone Power Station.
Trở lại Sydney tôi tìm gặp THĐL . Ở đây tôi gặp lại bạn cũ khác :
Bên lề vạn phúc, bên lề hàn huyên (Kiều)
Tôi gặp được anh Trần Bá Lân, bạn học cũ và làm quen với chị Trần Bá Lân. Tôi phục chị Lân thật. Xin chị cho tôi kể về việc làm của chị: chủ hãng, giám đốc ("dám" đốc bạn tôi dời hãng trong một đêm!), thợ vẽ kiểu, thợ đứng máy, lái hàng. Chị có một sợi dây chuyền, dây chuyền chị có mười khâu, mỗi khâu là một người thợ. Chị sản xuất tủ và bồn rửa mặt rất tân tiến mà Home Warehouse bán lẻ giá 340 AUS$ một chiếc! Đây là một trường hợp một người VN vượt biên tị nạn thành công, bước đầu rửa chén nước lạnh, nay trở thành kỹ nghệ gia. Chị đáng lưu danh cho con cháu. Trường hợp chị Lân, anh Thiết là vài ví dụ nổi. Còn có các trường hợp chìm như nhà đẻ ra nhà, kể thêm thành ra lạc đề. Úc châu là một mảnh đất lành cho đàn chim VIệt.
Tôi gặp được anh Võ Cổn. Ngày xưa, tội lỗi xúi dại đàn em trong đó có tôi. Nay TĐThơm mất rồi, còn lại TKhiết và tôi. Thấy anh sinh sống ngon lành (điện nhà, điện lạnh), tôi mừng cho anh lắm lắm. Tuy nhiên bề gia thất tôi thấy anh không vui:
Con non tay bế tay bồng
Ba con một tía, nó trông mẹ về.
Tôi cũng gặp được anh Nguyễn Tấn Đạt. Anh Đạt và tôi cùng vào đời ở Biến Điện Thủ Đức 1963. Anh Đạt bây giờ là "DAINAM Mobile Automotive Repairs, motor mechanic licence 097238, handyman, all work guaranteed Phone: 02 9728 4575 Mobile phone 0414 961396", sống ngon lành.
Tôi còn cái hân hạnh được các anh chị khác ở Sydney dành cho một buổi mini THĐL tại nhà anh Nguyễn Hoàng Thu, gồm có (ngoài NHThu): Trần Đan Thanh, Nguyễn Văn Bạch, Võ Cổn, Nguyễn Tấn Đạt, Trần Bá Lân, Đào Kim Quan, Trần Duy Thành (Trà nóc). Có thêm anh Huỳnh Văn Thiết từ Canberra lên tham gia. Những kỷ niệm đáng kể ngày trước được nhắc lại rất là lý thú.
Thành phố Sydney văn minh không kém bất cứ một thành phố Âu châu nào. Ở đây có đủ cả: sòng bạc casino (cho ăn trưa không phải trả tiền), nhà chọc trời, Bay bridge, Opera house, công trường thế vận hội năm 2000, chợ trời Flemington, chợ VN Bankstown, chợ VN Cabramatta (chợ nầy làm cho tai tiếng cộng đồng VN vì băng đảng giết người giựt ví giữa ban ngày). Tôi ngạc nhiên một chuyện khác: một thành phố công nghiệp to như vậy mà tôi không thấy cái lớp người
   Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da (Cung Oán)
Ở các thành phố lớn khác, lớp người bị đào thải này đều có dư thừa. Ở Pháp họ là clochards, sans domicile fixe, mới ra tù, người xin tiền trong métro, mất nhà, thất nghiệp (mất sở làm, hết hạn trợ cấp, thanh niên chưa tìm ra việc làm đầu tiên, v. v...). Hỏi ra mới biết ở Úc châu không có lớp người khốn khổ nầy. Ở đây, bất cứ ai cũng có quyền xin trợ cấp an sinh. Và họ được cho 170 AUS$ (1997) mỗi tuần mỗi đầu người. Hai vợ chồng thất nghiệp được gíúp đỡ cho 1400 AUS$ một tháng. Với 1400 AUS$, anh chị ta có đủ tiền để thuê nhà ở, ăn, mặc, đổ xăng xe hơi, v. v... Anh chị ta có thể khai là không tìm ra được việc làm rồi cứ xin trợ cấp như vậy năm này sang năm khác, hằng chục năm cũng chẳng ai trách cứ rầy rà!!! Trợ cấp an sinh không giới hạn thời gian!!!
Chưa hết: bệnh hoạn thuốc men chỉ trả có 2 AUS$ một toa thuốc. Bác sĩ, nhà nước cho không. Hối suất là 1 AUS$ = 4.8 FRF, 1 AUS$ = 0.8 US$. 1400AUS$ tương đương với 6720FRF (1120US$) nhiều hơn lương tối thiểu ở Pháp là 5700FRF một tháng. Ở Pháp giá sinh hoạt mắc gấp đôi. Một người công nhân hạng thấp ở Pháp phải nuôi trọn gia đình ăn, ở, con cái đi học. So sánh như vậy để cho anh Thi thấy là anh đang sống trong một xứ không có người nghèo! Xứ Úc chính là cái thiên đàng mộng mơ của những công nông nghèo khốn! Anh Thi có biết anh đang sống trong một vườn địa đàng không? Cũng chỉ vì cái thiên đàng ảo ảnh nầy (nhưng có thật tại Úc) mà cả một tầng lớp người bị gạt gẫm, bị đẩy vào lò sát sanh nướng trọn, mà kết quả chẳng thấy đâu, chỉ thấy vài người bỏ túi dollars!!!
Trên đây tôi vừa kể cho anh Thi nghe cảnh vật tràn trề. Tôi muốn kể tiếp cho anh nghe tâm tình chứa chan. Nơi thứ nhất là quốc hội tại Canberra. Tại đây tôi cầm được một tờ giấy xếp làm tư, hình màu, tựa là "HẠ VIỆN", chữ to. Tài liệu nầy của quốc hội in để phát cho quần chúng. Đặc điểm làm cho tôi cảm động là tài liệu viết bằng chữ quốc ngữ! Thế là tiếng mẹ đẻ của tôi là một ngôn ngữ được quốc hội Úc nhìn nhận. Một niềm hân hoan tuôn trào trong tâm tư tôi. Ở đây nói tiếng VN không gì trở ngại. Nghe đâu có một đại biểu người VN trong Hạ nghị viện! Điều nầy làm cho tôi được thơm lây. Đứng trong tòa nhà quốc hội xứ anh, tôi cảm nhận hãnh diện là người VN. Nơi tôi sống trong 20 năm qua, dùng tiếng VN nơi đông người là một bất lịch sự. Bản chất người VN của tôi bị đè nén từ lâu nay, bỗng nhiên thức dậy! Các anh ở xứ Úc có quyền nói đây là quê hương tôi. Còn tôi chưa nói được câu nầy ở Noisiel!
Nơi thứ hai là đài tưởng niệm Úc tham chiến và nghĩa trang chiến sĩ Úc tử trận tại VN. Hai nơi khác nhau nhưng gần nhau. Đài tưởng niệm tham chiến (War Memorial) là một ngôi nhà đồ sộ trình bày các chiến tranh mà Úc có tham gia. Chiến tranh VN, Úc có tham gia nên có được một gian phòng xứng đáng. Chiến tranh VN đã qua, nhìn về phía đồng minh, di tích lịch sử là nơi đây. Đâu có chỗ nào khác trên thế giới chiến tranh VN được lưu lại cho hậu thế một cách hiển hách như vậy. Xem mô hình hang du kích, tôi nghĩ tới số phận một lớp người ngây thơ lý tưởng, tự thiêu trong chiến trường, để rồi nếu còn sống sót, (trong đó có họ hàng tôi), ngày nay lại ấm ức vì trót đã bị gạt gẫm . Đối với tôi đã từng là chiến sĩ Việt nam Cọng hòa đương đầu với họ, giai đoạn chiến tranh này là một phần của cuộc đời mình. Đọc danh sách chiến sĩ hy sinh, tôi bùi ngùi cảm động. Có một lần, tôi thuộc thành phần đón tiếp một đoàn quân cơ giới Úc đặt chân lên đất liền sau nhiều ngày trên biển cả. Còn nghĩa trang chiến sĩ Úc tử trận tại VN thì có sáu chiến hữu đồng minh của tôi an nghỉ ngàn thu ở đây. Cái mộ bia ở đây hơi đặc biệt: một vách tường granito to lớn điêu khắc cảnh thả quân xuống mặt trận. Tôi nghĩ đến giai đoạn rã gánh miền Nam. Nhà thơ Phạm quang Ngọc, qua đài phát thanh SPS Sydney (giờ Việt ngữ) nói lên rất hay giai đoạn đó:
      Ván bài bãi biển vừa xong,
      Người chơi đã có tay trong tay ngoài.
      Tưởng rằng sẽ thắng canh bài,
      Nào ngờ cháy túi vì người sau lưng.
      Cũng cờ, cũng quạt tưng bừng,
      Cũng quan, cũng lính, cũng từng xông pha.
      Ngây thơ kém cỏi thật thà,
      Ngu đần, ấu trĩ, bây giờ lang thang.
      Một tên buông súng đầu hàng.
      Quần thần lơ láo tan hàng chia tay.
      Đàn con của mẹ lạc bầy,
      Đứa thì phiêu bạc xứ người kiếm ăn,
      Đúa thì tù tội trên ngàn,
      Đứa thì mất xác bỏ đàn con thơ.
      Thế là tan một giấc mơ,
      Đường gươm đã lệch, giấy tờ đã chung.
      Xa xăm cố quốc mịt mùng,
      Hàng đêm đổ lệ nỗi lòng tha nhân.
Phạm quang Ngọc là tác giả bài :
      Năm xưa tôi đến Hoa kỳ
      Lôi thôi luộm thuộm như đi ăn mày
      Công danh sự nghiệp trắng tay
      Cửa nhà không có, một bầy con thơ.
Trở về với hiện tại, sau hơn hai mươi năm, chuyện đời lại khác. Trong truyện Tam quốc, Khổng Minh nói: "Người chiến thắng thật sự là kẻ không ai biết đến." Người chiến thắng vô danh trong tấn tuồng quốc cộng có phải là anh không anh Thi? Đời là vô thường, bức tường còn phải đổ. Con người rồi ra phải chuyển kiếp. Giấy thông hành của anh hôm nay không phải là giấy thông hành năm xưa. Anh đi đứng dễ dàng hơn. Trước kia anh là sâu, nay anh là bướm. Cánh bướm Đăng Thi và các cánh bướm muôn màu khác trên đất Úc đang hưởng nhụy trong một Vườn Xuân Địa Đàng.

Phạm Hữu Bình
09/1997