Đôi Dòng Vĩnh Biệt "Cậu Uùt" Nhà Đèn Đà Lạt
(Kính tặng hương hồn anh Nguyễn Ngọc Uùt)
 Bài của Trần Công Phấn
Tay người trưởng nam rời nút bấm điện màu xanh của chiếc thang máy lò thiêu đưa "Cậu" về với cát bụi. Bên này cánh cửa vang lên bao tiếng khóc thương nghẹn ngào. Cọng nhang trên bàn thờ cuộn tròn như sự hồn thiêng cậu đã chứng giám trước khi từ giã trần gian trở về bên kia thế giới của cậu Uùt. Đến tiễn đưa cậu hôm nay, nhiều người đã nhắc lại những kỷ niệm thời cậu ở quê nhà, những tiếc thương ngậm ngùi cho một kiếp người nhân ái, quả cảm, độ lượng, bao dung trong gia tộc, với đám bạn bè!
Lý Khánh Hồng đã phát biểu "Cậu là bạn thiết của tất cả mọi người, kể cả đứa cháu ngoại! Tâm hồn cậu bình dị, khoan dung, cho nhiều, nhận ít, bên ngoài trông hơi lạnh nhạt, nhưng trong trái tim luôn rực lửa. Nói ít, hành động nhiều, hứa một, thực hành hai. Bản chất dè dặt tạo thêm danh dự và uy tín trong đời."
Tôi lặng nhìn những vòng hoa phúng điếu với bao nhiêu lời lẽ chân tình chúc cậu "vãng sanh cực lạc." Tôi cũng đã nhìn những giọt nước mắt chân tình từ bà con, bè bạn gần xa, các chị đến từ Pháp, Canada, các tiểu bang Hoa kỳ, và những điếu tang, thơ rất cảm động của ông Lý. Lời kể chuyện của Hồng, nhìn nhau đau xót.
Tôi sinh trưởng tại Đà lạt, khi thành niên đã nghe danh cậu vang vọng tại tỉnh nhà. Cậu là Giám đốc nhà máy thủy điện thành phố Đà lạt và tỉnh Tuyên đức (1). Tôi cũng được diện kiến đa số anh em nhân viên tại đó, đều nghe họ gọi bằng hai chữ thân thương "Cậu Út" thay vì Oâng Giám đốc, Oâng Chủ, hay thưa Chef. Cậu đã sống với họ chan chứa cảm tình, chăm sóc tận tụy gần gũi như một đại gia đình. Tinh thần trách nhiệm 24/24 giờ, một ngày phục vụ nhà máy không sơ sót, họ thường gọi cậu, khi có máy điện bị trục trặc, bằng cách chớp đèn một cái, dù ở nơi nào cậu cũng phải gọi về theo dõi sửa chữa ngay điện để phục vụ đồng bào. (Nhiệm vụ quản đốc nhà đèn được người Pháp bàn giao từ khoảng 1954).
Niềm vui của cậu Uùt là đem ánh sáng từ thôn quê đến thành thị, từ cao ốc đến công viên, từ đại lộ đến hẻm mòn, chan hòa cuộc sống nhờ ánh sáng vui tươi.
Họ muốn xưng hô cậu cũng bởi tiềm ẩn phong cách hào hoa khi cậu dạo xe "course", moto,  Traction, hay Mercedes, dạo qua đường cầu ông Đạo, thả dốc "Marechal Foch" để rồi trở về lại cầu bá hộ Chúc, trên đường Bà Triệu, nơi mà thân phụ còn để lại di tích trên mái lầu ngói cao cho dù cuộc thế trầm luân như sương mai tản mạn trên đồi cù.
Thế sự đã tạo bình dị với quan niệm hư vô trong tâm hồn cậu Uùt hòa đồng đại chúng . rồi . cũng tháng năm xa xưa ấy tôi được tham dự những cuộc vui tổ chức trong thành phố vào các dịp lễ như cuộc đua xe quanh co trở ngại, đua xe đạp, thể thao, quần vợt, v.v.  Câu lạc bộ thể thao Đà lạt do người Pháp bàn giao lại từ 1954, cậu là Chủ tịch và cũng là Trưởng ban tổ chức nhiều giải đấu Cao nguyên Trung Việt, năm 1960 cậu vô địch đôi nam giải này. Đến 1968 vì hoạt động kinh doanh Sài gòn nên đã bàn giao Câu lạc bộ lại cho tôi. Tôi học được nhiều kinh nghiệm tổ chức và lối sống đầy tình  cảm với anh em hội viên CLBTTĐ.
Cậu cũng tổ chức các hội JCI, LYON club, CLBTT, Lycée, Alliance F., cũng từ các nhóm hội ấy tôi đã kết bạn với Uùt, tuy kém tuổi hơn, tuy chưa phải đồng niên, chưa phải tri âm nhưng sớm thành tri kỷ, bởi nhiều tâm đồng ý hợp. Tôi đọc được những suy tư, trăn trở qua bao lần tâm sự về những phức tạp cuộc sống của thế hệ mai sau, cũng ghi được nhiều kỷ niệm riêng tư qua những ngày, đêm lái xe về miền Trung, ngược lên cao nguyên, vòng đèo Eo gió, Bảo lộc, đèo Rù rì.  Thời gian khai thác lâm sản xuất cảng, hai đứa sống với nhau như anh em một nhà, được học ở anh những đức tính khiêm tốn, tế nhị, sòng phẳng, và tự tin. Anh cố vấn kế toán lỗi lạc, tính tình rộng rãi. Không có sự công bằng với anh vì cho nhiều mà nhận ít, phần thiệt thòi bao giờ cũng thuộc về anh. Anh luôn tin ơn trên cho thì còn giữ được nên trái lại thì đành theo số phận. Khi có bạn bè nằm xuống anh thường bảo "Người đó đã vâng lệnh gọi và đã ra đi", giờ đến anh! Tôi thấy anh vẫn còn đâu đây qua những kỷ niệm có vui, có buồn.
30-4-1975 tôi nhận được mảnh giấy nhỏ ghi vội lời từ giã của anh bỏ quê hương ra đi vì cuộc đổi đời, mất nước.
Tháng 8 năm 1978 tôi vượt biên đến Thái lan, anh đã liên lạc với gia đình chúng tôi và dặn dò khai báo để anh bảo lãnh qua Mỹ.
Tháng 9-1978 chúng tôi đến Pháp vì tình người. Anh liên lạc trực tiếp và hướng dẫn chúng tôi về hồ sơ để được định cư nước thứ ba để có nhiều cơ hội cho các cháu hơn.
Tháng 2-1979 anh bảo lãnh và đón rước gia đình chúng tôi về San Francisco. Anh giữ ở lại nhà anh một tháng.
Thời gian một tháng tại đây, anh, chị, và các cháu Hằng, Phát, Thiện đã đãi ngộ chúng tôi rất ư chí tình, từ việc lo giấy tờ, hướng dẫn tham quan thắng cảnh khắp nơi, cho đến cố vấn các cháu học hành. Tôi xin ghi nhận mãi mãi tình nghĩa này và hương hồn anh phảng phất đâu đây, xin nhận lòng tri ân của tôi, hai chữ mà thuở sinh tiền anh luôn từ chối.
"Nhân sinh thất thập cổ lai hi" như CẬU ÚT nhà đèn thật cũng hiếm hoi! Sau buổi tiễn đưa Cậu về miền cực lạc, tôi băn khoăn trên đường dài ân nghĩa, vắng tri âm, tôi dừng lại bên đường viết đôi dòng vĩnh biệt với ít tâm sự ngắn ngủi cùng vài ba kỷ niệm xưa. Và cũng xin chia buồn cùng chị và các cháu Hằng, Phát, Tánh, Thiện, Chi.

Dạ Lý Thôn, ngày 13 tháng Mười, Chín Sáu.

Trần Công Phấn

Ghi chú của "tòa soạn" THĐL:
(1) "Cậu Uùt" làm Giám đốc Nhà đèn Đà lạt, từ xưa cho tới 1968. Nhà đèn Đà lạt, thuộc công ty tư nhân CEE của Pháp, chỉ có một nhà máy Diesel ở ngay trong thành phố Đà lạt, không có thủy điện, mà cũng không có nhà máy nào khác trong tỉnh Tuyên đức. Năm 1968, Cơ quan Quản trị Đặc nhượng, Điện lực Việt nam, tiếp thu toàn bộ cơ sở điện của công ty CEE tại Đà lạt, trong đó có nhà máy Diesel này, và lập ra "Trung tâm Điện lực Đà lạt." Trung tâm này cùng với Trung tâm Điện lực Tuyên đức trực thuộc Khu Điện lực Cao nguyên Trung phần. Cậu Uùt trở thành Trung tâm phó Trung tâm Điện lực Đà lạt.