Đại hội Họp mặt THĐL Hè 97 tại Nam Cali
Phát biểu của Thân hữu Đỗ Mậu Quỳnh, Trưởng Ban Tổ chức

 Kính thưa quý vị quan khách,
Kính thưa quý thân hữu và gia đình,

Thật là một vinh hạnh lớn cho gia đình Thân hữu Điện lực (THĐL) miền Nam Cali được đón tiếp các thân hữu và gia đình từ khắp nơi trên trái đất về đây tham dự Đại hội Họp mặt THĐL hè 1997. Xin thân ái gửi tới quý thân hữu lời chào mừng nồng nhiệt của Ban Tổ chức cũng như của toàn thể gia đình THĐL miền Nam Cali.

Kính thưa quý vị và quý thân hữu,
Thấm thoát 15 năm đã trôi qua kể từ ngày "thành lập" THĐL hải ngoại. "Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình!" Có những thân hữu đã vĩnh viễn ra đi, có những thân hữu mới đến với gia đình THĐL hải ngoại, có những thân hữu đã có được cuộc sống vững chắc, có những thân hữu còn đang xây dựng lại cuộc đời mới. Cuộc sống của chúng ta có khác nhau, chúng ta cư ngụ tại khắp nơi trên địa cầu, nhưng "cách mặt chẳng cách lòng" , tinh thầân thân ái, tương trợ, và đoàn kết của đại gia đình THĐL hải ngoại vẫn không bao giờ thay đổi, luôn luôn được xây dựng, củng cố, và phát triển, như quý vị đã thấy thể hiện trong đại hội họp mặt ngày hôm nay.
Trong tinh thần ấy, và để phù hợp với thời đại mới của thế kỷ 21, chúng tôi xin được mạo muội đề nghị trước đại hội mấy vấy đề cụ thể như sau:
1) Khuyến khích và kêu gọi phát triển sự thông tin liên lạc giữa các thân hữu  qua mạng lưới thông tin toàn cầu Internet và "điện thư" Email để chúng ta giúp đỡ nhau qua các vấn đề tìm người thân, công việc làm, gia đình, di chuyển, họp mặt, .
2) Thúc giục, khuyến khích, nâng đỡ các con em thuộc thế hệ THĐL đời thứ hai, ba, tích cực đóng góp, tham gia vào các sinh hoạt của THĐL, cũng như phát triển các truyền thống cao đẹp của dân tộc như lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ. Cụ thể như viết các bài vở, truyện ngắn, khảo cứu, tìm hiểu trên mọi địa hạt, nhất là lịch sử VN và kỹ thuật mới. Mở ra những kỳ thi trong các dịp lễ, Tết, hay đại hội, hoặc trích dẫn những công trình giá trị, những thành quả cao trong học vấn hay công việc để trao bằng khen hay phần thưởng xứng đáng. Khuyến khích các con em, nhất là tại các địa phương, tổ chức các cuộc họp mặt, cắm trại, sinh hoạt tập thể, để các con em gần gũi tìm hiểu và trao đổi tâm tình lẫn nhau. Trong tương lai có thể trao việc tổ chức các đại hội họp mặt THĐL cho các con em, phụ huynh chỉ đóng vai trò cố vấn và yểm trợ, hướng dẫn.
3) Thực hiện ngay một quỹ tương trợ THĐL để phụ trách các vấn đề quan hôn tang tế, và các vấn đề tương trợ cần thiết trên danh nghĩa toàn thể THĐL, ngoài các quỹ tương trợ saün có hay sắp có của các THĐL địa phương. Việc đóng góp trên căn bản là tùy tâm, nhưng nếu lấy tổng số các THĐL căn cứ trên danh sách thân hữu có tên trên bản tin THĐL, chúng tôi đề nghị mỗi người chỉ cần đóng 1 đồng trong 1 tháng, tức 12$/năm, thì chúng ta cũng đã có số tiền trên dưới 5.000$/năm. Số tiền đó, ngoài vấn đề sử dụng trong các việc quan hôn tang tế, còn có thể dùng để tương trợ các thân hữu còn đang gặp khó khăn, tổ chức các buổi họp mặt, ấn hành cuốn niên giám THĐL, .
4) Trong tương lai có thể đi đến việc thiết lập một quỹ tín dụng THĐL. Tiền của các thân hữu đóng góp sẽ được trao cho một nhóm thân hữu có nhiều kinh nghiệm và đã thành công trên thương trường để kinh doanh. Ngoài tiền lời trả cho các thân hữu đóng góp, tiền dư được sung vào quỹ tương trợ. Một quỹ tương trợ như thế sẽ vô cùng ích lợi trong việc cho vay ngắn hạn và nhẹ lãi các thân hữu đang gặp khó khăn và còn bao nhiêu công tác khác nữa. Một quỹ như thế đương nhiên cần có một sự nghiên cứu kỹ lưỡng. Chúng tôi ước mong sẽ có một ban chuyên môn làm việc này để giúp cho đại hội kế tiếp biểu quyết và thực hiện.
Thực hiện các đề nghị nêu trên chắc chắn cần nhiều thiện chí, cố gắng, thời gian, và công sức. Nhưng nếu chúng ta đừng để nó chìm vào quên lãng thì, với tinh thần đoàn kết và tương trợ cao
 đẹp của đại gia đình THĐL chúng ta nhất định sẽ thành công.
Một lần nữa xin thân ái chào mừng quý thân hữu và gia đình, và xin cầu chúc đại hội thành công tốt đẹp.
Thay mặt Ban Tổ chức Đại hội Họp mặt hè 97 tại Nam Cali,

Đỗ Mậu Quỳnh

 Đại hội Họp mặt THĐL Hè 97 tại Nam Cali
Phát biểu của Thân hữu Nguyễn Công Thuần

 Thưa các anh các chị,

Trước hết tôi xin có lời chào mừng tất cả các anh các chị và gia đình có mặt tại đây hôm nay. Cùng nhau về đây họp mặt, chúng ta đã cố gắng nuôi dưỡng và gìn giữ sinh hoạt Thân hữu Điện lực (THĐL) và cái tình nghĩa bền chặt của anh chị em chúng ta. Tôi cũng xin cám ơn tất cả các THĐL miền Nam Cali đã cho chúng tôi cơ hội tụ tập về đây hội ngộ, nhất là Ban Tổ chức đã dành cho tôi cái vinh hạnh được lên đây để thưa với các anh các chị đôi lời.
Như các anh các chị đều biết, sinh hoạt THĐL của chúng ta năm nay đã là năm thứ 15. Kỳ đại hội họp mặt này do các thân hữu miền Nam Cali đứng ra lo liệu, đã mang thêm ý nghĩa là kỷ niệm "đệ thập ngũ chu niên" tại vùng thủ đô Việt tị nạn.
Mười lăm năm là thời gian lưu lạc của nàng Kiều. Tôi không dám có một ví von gì với nàng Kiều, nhưng tôi cũng đã trải qua mười lăm năm truân chuyên với THĐL. Còn nhớ khi tôi vượt biên và tới định cư ở Hoa kỳ vào cuối năm 1981, tôi bắt liên lạc lại được với một vài người bạn thân thiết cũ, trong đó có anh NMLinh. Khi tôi xin được việc làm chính thức và dời lên tiểu bang New York vào tháng 4/1982, tôi liên lạc với Linh nhiều hơn. Linh kể cho tôi nghe những việc Linh đã làm từ năm 1975 khi chạy ra tới ngoài này: tìm bắt liên lạc với các bạn bè cũ, lập danh sách địa chỉ, mong muốn và chuẩn bị phát hành một tờ bản tin nội bộ để tìm kiếm và phổ biến tin tức anh chị em, mong muốn có dịp gặp mặt lại từng người. Linh biết tôi cũng có cái máu này: máu "đàn đúm và bù khú" bạn bè, máu "văn nghệ văn gừng", máu "ăn cơm nhà vác ngà voi." Chúng tôi thảo luận nhiều chi tiết về những gì cần làm, tiền kiếm ở đâu ra, phân công ai làm cái gì, .
Tháng 7, 1983, chúng tôi tổ chức kỳ họp mặt THĐL đầu tiên tại thành phố tôi ở, Binghamton, New York. Phần lớn những gia đình tham dự là các THĐL miền đông bắc. Tôi còn nhớ lần đó, ngoài Linh và tôi ra, còn có các thân hữu và gia đình ĐTPhúc, NXGiễm, NĐHuấn, HVPhong, NQThiều, NTChiếu, NV Toại, LTCăn, NVDi, và TĐinh (Xin xem lại bản tin THĐL số ra mắt, tháng 11/1983). Đó là lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng tôi gặp lại NMLinh trên xứ sở này. Chúng tôi bàn thêm nhiều chi tiết sinh hoạt cùng với tất cả các THĐL tham dự kỳ họp mặt đầu tiên này, và đồng ý là sẽ cố gắng phát hành tờ bản tin THĐL đầu tiên trong năm đó. Chúng tôi bàn cả về cái tên của tờ bản tin THĐL, về cái tiêu đề "Thông tin Liên lạc Đại Gia đình Điện lực Việt nam Hải ngoại." Sau 15 năm, tôi thấy rất mừng là các danh xưng này vẫn còn đúng.
Sau khi chia tay với NMLinh từ cuộc họp mặt đó, phần tôi sẽ viết một số bài vở, lập và cập nhật danh sách THĐL, đóng góp một số tiền khởi đầu, . Phần Linh, về lại Minnesota, có thân hữu NT Cảnh ở gần góp sức, sẽ viết một số bài, lo việc đánh máy, trình bày, ấn loát, và phổ biến. Lúc đó tôi mới đi làm được khoảng một năm, chưa biết gì về máy điện toán cá nhân (PC), ở sở thì xài mainframe tôi vừa làm vừa học. Tôi bỏ tiền túi ra mua ngay một máy đánh chữ điện hiệu Brother, loại đổi được trái cầu để thay đổi kiểu chữ. (Máy này hiện tôi vẫn còn giữ, vì "bỏ thì thương mà vương thì tội.")
Công chuyện đang tiến hành với một tốc độ không lấy gì làm nhanh lắm, thì đầu tháng 10/1983, một chiều chủ nhật, NTCảnh điện thoại cho tôi báo cho biết là NMLinh đã không còn nữa. (Xin xem lại "Thư Thay Lời Mở Đầu" trên bản tin THĐL số ra mắt, tháng 11/1983, có in lại sau đây.) Trong niềm xúc động thương tiếc Linh tột độ, tôi thầm hứa với Linh là tôi sẽ cố gắng tiếp tục công việc thực hiện cái hoài bão của Linh. Tôi cố gắng bằng mọi khả năng và phương tiện có được, kêu gọi, lôi kéo, và xúi giục một số thân hữu tiếp tay tiếp sức. Chắc các anh các chị cũng biết, những ngày khởi đầu đó thật là "thiên nan vạn nan." Chưa có PC, bài vở phải đánh máy chữ và bỏ dấu bằng tay. Tiền bạc cũng rất là eo hẹp. Ngay từ khởi đầu cũng đã có nhiều việc nhiều lúc làm cho chúng tôi thối chí nản lòng, .  Tuy nhiên, kết quả là bản tin THĐL số ra mắt đã được phát hành vào tháng 11/1983.
Năm 1984 đại hội họp mặt THĐL được tổ chức ở Montreal, Canada. Tôi ôm tờ bản tin THĐL số 2 sang Montreal cùng làm với thân hữu TSThực. Năm 1985, họp mặt lần đầu tiên ở Nam Cali này, tôi đưa bản tin số 3 cho LMQuân và ĐHHạnh, . Năm đó, Nam Cali rất phấn khởi với sinh hoạt THĐL, lên cơn hăng, làm thêm 2 số bản tin THĐL, tức là số 4 và số 5.
Sau đó, các sinh hoạt THĐL càng ngày càng được đông thân hữu tham dự, ủng hộ, góp sức. Vì điều kiện công ăn việc làm, Nam Cali chỉ còn có thể phụ trách ấn loát và phân phối. Cho đến năm 1992, chúng tôi khám phá ra là thân hữu LQVăn ở Vancouver, Canada, có business dính líu với computer và nhà in, chúng tôi liên lạc với Văn và chuyển phần ấn loát và phân phối sang cho Văn để có được phần chuyên môn tốt hơn và chi phí rẻ hơn. Từ 1992 đến 1994, chi phí ấn loát và bưu điện ở Canada tăng lên nhanh hơn bên Mỹ, hai năm liền thân hữu LQVăn cứ phải ôm cả chồng bản tin sang Seattle (Mỹ) để gửi đi phân phối cho các nước, "vất vả tấm thân già", lại có lúc còn bị lập biên bản phạt vì ôm quá nhiều tờ "báo" sang biên giới.
Năm 1995, thân hữu ĐHHạnh ở Nam Cali vừa phục hồi sức khỏe sau một cơn stroke, được bác sĩ khuyến cáo tập thể dục cho nhiều, nhất là tập hai cánh tay. Hạnh lợi dụng đi học các lớp về computer, về PC, . và trong vòng một năm Hạnh đã trở thành một chuyên viên thượng thặng về computer, nhất là về làm báo. Cùng lúc đó, chi phí ấn loát sách báo Việt ngữ ở Cali trở nên càng ngày càng rẻ hơn so với các nơi khác. Chi phí bưu điện cũng vậy, nếu nhiều người giúp sức, có thì giờ và chịu khó gửi báo theo lối bulk rate trong nước Mỹ thì rất rẻ. Và như các anh các chị thấy, kể từ bản tin số 15 (1995), việc ấn loát và phân phối đã lại trở về Nam Cali.
Sau 15 năm, 3 sinh hoạt chính của THĐL vẫn tồn tại. Có phát triển nhưng không lấy gì làm phấn khởi lắm. Sự tham dự, đóng góp, và chia xẻ của các thân hữu năm nào cũng coi như vừa tròn cho năm đó. Lắm lúc bản tin kiệt sức về bài vở tin tức, về tiền bạc, về thì giờ. Chúng tôi đã có ý định năm nào yếu quá thì sẽ phát hành bản tin chừng vài chục trang, vừa đủ các tin tức cần thiết chứ không có phần bài vở và hình ảnh. Nói vậy nhưng chưa "đành lòng" làm vậy.
Trong năm qua, theo trào lưu tiến hóa của kỹ thuật computer, THĐL lại có thêm hai hình thức sinh hoạt khác. Đó là "Email" (điện thư) và "Homepage" (Gia trang) trên "Internet" (Liên mạng). Chúng tôi đã lập được danh sách trên dưới 50 thân hữu có địa chỉ Email, những thân hữu này đã liên lạc với nhau thường xuyên, trao đổi và chia xẻ các tin tức và tài liệu  quý giá và nóng sốt. Một số lớn các thân hữu này lại có cả phương tiện để vào Internet và đọc được các gia trang THĐL mà một số thân hữu đã bỏ công thực hiện. Những thân hữu này đã gây được một không khí sinh hoạt rất là náo nhiệt và tốt đẹp trên Internet. Mời tất cả các anh các chị lưu ý đến chuyện này và cố gắng chuẩn bị để tham gia sinh hoạt Internet.
Tôi nghĩ rằng phần "báo cáo" của tôi về THĐL sau 15 năm như thế cũng tạm đủ. Chắc là chúng ta sẽ còn gặp lại nhau trong nhiều dịp khác sau này. Thân mến gửi đến các anh các chị và gia đình những lời cầu chúc tốt đẹp nhất.

Nguyễn Công Thuần
  (Trích từ "Bản Tin Thân Hữu Điện Lực" Số Ra Mắt, Tháng 11/1983)

THƯ THAY LỜI MỞ ĐẦU

 Thân gửi tất cả các bạn,
Bản tin Thân hữu Điện lực này đã được thai nghén từ lâu, vì nó là một hoài bão của anh Nguyễn Mạnh Linh và của một số anh em kể từ những ngày anh Linh còn sống. Cái hoài bão này xuất phát từ cái tình anh em, cái nghĩa bạn bè, và nó có tham vọng tạo và giữ một sợi dây liên lạc giữa những người đã một thời là đồng nghiệp, là bạn, trong ngành điện lực ở nước nhà.
Linh đã viết những dòng nháp như sau:
" Hoài bão của chúng tôi từ tám năm qua là có một phương tiện thông tin với nhau để trao cho nhau những mẩu tin từ quê hương, từ bạn bè, mỗi người đôi ngả, hoặc chia xẻ cho nhau những kinh nghiệm sống, những tâm sự vui buồn khi chúng ta đang lang thang nơi đất khách quê người.
THÂN HỮU từ đây sẽ là nhịp cầu thông cảm, là môi trường thân hữu, là con đường đầy hoa đưa chúng ta đến tình tương thân tương ái thắm thiết. Chúng tôi ước mong quý bạn hãy nồng nhiệt đóng góp, chung sức tô điểm bồi bổ cho THÂN HỮU càng ngày càng lớn mạnh như tình chúng ta đang nở hoa."
Bản tin không thể ra đời được, và càng không thể sống lâu được, nếu chỉ có một người hay một số nhỏ anh em góp sức. Nó chỉ có thể sống được và hoàn thành được sứ mạng thắt chặt sợi dây liên lạc giữa chúng ta khi mọi người trong cúng ta - ít nhất là một phần lớn - đồng lòng đồng ý góp công góp sức để nuôi dưỡng nó và gìn giữ nó.
Cho đến kỳ họp mặt anh em vùng đông bắc hồi đầu tháng 7/1983 tại Binghamton, New York, vấn đề phát hành bản tin được anh Linh đưa ra thảo luận rộng rãi cùng với một số các sinh hoạt khác, mục đích nhằm vào việc gìn giữ các tình nghĩa, bước khởi đầu cơ bản cho mọi hoạt động và lý tưởng cao xa hơn trong tương lai. Tất cả anh em hiện diện trong kỳ họp mặt đó đã đi đến nhất trí là nên làm và cần làm, mọi người đồng ý là sẽ góp công góp của, và đã giao cho anh Linh và một vài anh em khác đứng ra lo liệu. Quyết định này đã được anh Linh phổ biến rộng rãi đến tất cả anh em chúng ta, cùng với việc tạm thời phân vùng anh em và đề cử người đại diện ở bắc Mỹ và các nước khác. (Xin xem lại thư của anh Linh ở cuối bản tin số ra mắt).
Sau đó lần lượt nhiều bài vở, tin tức, hình ảnh, và tiền bạc, đã được anh em từ các nơi gửi về cho anh Linh. Qua các thư từ và điện thoại trao đổi tin tức cũng như phân chia công việc, anh Linh có cho tôi hay là tính đến ngày 25/9/83 đã có đủ bài vở cho khoảng 30 trang bản tin và có được 160$. Chỉ cần một ước tính nhỏ chắc ai trong chúng ta cũng thấy rằng số tiền đó chỉ đủ để mua bì và tem gửi 30 trang giấy theo lối "first class mail" đến khoảng 120 người trên khắp thế giới. Nhưng mà anh Linh và chúng tôi cũng đã đồng ý là cố gắng để khoảng cuối tháng 10 hay là đầu tháng 11/83 bản tin đầu tiên có thể ra mắt anh em, rồi sau đó tính tới nữa.
Anh Linh ôm nguyên xấp bản thảo, bàn với anh Nguyễn Trọng Cảnh lo liệu việc đánh máy và in, giao tôi cập nhật hóa danh sách anh em đồng thời với việc trình bày bìa, trình bày một số hình vẽ và viết thêm bài về việc đề nghị chương trình sinh hoạt cho những ngày sắp đến. Cái bìa và chương trình sinh hoạt tôi mới chỉ có thoáng một ý nghĩ. Tôi bắt đầu viết lại bằng tay bản danh sách anh em, trình bày theo một cách để in kèm theo bản tin, và theo một cách khác để nhờ computer (mainframe) in thành nhãn địa chỉ để dán vào các bì thư sau này.
Ngày thứ bảy 1 tháng 10/1983, tôi viết theo cách trình bày thứ nhì đến đúng tên anh Linh thì ngừng lại (viết theo thứ tự abc), tạm nghỉ để rồi sẽ tiếp tục. Không ngờ tôi đã phải ngừng bản danh sách này lại một cách vĩnh viễn. Ngày chúa nhật 2 tháng 10/1983, tin đâu sét đánh ngang trời: Linh đã ngã xuống, đã đột ngột từ bỏ chúng ta.
Tôi mang một niềm xúc động tột cùng, bắt nguồn từ những tình cảm và kỷ niệm riêng tư giữa chúng tôi, cùng với các chí  hướng và hoài bão chung mà chúng tôi đang cố gắng thực hiện. Đêm chúa nhật đó, tôi khóc tràn nước mắt. Rồi suốt cả tuần lễ sau đó, tôi thấy người cứ thẫn thờ. Tinh
 thần tôi suy sụp, tôi cảm thấy như mình không còn có chút nghị lực hay tha thiết gì nữa hết. "Linh bỏ đi rồi, và mọi chuyện đều trở thành hư ảo."
Nhưng mà, thương Linh, nghĩ đến tấm lòng tha thiết của Linh đối với anh em, đối với công việc chung, tôi cố gắng vùng dậy, như đã từng cố gắng nhiều lần như vậy trong đời. Tôi liên lạc với Cảnh và nhờ Cảnh cố gắng bằng mọi cách tìm lại cho được xấp bản thảo mà Linh đã giữ, kêu gọi một số anh em cấp tốc góp thêm công sức để cho bản tin có thể ra mắt, bây giờ lại còn có thêm một ý nghĩa nữa là "tưởng niệm Nguyễn Mạnh Linh." Đến nay, xấp bản thảo do Linh giữ chỉ mới tìm lại được một phần. Không thể chờ đợi lâu hơn, tôi cố gắng góp nhặt tối đa các bài vở và tin tức để bắt tay vào việc.
Những trang sau đây là kết quả của sự cố gắng đó, kết quả của những điều kiện rất là giới hạn: thời gian cấp bách, tinh thần mỏi mệt, phương tiện ấn loát không có, . chỉ có một quyết tâm là thực hiện bản tin này cho kỳ được, để cho Linh có thể yên tâm nhắm mắt.
Có thể khi bản tin này được phát hành, còn một số bài vở và ý kiến của nhiều anh em đang trên đường gửi tới, hoặc là đang hình thành dở dang. Công việc của chúng ta không phải là dừng lại sau số ra mắt này, do đó xin các bạn cứ tiếp tục đóng góp bài vở, tin tức, . chúng ta sẽ còn tạo nhiều dịp khác để giữ mối liên lạc và để tưởng nhớ Nguyễn Mạnh Linh. Tạm thời xin cứ gửi về cho tôi để tập trung trong khi chờ đợi có một ủy ban đại diện phụ trách.
Bây giờ số ra mắt của bản tin với hình thức có vẻ nghèo nàn, đang được trình bày trước mắt các bạn. Phần còn lại là phần của các bạn, của chúng ta, trong cái cách hiểu về tấm lòng của Linh dàn trải trên từng trang giấy này, và trong thái độ và hành động của chúng ta trong tương lai.
Thân mến mời các bạn đi vào nội dung của bản tin.

Nguyễn Công Thuần
(tháng 11/1983)

 Đại hội Họp mặt THĐL Hè 97 tại Nam Cali
Phát biểu của Thân hữu Nguyễn Trọng Dũng

(Ghi chú: Đây là viết lại bài nói chuyện của tôi trong ngày đại hội họp mặt Thân hữu Điện lực Việt nam Hải ngoại (THĐLVNHN) hè 1997 tại Nam Cali. Trong lúc phát biểu có một vài đoạn tôi tự ý bỏ bớt cho kịp thời lượng, nay được ghi lại đầy đủ dưới đây.)

Thưa các anh các chị,

Khi anh Dậu gọi điện thoại đề nghị tôi phát biểu về những cảm nghĩ riêng của tôi đối với THĐLVNHN, để như lời anh nói, "Cậu là một trong những anh em sang sau, cậu có nhiều cảm thông, nên nói ra để vận động khuyến khích một số anh chị em khác lâu nay vẫn còn e dè ngại ngùng chưa tham gia vào gia đình THĐLVNHN của chúng ta." Tôi trả lời anh rằng chắc tôi không thực hiện được mục tiêu đó bởi lẽ sự hiện diện của các anh các chị hôm nay ở đây chứng tỏ các anh các chị đã tích cực tham gia vào sinh hoạt của THĐLVNHN rồi, còn những người cần khuyến khích thì lại không có mặt ở đây. Tuy nhiên tôi vẫn nhận lời vì tôi cho rằng trong những cảm nghĩ của tôi về THĐLVNHN có một đôi điều có thể chia xẻ với các anh các chị. Cho nên trước hết tôi xin cám ơn ban tổ chức đã cho tôi cơ hội này. Những điều mà tôi sắp trình bày với các anh các chị hôm nay, không chỉ đơn thuần là cảm tưởng đối với THĐLVNHN, mà nói cho đúng ra là những biến chuyển trong tâm tư của tôi về tình bạn nói chung trong suốt thời gian gần 60 năm tuổi đời.
Ngay từ thuở nhỏ, qua sự giáo dục của gia đình, tôi giao tiếp với bạn bè rất chí tình. Khi đến tuổi trưởng thành, ra đời tiếp xúc với xã hội thực tế, tôi vẫn luôn luôn lấy cái tình cái nghĩa làm trọng. Và mọi người xung quanh tôi cũng cư xử với tôi trong tinh thần đó. Thế nhưng sau ngày 30/4/75, sống dưới chế độ cộng sản, quan niệm đó của tôi đã bị lung lay khi tôi thấy cái tình cái nghĩa lu mờ đi trong cách xử thế của một số người. Tôi đã chứng kiến biết bao chuyện đau lòng về sự thay đổi của lòng người, thoạt tiên là những mắt thấy tai nghe trong lao tù cải tạo, rồi lại tai nghe mắt thấy qua những năm tháng sống trong chế độ độc tài cộng sản. Dưới cái chế độ ma quỷ ấy người ta

dễ dàng lường gạt nhau, phản bội nhau, hãm hại nhau, bất kể quan hệ thế nào, có thể là hàng xóm láng giềng, có thể là bạn hữu ân tình, có thể thầy trò, và ngay cả có thể là ruột thịt nữa. Luân lý đạo đức trở nên hiếm hoi. Tôi quan niệm rằng mỗi con người khi mới sinh ra, không nhiều thì ít, đều có tiềm tàng một phần thiện và một phần ác, một phần tốt và một phần xấu. Tùy theo từng thời gian, từng điều kiện cá nhân và môi trường sống mà một trong hai phần đó trồi lên lấn át phần kia. Cộng sản chủ trương duy vật, hoàn cảnh sống trong xã hội cộng sản là môi trường xúc tác, tạo điều kiện cho cái phần ác, phần xấu ấy dễ phát triển nếu bản chất con người không đủ đạo đức.
Về phần tôi, 15 năm sống với Việt cộng, suy nghĩ của tôi cũng đã bị ảnh hưởng. Sau khi ở tù 3 năm về, cộng với hơn một năm quản chế phải đi làm trong một công ty công tư hợp doanh, đến giữa năm 1980 tôi nghỉ không đi làm nữa, rút lui về nhà đi học hớt tóc, học cắt may rồi xoay ra kiếm sống bằng nghề thợ may, làm ngay tại nhà, không mấy khi đi ra ngoài, rất ít gặp gỡ bạn bè. Những người mà tôi tiếp xúc chỉ là khách hàng, họ đến rồi họ đi, tôi may quần áo cho họ, họ trả tiền công cho tôi, rất là sòng phẳng, hai bên không có một thân quen tình cảm nào khác. Dạo đó tôi gần như tách khỏi hoàn toàn các liên hệ cũ, nhất là khi những người bạn thân thiết dần dần ra đi hết. Thảng hoặc có bất chợt gặp ai quen biết, tôi không còn dám cởi mở tâm tình như ngày xưa nữa. Thay vào đó là một thái độ lúc nào cũng dè dặt, đề phòng. Khi rời Việt Nam, mặc dầu là đi với giấy tờ hợp lệ của Việt cộng, tôi cũng không dám chia tay bạn bè. Trước ngày lên đường tôi có đến trụ sở Hai Bà Trưng, văn phòng Công ty Xây dựng ở đường Trần Quang Khải, và một văn phòng khác ở đường Ngô Thời Nhiệm, tại đây tôi tìm gặp một vài bạn cũ mà không dám nói với ai rằng mình sắp lên đường, chỉ bắt tay làm bộ như rảnh rỗi lâu ngày ghé thăm chơi thôi, nhưng trong lòng thì xao xuyến xúc động không biết đến bao giờ mới gặp lại.
Đối với THĐLVNHN thì trong suốt những năm còn ở lại Việt nam, tôi không hề biết gì về chuyện các bạn bên này đã tụ họp lại được với nhau, hình thành một "tổ chức" có sinh hoạt đều đặn. Dạo đo,ù thỉnh thoảng tôi có thư từ qua lại với anh Thuần nhưng không thấy anh đề cập đến. Một lần nhận được tấm hình chụp chung, có khá đông anh em khi các anh gặp nhau ở bên Bỉ vào năm 88, 89 gì đó. Mặt sau tấm hình anh Thuần ghi chú cho biết là mấy anh từ Mỹ qua chơi Âu châu, gặp lại bạn cũ cùng chụp chung tấm hình kỷ niệm, thế thôi, chứ không cho biết rằng đó là buổi họp mặt hàng năm. Ngay cả khi nhận được tiền tương trợ của các thân hữu bên này gửi về, anh Thuần cho tôi biết là của nhiều anh chị góp làm quà chung cho các bạn còn kẹt lại Việt nam, chứ không nhắc đến tên Thân hữu Điện lực Việt nam Hải ngoại. Tôi rất cám ơn sự tế nhị này của anh Thuần, vì nếu có anh chị nào để ý đến tin tức trong nước, hẳn còn nhớ vào dạo đó Việt cộng đang xử vụ án Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, buộc tội cho 2 ông này là tay chân CIA, nhận tiền của CIA âm mưu phá hoại. Thật ra theo tôi biết thì các nhà văn ấy có nhận tiền của hội Văn Bút hay nói chung cũng là bạn bè ở bên này, gửi về ông Doãn Quốc Sĩ, để ông ấy chuyển cho các bạn văn nghệ sĩ  kém may mắn còn kẹt lại. Nghĩa là cũng giống y như những gì anh Thuần và các anh các chị bên này đã làm và gửi về làm quà tặng cho một số anh chị em chúng tôi còn ở lại Việt nam. Chắc anh Thuần còn nhớ, ngay sau lần đầu tiên anh gửi tiền về tên tôi và nhờ tôi đem đến cho các bạn khác, tôi đã viết thư cho anh, trước là để cám ơn tất cả các bạn sau là yêu cầu anh tránh cho tôi không phải làm cái nhiệm vụ chuyển tiếp ấy để khỏi bị cộng sản chụp mũ trong khi tôi đang mưu tính chuyện ra đi của gia đình.
Cũng trong thời gian còn kẹt lại Việt nam, tôi được nghe kể về đời sống người Việt tị nạn, có nhiều trường hợp những người trước 75 từng là đồng đội, từng là bạn chiến đấu, bạn học, bạn nghề nghiệp, khi gặp lại nhau ở bên này thì đối xử với nhau như hai người xa lạ. Người đi trước lạnh nhạt, coi rẻ người tới sau, tìm cách tránh né không muốn liên lạc, sợ bị xin xỏ, phải giúp đỡ. Sống trong một môi trường như dưới chế độ cộng sản khi mà con người không dám tin ai, thì những câu chuyện như thế đã tác động mạnh đến suy nghĩ của tôi, làm lung lay cái quan niệm về tình nghĩa mà lâu nay tôi đã đặt lên hàng đầu trong cách xử thế. Với những mặc cảm và thành kiến về tình bạn như thế khi vừa tới Mỹ, tôi không liên lạc ngay với bất cứ một ai trong số bạn bè cũ cả. Chắc các anh các chị cũng thông cảm cho tôi rằng vừa chân ướt chân ráo, tinh thần hãy còn bàng hoàng ngơ ngác, lại thêm mặc cảm thiếu tự tin, tôi rất sợ rơi vào tâm trạng bẽ bàng thất vọng khi gọi điện thoại cho người bạn để rồi được nghe từ đầu dây bên kia giọng nói của đúng người mình muốn nói chuyện nhưng âm hưởng thì miễn cưỡng lạnh nhạt.
Ngay cả với anh Thuần, người bạn gần gũi nhất của tôi, tuy trước đó thỉnh thoảng vẫn thư từ, nhưng tôi không cho anh biết là tôi sắp qua và khi đến Mỹ tôi cũng không gọi ngay cho anh. Thế nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược với những suy nghĩ đó, mà ngày nay nhắc lại tôi vẫn còn cảm thấy ngượng ngùng. Người ta thường nói dấu ai thì dấu chứ không dấu được ông Trời. Trường hợp của tôi đúng là như vậy. Gia đình tôi đặt chân lên đất Mỹ vào tuần lễ giáp Tết Canh Ngọ, cuối tháng 1, 1990. Tôi có một cô em gái ở Virginia. Một bạn thân của cô ấy ở Santa Ana này, nhân ngày Tết điện thoại thăm chúc nhau, cô bạn hỏi chuyện nhà, và em tôi kể cho biết có gia đình tôi vừa tới Mỹ. Chồng cô bạn này là bạn học cũ của tôi từ thời trung học Chu Văn An, anh ta có một người em gái lấy chồng mà người chồng thì lại là anh ruột của một thân hữu điện lực Việt nam hải ngoại chúng ta, đó là anh Nguyễn Huy Tiên ở Sacramento. Tôi nói về cái sợi dây vòng vo tam quốc ấy, nhưng các anh các chị chẳng cần phải nhẩm tính xem dây mơ rễ má thế nào. Mục đích của tôi là để các anh các chị thấy rằng không phải chỉ là một sự ngẫu nhiên, mà là cả một chuỗi ngẫu nghiên đã đưa tin của tôi đến những người bạn cũ chỉ nội trong vòng 10 ngày sau khi tôi đến Mỹ. Anh Tiên và anh bạn Chu Văn An là 2 người đầu tiên gọi điện thoại. Rồi các bạn chuyền tin báo cho nhau. Thế là liền ngay mấy ngày sau đó tôi liên tiếp nhận được điện thoại thăm hỏi chúc mừng của bạn bè từ khắp các tiểu bang nước Mỹ và Canada. Rồi cả anh Lâm Dân Trường từ bên Âu châu cũng gọi qua. Các anh nói chuyện với tôi xong thì chuyền máy cho các chị nói chuyện với nhà tôi. Thăm hỏi, chúc mừng, khuyến khích, an ủi, cổ vũ tinh thần chúng tôi.
Thật khó có thể hiểu được do đâu mà cái tin tôi đến Mỹ lại đi vòng vo và lại nhanh đến như thế. Hai cô bạn ở 2 đầu nước Mỹ, nhân ngày Tết gọi điện thoại chúc Tết rồi tâm sự với nhau, kể chuyện tin tức gia đình cho nhau thì có thể giải thích được, nhưng còn do đâu mà tin đó lại chuyển tiếp 2, 3 chặng qua những người ở xa cách nhau hàng trăm hàng ngàn cây số và tôi chưa hề gặp mặt, để sau cùng đến được anh Tiên và các bạn khác, thì phải nói đó là những cái ngẫu nhiên thật lạ lùng. Tôi càng nghĩ nếu không phải do duyên Trời muốn dạy tôi một bài học về tình bạn, thì chuyện đó không thể xảy ra như thế được. Câu chuyện chúng tôi nói với nhau qua điện thoại chỉ là những câu thăm hỏi chúc mừng thông thường nhưng tôi nghe âm hưởng giọng nói thật là chân tình thắm thiết. Thế là bỗng nhiên những dè dặt ngại ngùng của tôi hồi nào tới giờ tự dưng biến mất. Rồi chúng tôi cười nói với nhau ồn ào giống như đang ở Việt nam trước ngày 30/4/75 vậy.
Tiếp theo sau đó khi dọn ra ở riêng, tôi đã nhận được những giúp đỡ rất cụ thể, có bạn gửi cho tiền, có bạn gửi cho đồ dùng, mới có, cũ có. Từ cái chén cái bát ăn cơm, cái nồi cơm điện, tới cái bàn cái ghế, cái TV, cái đồng hồ. Tôi cảm kích đón nhận không mảy may mặc cảm. Có những anh chị như anh chị Thụy, anh chị Chánh, anh Thuần, anh Chính, anh Tiên, và cả anh Nguyễn Duy Niên ở Dallas, mà cho đến nay tôi vẫn chưa có dịp gặp mặt, đã giúp tìm công việc làm cho nhà tôi và cho tôi. Không những các anh hướng dẫn chỉ vẽ tường tận mà còn lấy đơn, lục tìm sách vở cho mượn học. Tôi đón nhận với lòng biết ơn, không chỉ vì những giúp đỡ ấy thiết thực đối với chúng tôi, mà vì tôi cảm nhận được đằng sau hành động ấy là chứa chan tình cảm thắm thiết của các anh các chị dành cho gia đình chúng tôi trong những ngày đầu tiên ấy. Cũng xin nói thêm là anh Nguyễn Sĩ Chính với tôi khi còn ở Sài gòn chỉ biết nhau chứ không quen. Thế nhưng khi anh Chính nghe nói tôi mới qua, đang cần tìm việc làm thì anh đã sốt sắng tận tình giới thiệu chỗ làm cho tôi.

Thưa các anh các chị,
Gia đình chúng tôi có được cuộc sống ngày hôm nay là nhờ ơn Trời Phật ban phước cho chúng tôi đến được bến bờ tự do. Rồi chúng tôi lại còn có phước được người thân và bè bạn giúp đỡ, nhất là về mặt tinh thần. Cho tôi lấy lại được niềm tin, tin ở cuộc đời, tin ở tình người, và tin ở chính mình. Từ đó thoát được tâm trạng bi quan yếm thế mà đa số người mới tới thường mắc phải khi va chạm với thực tế. Những lời khuyến khích, những chỉ vẽ hướng dẫn giúp tôi vươn lên xây dựng cuộc sống mới. 15 năm sống với Việt cộng, niềm tin của tôi về tình nghĩa con người đã bị cái chế độ ma quỷ ấy làm cho lung lay, tưởng đâu tôi sẽ rơi vào vực thẳm của sự đa nghi, ngờ vực, để thành con người khô khan đơn độc không có bạn bè bằng hữu gì nữa. May mắn thay tôi đã được ơn Trời Phật ban phước cho thoát khỏi cái chế độ bẩn thỉu đó. Và rồi khi qua tới đây được bạn bè đối xử chí tình. Cách đối xử ấy đã cảm hóa tôi, biến đổi suy nghĩ của tôi từ thái cực của bi quan ngờ vực sang thái cực tin tưởng, lạc quan. Niềm tin của tôi về tình nghĩa con người đã được phục hồi!
Thử đi tìm trả lời cho câu hỏi do đâu mà từ khắp 4 phương trời chúng ta lại tập họïp được với nhau và xây dựng được cái tình cảm như thế. Trong các yếu tố tạo thành, có 2 cái chính, một là do chúng ta có nhiều cái chung chia xẻ với nhau, và hai là nhờ ở tinh thần xây dựng của mỗi con người chúng ta. Chắc các anh các chị cũng đồng ý với tôi rằng khi 2 người có chung một tâm sự nào đó thì dễ kết thân với nhau. Giữa chúng ta, thân hữu điện lực Việt nam hải ngoại, không nhiều thì ít, không tất cả thì cũng một đôi phần, có nhiều cái chia xẻ chung. Hoặc trong quá khứ cùng chung một mái trường, chung một cơ quan. Hoặc cùng chung một ngành nghề, chung một lãnh vực. Nhưng cái chung lớn nhất và có tác dụng keo sơn mạnh mẽ nhất giữa chúng ta hôm nay là cái chung một tâm sự của những con người Việt nam sống tha hương. Cái tâm sự đau buồn của những con người rứt ruột bỏ quê hương xứ sở ra đi, bỏ lại thân thích, bạn bè, láng giềng lối xóm, bỏ lại kỷ niệm, bỏ lại hết bao hình ảnh thân thương của quá khứ. Cho nên hơn bao giờ hết trong cuộc sống tha hương này, chúng ta muốn tìm đến chia xẻ với nhau.
Vâng, tôi cho rằng đây chính là nền móng vững chắc nhất của tình thân hữu điện lực Việt nam hải ngoại chúng ta. Đến đây tôi xin có lời khâm phục các anh trong ban sáng lập đã thật khéo léo và chính xác khi chọn danh xưng cho nhóm của chúng ta. Các anh các chị hãy thử đọc lên cho trọn tất cả 8 chữ đó mà xem. "Thân hữu Điện lực Việt nam Hải ngoại." Thường thường, để cho ngắn gọn và quen miệng, chúng ta chỉ gọi bằng 4 chữ  Thân hữu Điện lực (THĐL), hoặc nếu có dài dòng hơn tí nữa thì đọc là Thân hữu Điện lực Việt nam. Không những gọi như thế không lột hết được ý nghĩa mà nếu gọi bằng cách thứ hai Thân hữu Điện lực Việt nam, đôi khi lại dễ gây hiểu nhầm rằng đây là thân hữu của cựu nhân viên cơ quan Điện lực Việt nam và Công ty Điện lực Việt nam. Theo tôi thì phải hiểu bằng tất cả 8 chữ thì mới thật đầy đủ và mới đúng ý của những người đã chọn ra cái tên đó. Nhất là 4 chữ sau cùng "Việt nam hải ngoại" mang nhiều ý nghĩa hơn cả. Vâng chúng ta là thân hữu điện lực, và mặc dầu ngày nay nhiều người trong chúng ta đã có quốc tịch mới, nhưng chúng ta không phải là thân hữu với người Tây, người Mỹ, hay người Úc, người Canada, mà là thân hữu điện lực người Việt nam. Và hơn thế nữa chúng ta là những người thân hữu điện lực Việt nam hải ngoại, chứ không phải thân hữu điện lực Việt nam ở trong nước.
Thưa các anh các chị, tôi không quay mặt làm ngơ để phủ nhận sự quen biết của tôi với những người hiện nay còn ở lại trong nước. Không phải tất cả, nhưng một số đông vẫn còn là bạn của tôi, họ đang phải miễn cưỡng làm việc với chế độ cộng sản vì không còn con đường nào khác. Nếu có đi công tác hay du lịch nước ngoài, họ có thể quen biết tất cả thành viên THĐLVNHN chúng ta. Nhưng tôi vẫn không coi họ là thành viên của chúng ta được, vì họ không chia xẻ được cái tâm trạng lưu vong của chúng ta. Tôi có thể ngồi nói chuyện với họ nhưng chắc chắn không phải là những câu chuyện như tôi đang giải bày cùng các anh các chị hôm nay. Thật vậy, các anh các chị hãy thử nghĩ mà xem nếu không bỏ xứ ra đi có chắc gì chúng ta tập họp lại thành một nhóm thân hữu như chúng ta đang có hôm nay. Hiểu như thế cho nên riêng đối với tôi, tôi tự phân định rằng những ai không có cái tâm sự của người Việt tha hương tị nạn hoặc không còn mang cái tâm sự ấy nữa, thì tôi xin mạn phép không coi là thành viên THĐLVNHN.
Nhân đây, xin các anh các chị cho tôi mở một ngoặc nhỏ để nói lên ý kiến cá nhân tôi về một gợi ý cách đây 2 năm đề nghị tổ chức họp mặt THĐLVNHN tại Sài gòn. Ý kiến của tôi, rất rõ ràng và rất dứt khoát là khi nào còn cộng sản ở trên quê hương Việt nam chúng ta thì không bao giờ có chuyện tôi tham dự họp mặt THĐLVNHN tại Sài gòn. Dù đó là ở Sài gòn, ở Huế, ở Hà nội, hay ở Vũng tàu, Đà lạt, Nha trang, hay Vịnh Hạ long, hay chùa Hương tích. Mặc dầu đó là những nơi mà từ ngày xa quê hương Việt nam tôi vẫn mơ ước có ngày trở lại...
Thưa các anh các chị, từ khi có được may mắn sống trên đất tự do này, tôi vẫn luôn luôn ghi nhớ cái căn nguyên do đâu mà chúng ta có mặt ở đây, do đâu chúng ta phải mang kiếp sống tha hương tầm gửi trên đất nước người như thế này, do đâu mà bao đồng bào trong đó có thể có người thân của chúng ta đã gặp tai họa trên đường tìm tự do hoặc phải bỏ mình hoặc mang vết thương đau đớn suốt đời, do đâu mà hiện nay ngoại trừ một thiểu số những tên cán bộ Việt cộng và những kẻ ăn theo núp bóng dưới chiêu bài phát triển kinh tế xây dựng quốc gia để ra sức vơ vét, sống xa hoa phung phí bằng tài nguyên của đất nước, còn lại hơn 75 triệu dân Việt phải sống cơ cực lầm than không có tự do trong một quốc gia, thương thay, được xếp vào hạng nghèo nhất thế giới. Chính tôi cũng đã từng từ trong cảnh mất tự do đói khổ ấy ra đi, thì ngày nay làm sao tôi lại có thể về tổ chức họp mặt tại nơi ấy, trong khung cảnh ấy được. Cho dù Việt cộng bây giờ chúng nó có cố nặn óc tìm cách tâng bốc chúng ta bằng những mỹ từ như "Việt kiều yêu nước", "khúc ruột ngoài ngàn dậm", tôi vẫn không bao giờ quên rằng đã từng có thời chúng nó gọi những người ra đi tìm tự do là "phản quốc", là "thành phần cặn bã của xã hội", là "côn đồ", và còn một vài từ ngữ nữa mà tôi xin miễn nhắc lại vì nó quá xúc phạm. Trước khi đóng ngoặc lại cái ý kiến này, tôi xin nói thêm cho rõ rằng đây là nhận định cá nhân của tôi để trả lời cho câu hỏi có thể tổ chức đại hội họp mặt THĐLVNHN ở Việt nam hay không, chứ không phải ý kiến về đề tài: "Nên hay không nên về thăm Việt Nam?"
Hãy trở lại với cái tình thân hữu điện lực Việt nam hải ngoại của chúng ta. Chắc hẳn các anh các chị kể từ ngày bắt đầu cuộc sống tha hương này đã hơn một lần đi giữa phố phườøng đông đúc mà cảm thấy sao như mình lạc lõng cô đơn. Lạc lõng vì đi mãi vẫn không tìm đâu ra một mái nhà tranh với lũy tre già hay tấm liếp bên bóng dừa. Cô đơn vì nhìn ra xung quanh chỉ thấy những bóng người áo quần sặc sỡ, tóc vàng tóc quăn, chứ không tìm đâu thấy cái áo bà ba, chiếc nón lá bài thơ hay mái đầu em bé chăn trâu để chỏm. Không có âm thanh của tiếng võng đưa kẽo kẹt trưa hè hay tiếng ầu ơ ví dầu, mà chỉ có tiếng xe chạy dồn dập, tiếng người lao xao với một ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Chính những giây phút lạc lõng cô đơn đó đã khiến chúng ta mong muốn được gần nhau, vui mừng khi gặp nhau. Khi tôi đến gặp các anh các chị trong những buổi họp mặt, đứng trước thầy Phát, anh Thiết, anh Nam, chị Xuyên, chị Tuyết, . tôi không nhìn thấy gì khác hơn đó là những người cùng sắc da mầu tóc, cùng nói tiếng nói như tôi, cùng chia xẻ với tôi cái buồn vui của quá khứ và hiện tại. Giúp tôi quên đi cái lẻ loi đơn độc nơi xứ người, cho tôi sống lại trong một khoảnh khắc phần nào những kỷ niệm khi xưa với người thầy, người bạn học, người bạn cùng sở làm. Tất cả những cái đó xóa bỏ khỏi trí tôi hình ảnh một ông Tổng Giám đốc HTPhát, không còn hình ảnh một ông Trưởng ty Điện lực HVThiết, hay một ông Trưởng khu Điện lực ĐSNam nữa .
Tất nhiên vì đây là một quan hệ 2 chiều, nên cũng phải nói thêm là sở dĩ tôi dễ dàng xóa được những hình ảnh đó là nhờ ông Tổng Giám đốc, ông Trưởng khu hay ông Trưởng ty đã tự cởi bỏ, không còn khoác trên người bộ áo quá khứ ấy nữa. Bởi vì chính thày Phát, anh Thiết, anh Nam, chị Xuyên, chị Tuyết, . khi đến gặp anh chị em chúng ta cũng khao khát những tình cảm như mọi người khác, khao khát được gặp lại người bạn cũ, khao khát được ngồi lại với nhau cùng nhắp ly rượu chén trà, nhắc lại những kỷ niệm vui buồn ngày trước. Bộ áo cũ đã cởi bỏ, bộ quần áo mới tạm xếp qua một bên, để khi gặp nhau tất cả chúng ta cùng mặc chung một bộ đồng phục, bộ đồng phục của người Việt tha hương. Đây chính là điểm đặc biệt của THĐLVNHN mà nhiều hội đoàn khác không có được. Thật vậy, khi giữa 2 người còn có một người cứ bo bo giữ một cái biên giới nào đó thì người kia không thể bước qua được. Giả dụ như tôi có mặc cảm tự ti khi đứng trước ai đó. Cho dẫu người ấy không tự tôn tự đại, luôn luôn khiêm nhường và tế nhị tìm cách hòa mình với tôi, nhưng nếu tôi cứ khư khư cái mặc cảm của mình thì 2 người vẫn không thể đối xử với nhau thân tình tự nhiên được. Tôi cho rằng THĐLVNHN của chúng ta đã vượt qua được cái cản trở này nên cái tình giữa chúng ta mới bình đẳng, thân mật, thắm thiết được như thế này.
Gầy dựng được tình thân hữu hôm nay là do mỗi người chúng ta đều có phần đóng góp, nhưng công lao lớn nhất phải dành cho các anh đi tiên phong trong những ngày đầu tiên thành lập, cũng như các anh các chị trong ban phụ trách "ăn cơm nhà vác ngà voi" từ bao năm nay duy trì hoạt động của chúng ta. Nào là vận động tổ chức những cuộc họp mặt hàng năm. Vận động viết bài cho bản tin, và rồi cặm cụi âm thầm sắp đặt lên khuôn, để năm nào cũng đúng vào dịp lễ Tạ ơn của người Mỹ chúng ta có bản tin trong tay. Thế nhưng các anh lại rất tế nhị trong việc nhắc nhở chúng ta đóng góp tài chánh. Chắc chắn trong chúng ta ai cũng saün sàng đóng góp và không ai thiếu tinh thần cần vận động cả, nhưng cuộc sống dồn dập ở xứ này xô đẩy chúng ta hầu như suốt 24 giờ mỗi ngày, suốt 365 ngày mỗi năm, nên có nhiều việc tôi muốn làm hoặc định làm mà rồi từ ngày này qua tháng kia vẫn chưa làm hay không làm được. Mới đây tôi học được cách thức của anh NQHưởng, anh cứ làm đều đặn thành một thói quen, hàng năm khi gửi thiệp chúc Giáng sinh cho anh Thuần thì anh kèm theo chi phiếu niên liễm. Nếu anh chị nào không có thói quen gửi thiệp Giáng sinh vẫn có thể bắt chước anh Hưởng bằng cách khi nhận được bản tin thì gửi ngay chi phiếu cho anh Quân anh Thuần. Thoạt nghe thì thấy kỳ cục vì làm như các anh đi bán báo không bằng, nhưng theo tôi mình đã thật tình với nhau thì không có gì mặc cảm cả.
Vả chăng bản tin của chúng ta không phải là tờ báo, mà chỉ là một hình thức thông tin liên lạc. Tôi lại phải xin phép các anh các chị một lần nữa để lên tiếng ca ngợi ban biên tập bản tin. Khen các anh duy trì phát hành đều đặn chưa đủ, vì như anh Thuần đã nói nhiều lần, "đều đặn hay không là chính ở các bạn đấy, nếu không có các bạn đóng góp tài chánh, bài vở cho đều đặn thì dẫu sức voi tôi cũng chẳng làm được." Ở đây tôi muốn ca ngợi cái khéo léo của ban chủ biên đã giữ cho bản tin của chúng ta luôn luôn chỉ nằm trong khuôn khổ chủ trương ban đầu ấy là thông tin, liên lạc thân hữu. Thật vậy nếu tôi không nhầm thì trong suốt mười sáu số đã phát hành không có một bài nào nhắm đả kích vì hiềm khích cá nhân hay tâng bốc vì ơn nghĩa riêng tư. Cũng không có những chuyện thuộc loại chưởng võ Hồng kông hay chuyện ái tình lẩm cẩm ướt át khiêu dâm. Những loại bài loại chuyện đầy rẫy nhan nhản trong các tờ báo khác mà độc giả chúng ta không muốn thấy có trong bản tin của mình. Thay vào đó chúng ta thích thú với mục thư tín và những bài tường thuật sinh hoạt, để qua đó biết được tin tức, hình ảnh của những người bạn mà lâu lắm chúng ta chưa có dịp nghe, gặp. Phải nhìn nhận rằng ban chủ biên bản tin đã vừa khéo léo, vừa cương quyết gạn lọc bài gửi đăng, tránh những loại chuyện rẻ tiền, đáp ứng đúng nhu cầu của người đọc.
Trước khi dứt lời tôi muốn nhắc lại cái lần
 

đầu tiên nhà tôi và tôi tham dự đại hội họp mặêt THĐLVNHN cách đây 6 năm cũng tại quận Cam này. Kỳ đó đứng trước các anh các chị tôi đã xúc động chỉ nói được lời cám ơn mà không bộc lộ hết được tâm tư của mình đối với THĐLVNHN. Tâm sự của một người được cái tình của bạn bè cảm hóa giúp tôi thoát ra khỏi cái đa nghi ngờ vực, lấy lại được niềm tin nơi điều mà cha mẹ tôi đã dạy dỗ rằng con người cần phải sống với nhau cho trọn tình vẹn nghĩa. Ngày nay tôi lại có thể tiếp tục dạy dỗ các con các cháu tôi điều ấy. Duy có một điểm khác, là tôi sẽ dùng hết lời chỉ vẽ cho các con các cháu tôi phân biệt cho rõ rằng riêng với cộng sản thì không tình không nghĩa gì hết. Nếu cứ vì tình vì nghĩa mà khoan nhượng tha thứ cho những tội ác của chúng nó thì có ngày hối hận không kịp. Tôi sẽ lấy câu chuyện ngụ ngôn "Con cáo và con quạ" của La Fontaine làm bài học cho con cháu tôi rằng không một giây phút nào, không vì bất cứ một lý do gì mà quên mất cái bản chất quỷ quyệt, xảo trá, lường gạt của con cáo Việt cộng.
Một lần nữa tôi xin cám ơn ban tổ chức đã cho tôi cơ hội nói chuyện này, và cám ơn các anh các chị đã ngồi nghe tâm sự của tôi chiếm mất khá nhiều thì giờ. Cũng xin nói thêm rằng đây là một số cảm nghĩ chủ quan trình bày trong tinh thần thân hữu mà tôi nghĩ là có thể chia xẻ với các anh các chị, chứ không nhằm vào một cá nhân nào trong THĐLVNHN chúng ta ca. Nếu có lời nào nghịch ý không thuận tai, xin các anh các chị bỏ qua cho.

Nguyễn Trọng Dũng