HỌC LẠC & ĐÔNG HỔ
Bài của ĐCN
 Học Lạc  - "Thơ Chỉa":
Có thơ "Chôm'' thì phải có thơ "Chỉa". Chôm thuộc vần bằng (ở Nam kỳ thì kêu là vần bình), còn  Chỉa thuộc vần trắc. Nói tới thơ thì 99.9999% là vần bình, chỉ có một số rất ít là vần trắc và phần lớn là thơ diễu hoặc chọc ghẹo, bởi vì như mọi người đều biết, cái vần trắc thì làm sao mà làm thơ mùi mẫn cho được.
Theo tôi biết thì 2 kiện tướng về cái loại thơ nầy là 2 ông Nam kỳ: Xưa thì có Học Lạc (có tên đường ở trong Chợ lớn), về sau thì có Đông Hồ Lâm Tấn Phác (phu quân của Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội và cũng là Nàng Út, chủ "quán" Yễm Yễm Thư Trang" ở Tân định). Hồi tôi còn học Tiểu học, có viết Chánh tả hoặc phải học thuộc lòng mấy bài văn hoặc thơ trích từ tậâp "Lời Hoa" của Trí Đức Học xá xuất bản từ Hà tiên thì thấy quá sức là hay. Tới chừng lên Sài gòn học CĐĐH, tôi có ghé qua Thư trang thì thấy Nàng Út kiều diễm và nên thơ bốn năm chục năm xưa, nay đã phải "ăn trầu ngoáy", răng rụng ráo trọi, đúng là "tang điền biến vi thương hải"!
Trở lại thơ vần trắc, xin bắt đầu với Học Lạc: Là người có tài văn chương chữ nghĩa rất cao nhưng vào thời nhiễu nhương nước mất (Pháp đã chiếm Nam kỳ), nhứt định không đi thi. Mà làng xóm ở VN hễ có học thì phải có danh phận, chức tước, đàng nầy không đi thi, không làm quan thì chức gì bây giờ? Cho nên mấy ông Làng mới tặng đỡ cái chức "Học Sanh" NV Lạc! (về sau có lẽ bị "chủ quán" chặt bỏ bớt mà thành ra là Học Lạc). Tới kỳ cúng Đình Thần hằng năm, lễ vật cúng tế của các quan viên như: Đại Hương Cả, Hương Trưởng, Hương Chủ, Hương Thân, Hương Sư, Hương Quản, ... đều có đanh thiếp kèm theo. Tới phần ông Học Sanh thì danh thiếp kiếm hoài không thấy, chỉ có miếng giấy dán trên mâm xôi đề 2 chữ "Thằng Lạc"! Sau đó thì ông bị Làng hỏi tội và phạt vạ, tức quá cho nên có bài thơ vần trắc (cũng để chọc ghẹo) sau đây:
Vành mâm xôi tên đề Thằng Lạc
Nghĩ mình ti tiểu không đài các
Văn chương chẳng phải bọn mèo quào
Danh phận không ra cái cốc rác
Đã chẳng bơ phờ thẹn núi sông
Dám đâu vút vắt ngạo cô bác
Sự tình ai có thấu cùng chăng
Trong có Ông Thần, ngoài cặp hạc !

Đông Hồ - "Ba Việc Đáng Tiếc":
Trong một vi thư, anh Diệp có nói "chơi email mà bỏ qua mấy ngày không làm gì thì v...v..." khiến tôi nhớ đến Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phát. Ông  có viết câu châm ngôn dán ở Trí Đức Học Xá tại Hà tiên thời tiền chiến, về "Ba Việc Đáng Tiếc" trên đời:
Một là Hôm nay bỏ qua
Hai là Đời nầy chẳng học
Ba là Thân nầy lỡ hư
Còn một chuyện nữa mà tôi nhớ như in, khoảng 1969(?) tôi nằm trên tấm ván cửa cũ tạm làm giường tại hậu liêu của một ngôi chùa trong Chợ lớn,  chờ nghe mục văn chương trên Đài phát thanh Sài gòn do ông phụ trách mà tôi rất thích, thì nghe tin rụng rời: Ông đã đột ngột qua đời khi đang say sưa ngâm thơ về Hai Bà Trưng nhân ngày giỗ Hai Bà, cho các sinh viên trong giảng đường tại Đại học Văn khoa. Người thông báo tin buồn có nói thêm đó là bài thơ của Nữ sĩ Ngân Giang mà Ông tán thưởng hết lời vì đây là lần đầu tiên có người nói lên nỗi sầu riêng tư của vị nữ vương lẻ bóng. Có mấy câu tôi còn nhớ  như sau:
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trắng lạnh đầu voi
Chàng ơi! Điện ngọc bơ vơ quá
Chênh chếch trăng tà bóng lẻ loi ...
Ngâm tới đây thì ông gục xuống bàn rồi đi luôn về cõi nước Nhược non Bồng.....
Ghi Thêm: Vừa email xong thì trực nhớ tới bài tưởng niệm Đông Hồ của Nguyễn Hiến Lê: Trước đó mấy tháng nhân dịp tất niên tại Yễm Yễm Thư trang của Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, nơi đã được trang trí với rất nhiều hoa xuân, đặc biệt có những cành mai đem về từ Hà tiên, quê hương của nhà thơ. Nhân dịp có nhiều văn nhân thi sĩ tham dự, thi sĩ Đông Hồ đã cảm tác mấy vần thơ trong đó có hai câu:
Phồn hoa giành chút vui phong nhã
Kìa đám phù vân đã biến thiên!
Và đó cũng là câu thơ tiên triệu cái Tết đầy thi vị cùng các bạn văn chương cuối cùng trong đời ông.
ĐCN