MỘT KỶ NIỆM

 Bài của Đinh Văn Trai
(Để tưởng nhớ anh NM Linh,
với những kỷ niệm một đời vang vọng)

Em ơi, lửa tắt bình khô rượu,
Đời vắng em rồi say với ai!
Đã lâu lắm rồi, mỗi lần nghe ai đọc, ngâm, hoặc thấy hai câu thơ trên là tôi nhớ đến anh Linh. Anh thường ngâm lớn tiếng dưới giàn hoa giấy trước nhà, nhất là buổi trưa thứ bảy sau giờ cơm trưa, lúc anh sửa soạn rời cư xá Đa nhim để đi Đà lạt thăm ... "người yêu"!
Nhà máy và cư xá như một ốc đảo bình yên, gần như tách biệt với chung quanh đang chìm ngập trong chiến tranh. Một nơi chốn cô quạnh pha lẫn hoang dã của chốn "rừng thiêng nước độc", đìu hiu với tiếng vượn hú vọng đến từ khu rừng cạnh đó, bên kia suối, lúc bình minh, trưa với tiếng gà rừng gáy nghe buồn não nuột, hoang vắng đến mê hoặc, khi chiều chiều nhìn mây trôi lãng đãng vươn đỉnh đèo; hay những chiều cuối thu với những sợi nắng vàng nhạt trải dài vất vưởng trên ngọn cây hay lang thang trên lối đi, ngọn cỏ, lưng đèo, rồi đến nơi vô định trong tiếng chim rừng xao xác gọi nhau trong buổi chiều tà. Lòng bâng khuâng vương nỗi buồn man mác khi chợt thấy cánh hoa dại lẻ loi bên rừng hay cánh chim chiều đơn chiếc lạc loài hối hả tìm chỗ ẩn qua đêm, mà nghĩ đến thân phận mình với đêm đêm trong cái lạnh gây gây của núi rừng ẩn chứa những bất trắc. Cũng thật thú vị khi thơ thẩn trên lối đi quanh cư xá dưới ánh trăng huyền ảo trong tiếng rì rào thoảng hương lan rừng mê hoặc hoặc hương tóc của người tình với đêm nào kề vai dưới vòm trời với muôn vàn vì sao của một thuở đam mê đắm chìm trong mơ ước.
Đón Tết một mình tại cư xá thì nỗi cô quạnh càng thấm thía đến cùng cực của một nơi chốn hoang vắng. Tỉnh dậy sau cơn say, nghe tiếng lá khô lăn trên đường mà ngỡ là bước chân ai đó ngập ngừng, e lệ. Trong nắng xuân rực rỡ, ngoài tiếng lá rì rào trong gió, cư xá im vắng làm tê tái cõi lòng nặng trĩu nỗi cô đơn đến tuyệt vọng, tâm hồn lặng chết theo thời gian mà ý niệm về cái Tết chỉ là con số trên tờ lịch.
Những ngày tháng hắt hiu vẫn cứ trôi dần trong tiếc nuối cho đến một đêm ...
Ngày đó vẫn như mọi ngày, buổi chiều anh Linh có lên Đơn dương quan sát một chân móng của đường ống bị nước xói mòn. Và đêm thì có đoàn cải lương đến diễn ở Sông pha, một thôn xóm độ ngàn người cả Kinh lẫn Thượng, với một chi khu có khu gia binh, một nhà máy thủy điện có cư xá. Cơm chiều xong, ai có gia đình thì quây quần trong nhà, ai độc thân thì rủ nhau lang thang xóm dưới uống cà phê hay bia trong khi chờ giấc ngủ.
Trong cảnh tĩnh mịch của núi rừng về đêm với không khí ngột ngạt gây gây lạnh, bỗng vang lên tiếng ầm ầm rung chuyển cả một khu rừng. Tiếng vọng lại từ vách núi nghe tưởng chừng như giờ tận thế. Kinh hoàng, tất cả chúng tôi đều chạy về cư xá, tất cả đều lo sợ nhưng không ai nói ra. Từ cư xá nhìn lên, nhà máy như bồng bềnh trong những dòng nước lấp lánh ánh hỏa châu, cùng những tiếng ầm ầm trầm đục với tia lửa do các tảng đá bị cuốn trôi chạm nhau. Tất cả bàng hoàng, ngơ ngác, đi tìm anh Linh, và tất cả theo về nhà anh.
Đang trực ca lúc đó là Âu Dương Phước (có lẽ là cháu 72 đời của Tây độc Âu Dương Phong). Tất cả hệ thống điện từ nhà máy đến cư xá vẫn bình thường. Từ nhà, trong dáng điệu bình tĩnh và tự tin, gọi điện thoại cho Phước, anh Linh vừa nói vừa đưa tay xoay người ra dấu như thể là Phước có thể nhìn thấy anh từ xa:
- Anh Phước, bình tĩnh nghe tôi nói đây, quay mặt nhìn hướng về tủ điều khiển, anh sẽ thấy có một tay nắm màu đỏ nằm trong hộp nhựa, anh hãy phá bỏ hộp nhựa và nắm cần giật mạnh cho tôi. Anh nhìn thấy chưa?
Tất cả chờ đợi trong im lặng nặng nề, chỉ nghe tiếng thở dồn dập của nhau. Chỉ thoáng giây mà tưởng như dài lắm. Vài giây sau tiếng Phước trong máy hốt hoảng la lớn đến nỗi tôi đứng cạnh anh Linh nghe rõ ràng từng tiếng:
- Em không biết không thấy gì cả, anh ơi! Em sợ quá rồi!
Liền sau đó anh Linh trả lời:
- Được rồi, tôi sẽ lên phụ với anh!
Từ cổng cư xá nhìn lên nhà máy, đèn lúc đó vẫn còn sáng. Chợt thấy những đốm lửa lập lòe trên mấy nóc nhà cạnh đó. Thì ra một số gia đình người Thượng vì quá sợ đã leo lên đó, đem theo gùi và xà gạc, gia tài của họ, đang phì phèo thuốc lá.
Phước đang ở nhà máy một mình, rất cần sự có mặt của anh Linh, vì lúc nào anh cũng là linh hồn của nhà máy. Vừa qua khỏi cổng nhà máy thì chúng tôi gặp dòng nước chảy tràn qua đường, dòng nước oan nghiệt lấp lánh ánh hỏa châu chảy cuồn cuộn trong tiếng ầm ầm trầm đục nghe rờn rợn tưởng như đang ở chốn nào. Cảm nhận được sự nguy hiểm nên tất cả tự xếp hàng dọc băng qua. Đi đầu là Đức "gò hàn", Khánh, anh Linh, anh Kim, tôi, anh Ân, Giàu, Đức "cận", và Trọng.
Đang băng qua dòng nước, chợt có tiếng ai đó la thất thanh:
- Anh Linh và Khánh bị nước cuốn trôi mất tiêu rồi!
Tất cả đành quay trở lại, kể cả Đức "gò hàn", dù Đức đã qua được dòng nước rộng độ 4 hoặc 5 thước. Chúng tôi chạy sang Chi khu báo tin không may với Trưởng Chi khu và xin bắn thêm nhiều hỏa châu để may ra anh Linh và Khánh sẽ dễ dàng tìm đường về một khi bị cuốn trôi đâu đó trong rừng.
Thiếu anh Linh, cả bọn như rắn mất đầu, bị hụt hẫng, mất tinh thần. Không biết tìm đâu, chúng tôi đành quay về cư xá để báo tin cho những người khác, đang đi loanh quanh trong cư xá vì không biết làm gì ngoài những ý nghĩ lo âu và chán nản với chuyện không may xảy ra.
Tất cả ánh đèn mờ dần rồi phụt tắt. Vạn vật chìm trong yên lặng và dòng nước cũng thôi chảy. Trong cái yên lặng dưới ánh hỏa châu vàng lạnh lung linh ma quái, đã thấy phảng phất bóng dáng của tử thần. Trong thời chiến, ở đâu có ánh hỏa châu thì ở đó có tử thần lảng vảng.
Thì ra, khi đường ống thủy áp bị vỡ, van cánh bướm tại nhà van đã tự động đóng lại khi lưu lượng vượt quá 24 mét khối/ giây. Do đó chỉ một khối lượng nước có hạn thoát được ra khỏi hồ chứa. Nếu không, chắc là ...
Cùng nhau đứng trên đường trước nhà anh Linh để bàn phương tính kế, chợt thấy có người đang đi tới, từ hướng bìa rừng, dáng điệu mệt mỏi. Trong ánh sáng mờ mờ của hỏa châu, khi bóng người đến gần chúng tôi mới nhận ra là anh Linh. Mọi người đồng thanh la lên, reo mừng như vớ được phao khi sắp chết đuối. Có đứa ôm chầm lấy anh dù lúc đó cả người anh đang được bọc một lớp sình, tóc bết bùn dính sát đầu anh, trông giống như con cá lóc mới bắt từ dưới đìa lên. Anh cho biết nhờ vướng dây điện nên không bị nước cuốn trôi, nương theo đó anh tìm về được cư xá. Còn Khánh thì mãi đến nửa đêm mới tìm được đường về. Sau này Khánh phải đi Đà lạt chữa hốc mũi cả tháng mới lành, hốc mũi bị ung mủ, có lẽ do hít sình cát lúc bất thần bị nhận chìm trong nước.
Dù mệt mỏi, không kịp tắm gội, anh dẫn đoàn người lên lại nhà máy. Không ai nói với ai một lời, dò dẫm trong ánh đèn pin đi trên lớp bùn nhão nhoẹt lành lạnh nổi da gà. Khi chung tôi đến được phòng điều hành thì thấy Phước có vẻ bình thường trở lại do có đông người và có cả anh Linh. Anh Linh vừa vào thì hướng mắt về đồng hồ chỉ cao độ mực nước trong giếng thủy giao, anh hỏi Phước:
- Anh có ghi được cao độ mực nước dao động trong giếng thủy giao không?
Phước bối rối trả lời:
- Dạ, em không có ghi.
Hỏi chỉ để mà hỏi trong tiếc rẻ mà thôi, vì anh dư biết Phước không còn tinh thần để mà nghĩ đến, dù nó nằm ngay trước mắt. Tiếc rẻ về một chi tiết kỹ thuật đã không được ghi lại. Sau khi dặn dò Phước vài điều, anh ra hiệu cho tất cả rời nhà máy. Suốt đoạn đường, nối đuôi nhau mà đi trong yên lặng, lo âu đè nặng lấy mọi người, nhất là anh Linh, vì hình như đôi vai đang trĩu xuống với lưng hơi cong trong dáng đi chầm chậm. Lúc đó, anh Linh đã quá mệt.
Đêm đó, trời không trăng nhưng rất trong đẹp với muôn ngàn vì sao lấp lánh.
Ngày nay thì tất cả chúng tôi tan tác nổi trôi theo mệnh nước.
Anh Kim có lúc là Trưởng Chi nhánh Điện huyện Thống nhất, Biên hòa, sau xin nghỉ hưu, vui với bia rượu cùng bạn bè chòm xóm bên đám ruộng đất hương hỏa ở quận 8 Sài gòn.
Anh Ân có lần mưu tìm về Sài gòn nhưng không được, lại phải quay về chốn cũ Phan rang với Công ty Điện lực 2, làm Phó Chi nhánh.
Phước, nay là Âu Dương lãng tử, dạy nghề điện tại Trung tâm dạy nghề tỉnh Bến tre.
Đức "gò hàn" an phận với công việc bảo trì tại Nhiệt điện Thủ đức.
Trọng, gặp nhau trong trại tù, làm việc tại Công ty Xây dựng điện, nơi có rất nhiều người của Điện lực cũ làm việc, sau này đổi chỗ làm và tôi không có dịp gặp lại.
Giàu, rời Đa nhim đi lính rồi đào ngũ, nay là Phó Giám đốc Công ty Điện lực 2, Sài gòn.
Đức "cận" và con trai mất tích trên đường vượt biển từ Vĩnh long, quê vợ.
Khánh, nghe nói vượt trại không thành mùa đông 75, đành bỏ xác nằm lại trong uất nghẹn bên cạnh một số bạn tù dưới cánh máy bay Skyrider phế thải cạnh phi đạo của phi trường Trảng lớn, Tây ninh, nơi trước đây là Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn III, sau 75 là trại tù.
Và anh Linh thì nằm đó, cách chốn cũ và cả Khánh đến nửa vòng trái đất.
Khuya nay ở chốn này, dưới ánh trăng rằm của tiết trời chớm thu, tôi ngồi chờ hoa quỳnh nở mà nghĩ đến anh Linh với những kỷ niệm của một thuở ở Đa nhim. Nhớ đến anh, tôi ghi lại chuyện đêm vỡ đường ống thủy áp, một trong những kỷ niệm. Tôi ghi lại đây chuyện đó như là một nén hương lòng thắp lên trong đêm vắng mà mong ước có một lần được viếng mộ anh, thắp nén nhang. Không như với Khánh, thấy nằm giữa bạn tù với mộ bia là một miếng ván mà ai đó, cũng là bạn tù, khắc với nét chữ vụng về, hối hả, nhưng không dừng lại được, không thắp được nén nhang vì có chắc cũng không dám. Lúc đó người chết và kẻ sống đều là tù cả.
Âu cũng là ... phải không anh Linh thân mến?
Hoa nở để mà tàn
Trăng tròn để mà khuyết
Bèo hợp để mà tan
Người gần để ly biệt.
Hoa thu không nắng cũng phai màu,
Trên mặt người kia in nét đau!

Đinh Văn Trai
(Tháng 9 - 1998)