NOSTALGIA 
           Phiếm bàn của Nguyễn Quang Hữu

Tiếng Việt là "Sự tưởng nhớ".
 Một sinh vật trên trái đất khi đã có trí nhớ thì tự nhiên có tưởng nhớ. Nostalgia là một danh từ y học của Hy-lạp (Grec), xuất hiện năm 1678, gồm có chữ nostos  là trở về và algia để chỉ một căn bệnh.
Suy nhược và tiều tụy vì tưởng nhớ quá nhiều về xứ sở gốc hay một nơi nào mà mình đã sống ở đó quá lâu. Nỗi buồn của di dân, người đi đày, tiếng Anh là "homesickness".
Người con gái Việt nam chỉ có đi lấy chồng xa mà cũng :
Chiều chiều ra đứng cửa sau,
Trông về quê Mẹ ruột đau chín từng.
Nhà văn J. Dos Passos cũng đã có câu: "Bạn có thể tách một con người ra khỏi xứ sở họ, nhưng không bao giờ tách được cái xứ sở ra khỏi con tim của họ."
Loài chim di trú (migrateur) thường thường cũng tìm cách trở lại nơi nó sinh sống rất sớm.
U sầu hoặc buồn rầu vô cớ vì luyến tiếc một việc nay đã đổi thay, một thói quen bị cắt ngang, niềm đau của dang dở hay ân hận về một truyện gì xảy ra mà mình không hay biết.
Một ông già người Mỹ, năm nay đã 106 tuổi, chiều nào cũng phải bắc ghế ngồi nhìn ra một hòn đảo nhỏ, trên đó có ngọn đèn pha, nơi mà ông đã sống gần như cả cuộc đời. Đang làm trưởng sở cho một công ty lớn, ông từ chức xin đi làm người gác đèn pha. Ông làm nghề này từ hồi ngọn đèn còn được đốt bằng dầu, đêm đêm phải quay bằng tay, đọc tin tức khí tượng cho tàu, hụ còi sương mù, v.v... Ban ngày rỗi rảnh thì đọc sách. Cuộc sống này đã làm cho Ông thọ thêm được mười tuổi. Sau đó đèn pha được quay bằng động cơ điện. Bây giờ bóng đèn là halogène, cái chòi đẹp đẽ hồi xưa được thay thế bằng một trụ sắt vô cùng trơ trẽn. Chương trình đều do computer điều khiển, hơn nữa trên các tàu đã có quá đầy đủ trang cụ về vị trí tàu hay thời tiết nên cái nghề này nay đã biến mất.
Nostalgia nặng hơn là "hồi tưởng", hay "luyến lưu" như đa số chúng ta mắc phải. Sở dĩ vì thời đại chúng ta là chiến tranh, nay đây mai đó, mọi sự thay đổi hàng ngày. Con người đã "chai đá", hơn nữa cái quê hương mà chúng ta đã phải rời bỏ, có chăng chỉ còn trong tâm khảm một vùng ký ức (memories) xa xôi không đến nỗi phải đi bác sĩ.
Năm 1954, một triệu người Bắc di cư vào Nam, trong đó có những bà mẹ quê, lần đầu tiên rời nơi chôn rau cắt rốn, rời luỹ tre xanh, đã nhớ nhà quá phải vào Dưỡng trí viện  Biên hoà. Một bà cụ hồi đó (chuyện thực), cứ mỗi lần có ai tới cụ lại rên lên: "Này anh ạ, nhà tôi nhà trên ao dưới, mùa nào thức nấy, trời ơi! Cái cây mít, trái nó sai tới tận gốc, trời, cái cây chanh ở bờ ao ... bây giờ bỏ hết vào đây chui rúc ở cái hốc cái hẻm này." Được ít lâu bà cụ không ăn không ngủ rồi qua đời.
Dân thành thị thì đỡ hơn, nhưng vẫn thích nghêu ngao bài : Tôi xa Hà nội ...
Đám người Nam tập kết ra Bắc trong khoảng 55-75, khi trở lại được miền Nam đã than: "Chèng đéc! bao nhiêu năm, chỉ thèm được nghe một câu dzọng cổ, sao mà nó mát lòng mát dạ dzậy chớ !"
Những du học sinh thời Việt nam cọng hoà ở Âu châu cũng đã có những vụ nhảy lầu, hoặc mất bình thường vì buồn quá.
Sau năm 1975, hơn một triệu người Việt, chuyến này to tát hơn, là đã rời Việt nam và có mặt trên khắp năm châu. Có người đã so sánh với dân Do thái vào thời "Exodus". Ở những xứ có đông người Việt như ở Mỹ, Pháp hay Úc, tình trạng Nostalgia ít xảy ra nhưng ở những xứ nhỏ Bắc Âu, thí dụ Hòa lan, tình trạng người Việt vào bệnh viện thần kinh quá nhiều, đến nỗi chính phủ xứ này phải lên tiếng báo động! Một phần vì ngôn ngữ ở những xứ này khó học, tính tình dân bản xứ lạnh lùng, nhìn người ngoại quốc như một quái vật.
Thế hệ trước của dân da đen ở Mỹ cũng như vậy. Họ tụ tập nhau uống rượu và ca hát, nhảy múa. Ray Charles phải la lên: "Donít worry, be happy".
Để xoa dịu nỗi buồn "xa quê hương nhớ mẹ hiền", người Việt ta có hai món ăn.
Về tinh thần, ta sản xuất lại những cuốn sách sử, văn chương, truyện của những năm xưa,  viết hồi ký, v.v... Coi lại những cuốn phim nhạc. Nhìn lại những bức tranh, đồ vật cũ. Về những video sản xuất tại Mỹ, ngoài những bản nhạc "kỷ niệm" đã có chêm thêm những bản nhạc mới của các nhạc sĩ thời nay và chuyển dịch một số bản nhạc thịnh hành ngoại quốc. Phụ đệm với các ca sĩ, ngoài hình ảnh quê hương thì là các vũ công với những thân hình đầy sức sống. Cái đó rất tốt vì chúng ta không hoàn toàn quay về quá khứ, dễ bịnh. Nghe nói là sắp xuất hiện những cuốn phim dài.
Mới đây cũng nhắm vào cái "hướng về quá khứ ấy" của chúng ta mà từ Việt nam tung ra những cuốn video nhạc nói về những tác giả xa xưa như Văn Cao (chết 1995), Hoàng Giác, Tô Vũ, Châu Kỳ, v. v... Băng bán chạy vì giá tương đối rẻ và ai cũng muốn coi cho biết mặt các nhạc sĩ mà xưa nay chỉ mê qua lời ca, nét nhạc. Một Đoàn Chuẩn đã nói không nổi phải nhờ bà vợ nói giùm. Hình ảnh một Đoàn Chuẩn năm nào với complet trắng, lái xe décapotable trên bãi biển Đồ Sơn, với những bản nhạc trữ tình như "Lá đổ muôn chiều", "Chuyển bến", v.v... , một tâm sự: "có những đêm về sáng, đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi?" thì sau khi coi cuốn phim chỉ còn lại trong ta một xót xa.
Vào những năm sáu mươi, đài truyền hình Pháp, quãng xế trưa của ngày thứ năm mỗi tuần đều có một chương trình mệnh danh là "Nostal-gie", gồm những ca kịch sĩ đã về già. Họ cũng hát, cũng diễn kịch hay kể chuyện thời còn trẻ. Lúc đầu dân chúng rất hâm mộ, cũng như chúng ta, "Ông ấy bây giờ già như vậy á?"  Sau đó báo chí chỉ trích là đã gây một ấn tượng bất nhẫn cho đại đa số khán giả. Chương trình phải dẹp bỏ. Kế đó mới có phong trào tài tử tự tử như James Dean, Dalida, vì không muốn cho khán giả thấy cái già của mình.
"Thân hữu Điện lực" phải chăng cũng là một viên thuốc an thần cho những kẻ đã ở trong nghề "điên nặng". "Được gặp lại cha đó, tự nhiên nhớ lại những ngày ở nhà máy!"
Ngoài tinh thần là các món ăn vật chất. Vào cái thời "phồn vinh giả tạo" của Sài gòn  (nhưng ăn thì ăn thật), những món ăn rất tầm thường cũng đã để lại trong ta cái hương vị mà mỗi lần nghĩ lại vẫn thấy thèm. Cũng dựa vào cái " nhớ " này của chúng ta mà tại Mỹ hiện nay có bò bảy món "Ánh Hồng", chè "Hiển Khánh", v. v... Tại Quận 13 Paris có đầy phở như Phở Hòa, Pasteur, Hũ tíu tôm cua. Nhưng đều là các chú chệt bán!
Có nhiều người đã về tận Việt nam tìm ăn lại các món đó nhưng đều kết luận là: "Cái miệng lưỡi mình bây giờ nó khác trước, không thấy ngon như thời ấy."  Miệng lưỡi của quý vị vẫn vậy, nhưng cái con người về tâm tư, về không gian, về thời gian cũng đã khác. Tại sao có nhiều món hiện tại ngon hơn lại không ăn? Tình cảm con người nó rắc rối như vậy đó. Mẹ ta xưa cho ta ăn canh tép nấu với khế, chan vào cơm nguội. Vì canh ngon hay vì thương nhớ Mẹ mà mỗi lần nghĩ tới,  chỉ ước gì có dịp được ăn lại cơm nguội chan canh khế!
Ông trời đã cho chúng ta cái "bộ nhớ" quá nhiều  "Giga" vì vậy mà nó đã vượt qua cả cái kiếp này mà vẫn còn nhớ!
Thơ thẩn chiều sương một bóng ma
Ngẩn ngơ tìm lại chuỗi ngày qua...
Ký ức, nhớ nhung, nỗi buồn là cái kho tàng quý báu của con người. Bao nhiêu tác phẩm, tác giả nổi tiếng trên thế giới cũng chỉ dựa vào cái bệnh Nostalgia của chúng ta. Tại sao ta lại mang mang buồn khi nghe bài "Yesterday" của The Beatles? Gần đây nhất là cuốn phim vĩ đại "Titanic": câu chuyện do một bà già 101 tuổi kể, nước mắt như mưa!
Cái "nhớ" nó trang trí cho đẹp cuộc đời của chúng ta như ngắm nhìn một bức tranh xưa nhưng không nên để nó chi phối toàn bộ tâm trí ta. Chấp nhận và vui sống cái hiện tại, quá khứ không thể nào trở lại được. Nhớ nhiều cũng vô ích, nhớ lại cái hạnh phúc cũng không còn được hạnh phúc,  mà nhớ lại cái đau khổ nó còn đau khổ hơn! Sống cũng như thả người trôi theo giòng nước, biết lợi dụng nước trôi mà nhìn hoa nở,  chim bay, hay hoài công tìm cách bơi ngược lại giòng.
Trước khi đọc câu truyện ngắn và có thật sau đây, xin giới thiệu bài thơ "Trôi" của Văn Cao :
Tôi thả một nhánh lá
nhánh lá trôi,
Tôi thả một cánh hoa
cánh hoa trôi,
Tôi ghì thật chặt em
em vẫn ... trôi!
Anh ta lúc đó hai mươi lăm tuổi, vừa được Công ty Hoả xa chuyển về làm việc ở một ngôi làng nhỏ, miền bắc nước Đức. Nhiệm vụ của Anh là kiểm soát, bảo trì nhẹ một đoạn đường rầy dài quãng năm cây số, trên con đường xe lửa liên tỉnh, nối liền nhiều làng với nhau.
Đang tuổi thanh niên đầy sức sống, yêu đời, sáng nào cũng đeo trên lưng một túi đựng đồ ăn, nước uống và trước ngực một chiếc khoá lớn để siết bù loong ... Anh ghé nhà ga chào anh bạn bán vé rồi huýt sáo miệng hăng hái bước dọc trên đường rầy. Trưa đến chàng ngồi vắt vẻo trên thành cầu xe lửa bắc ngang một con lạch, vừa ăn trưa vừa nhìn theo nước chảy. Dân chúng trong làng có ai đi qua cũng vẫy tay chào Anh. Đoạn đường chót trong ngày là tới được làng bên kia, ghé vào quán của Cô Héléna uống một ly bia rồi lấy xe lửa trở về.
Xuân, hạ, thu, và đông qua đi nhẹ nhàng. Chàng và Héléna yêu nhau. Có khi chàng ở lại làng bên kia, có khi Héléna theo chàng về bên này. Những ngày làm việc lại hăng hái và vui vẻ hơn, bữa trưa chàng ngồi ven cầu ăn trưa xong là lấy hình của Héléna ra ngắm, miệng tủm tỉm cười sung sướng.
Đầu hè năm sau, Héléna tới cho chàng hay là nàng đã có thai nhưng dấu ông bố sợ ông này mắng và đuổi ra khỏi nhà. Chàng tới thẳng nhà Héléna gặp ông bố, kể rõ mối tình giữa hai người và xin cưới Héléna. Ông bố vui lòng làm bữa tiệc nhỏ, có bia, rượu, và đàn accordéon. Một nhóm hàng xóm láng giềng ôm nhau khiêu vũ ... chúc mừng!
Sáng hôm sau tới nhà ga anh bạn hỏi :
- Sao, Héléna khoẻ không?
Chàng vòng tay ra trước làm một cử chỉ diễn tả cái bụng to vượt ra, rồi hai người cùng cười ha hả.
Mùa đông năm đó Héléna đau đẻ, chàng phải mượn một chiếc xe ba bánh có động cơ để đưa Héléna đi sanh. Tuyết ngập quá đầu gối, chiếc xe bị hư máy, chàng chạy về làng kêu cầu cứu. Khi trở lại thì Héléna đã bị lạnh quá ngất xỉu.
Hôm sau chàng vẫn không nghỉ việc, vẫn đi trên đoạn đường rầy nhưng nôn nóng bồn chồn, trưa không nghỉ ăn trưa mà đi thẳng tới nhà ông bố vợ :
- Mau lên, mau lên. Ông phải có một bó hoa lớn và đi với tôi gấp.
Căn nhà trống trơn, chàng vội vã mua một bó hoa hồng rồi hớn hở chạy tới nhà hộ sanh. Vừa tới nơi chàng đụng đầu một bà "Sơ":
- Tôi muốn được gặp Héléna?
- Rất tiếc, chỉ dành riêng cho thân nhân.
- Tôi là cha đứa nhỏ!
Bà Sơ im lặng bỏ đi. Chàng đã linh cảm một cái gì không hay. Một bà y tá đi tới trước mặt anh, dáng điệu nghiêm trọng. Chàng lắp bắp trong miệng :
- Tôi muốn gặp Héléna và...
- Bà Héléna sau khi sanh đã quá kiệt sức. Chúng tôi tận tình cứu chữa mà không được. Bà đã qua đời hồi khuya. Còn đứa nhỏ, một cháu gái, phải vài ngày mới thăm được.
Chàng lảo đảo ngồi phịch xuống sàn nhà. Cũng bà này tối hôm qua đã nói với chàng là cứ yên chí về đi, ngày mai nhớ đem một bó hoa thật đẹp vào nhé.
Tối hôm đó, trong nhà hộ sanh, bà Sơ đang dỗ đứa bé bằng cái bầu sữa :
- Mày không được biết mặt người đã sanh ra mày, mày cũng không có tên.
Bà liếc thấy bó hồng của ai mới cắm trên lọ bên cửa sổ :
- À ta gọi mày là "Rosina".
Buổi sáng anh bạn ở nhà ga nhìn chàng ái ngại. Hai người chỉ sẽ gật đầu chào nhau rồi chàng vẫn tiếp tục nhiệm vụ. Trưa đến bên thành cầu, ăn trưa xong chàng dở cuốn "an bum" của Héléna ra coi, từ lúc nàng còn nhỏ, ngây ngô đi học tiểu học, rồi lớn lên tới bức cuối là bức nàng tặng chàng. Cứ mỗi lần như vậy chàng lại nấc lên, hai mắt đỏ ngầu.
Tới năm hơn 45 tuổi thì chàng nhận được giấy nghỉ việc vì công ty hoả xa đã huỷ bỏ đoạn đường này. Bây giờ dân chúng lấy xe buýt trên trục xa lộ mới làm.
Chỉ một thời gian ngắn sau, người ta lại thấy chàng xuất hiện trên đoạn đường rầy cũ. Vẫn nón cát kết, vẫn quần áo xanh và chiếc khoá lớn lủng lẳng trước ngực. Buổi trưa vẫn ngồi trên cầu ăn và dở cuốn dán hình ra coi .
Có nhiều người gặp đã chào chàng :
- Ông đi hóng mát đó hả? Tại sao có nhiều nơi đẹp hơn chỗ này nhiều mà không đi?
Chàng chỉ sẻ gật đầu, có khi không chú ý tới.
Ngày nào cũng đều đều như vậy, có người đã phải đem xe hơi ra cho nằm ngang trên đường sắt, rồi ngồi vờ ngủ để cảnh tỉnh chàng. Con nít chạy chơi trên đường rầy và mở bù long ra nghịch. Thấy vậy chàng vẫn loay hoay siết bù long lại. Dần dần đoạn đường sắt bên kia cầu không còn nữa, chiếc cầu đã sập. Con lạch không còn nước. Chàng chỉ đi tới đó rồi quay trở lại.
Bây giờ Rosina đã có chồng. Hai vợ chồng mở một tiệm ăn nhỏ ở trong làng. Chiều về chàng lặng lẽ ghé quán Rosina ăn tối, không nói với ai một lời. Nhiều lần Rosina đã nhắc:
- Cha đừng có đi kiểm soát đường rầy nữa, dân trong làng nói cha là một ông điên.
Công ty hoả xa có viết giấy về nói là không có nhân viên nào của công ty làm việc trên đoạn đường này. Nếu có tai nạn hay việc gì xảy ra, công ty hoàn toàn không chịu trách nhiệm.
Hôm nay chàng cũng tới được cây cầu sập nhưng bước đi trong tuyết đã quá khó khăn, vấp ngã nhiều lần. Râu tóc đã trắng phơ, vừa phủi tuyết vừa dở cuốn hình ra ngắm lại Héléna rất lâu. Trên đường về, chàng đi thẳng tới tiệm chụp hình trong làng và đưa cuốn dán hình cho ông thợ:
- Những bức hình này đều do ông chụp, tốt nhất là tôi đưa lại cho ông.
Nói rồi chàng bỏ đi thẳng. Anh thợ hình vẫn còn ngơ ngẩn không hiểu gì cả! Về tới nhà, chàng thấy chồng của Rosina đang lom khom ngắm máy ảnh vào một bông hồng đỏ cắm lên đống tuyết trắng. Vừa thấy ông ta, anh này quay ngay máy lại:
- Đứng yên cho tôi chụp một tấm hình!
Ông ta thản nhiên đi vào nhà, vừa lẩm bẩm :
- Chụp để làm gì ?
- Để làm kỷ niệm, để nhìn lại những cái gì đã qua.
- Nhìn lại để làm gì?
- Để sống lại cái vui cái buồn của thời đó!
Ông ta đứng yên trước cửa và nói:
- Níu kéo thời gian để làm gì?
Vừa lúc đó Rosina từ trong nhà chạy ra bá cổ chàng hôn lên má:
- Hôm nay là sinh nhật của con, ba có nhớ không ?
Ông ta gật đầu nhè nhẹ và liếc nhìn Rosina trong chiếc áo của Héléna ngày cưới. Chồng của Rosina trở vô, đốt đèn cầy trên chiếc bánh sinh nhật. Trong lúc Rosina thổi đèn cầy anh ta vừa chụp hình vừa hát lớn:
- Happy birthday to you, happy birthday to Rosina !
Sau đó nàng cắt một miếng bánh và cầm một ly rượu lên mời Papa. Ông này nghẹn ngào:
- Dù sao cũng là ngày con chào đời !
Sáng hôm sau, nhìn dọc con đường rầy, tuyết còn phủ lên hai bờ sắt thành hai vệt trắng tới cây cầu sập, vẫn có một bóng người, đứng trầm ngâm nhìn về ... phía làng bên kia.

Mùa hoa nở Âu châu 1998
       Nguyễn Quang Hữu