Về Với Đại Hội THĐL
Miền Đông 98

Bài của Lâm Quang Tới
Tặng anh em Công Trường Dẫn Biến Điện,
Nha Trang Bị, CĐV
Hồi đầu năm nay, khi nhận được tin "đại hội nhà đèn" sẽ tổ chức tại vùng HTĐ, tôi bàn với Trầu Ngầu - Phương (thuộc Sở Đồ án, Nha Trang bị, Công ty ĐLVN) sẽ cùng đi tham dự đại hội một kỳ, để lặn hoài coi kỳ quá, vả lại gặp bà con nhà đèn thuở trước sẽ cùng vui trong kỷ niệm.  Ngầu giao tôi thuê chiếc xe van 15 chỗ.  Ngầu mua họa đồ Atlas mới nhất để nghiên cứu lộ trình di chuyển.  Vì xe còn trống chỗ nên gia đình em của Ngầu cũng tháp tùng. Chủ nhật 28/6 chùa chỗ tôi ở vẫn có lễ như thường lệ.  Sau lễ, khi Phật tử về hết, chúng tôi làm vệ sinh trong ngoài chùa sạch sẽ và trở về pick up xe van.
Khởi hành từ St. Louis vào khoảng 3 giờ rưỡi chiều. Khoảng 8 giờ tối chúng tôi đến Chicago.  Nghỉ xả hơi đến 11 giờ khuya, ba gia đình bắt đầu lên đường hướng về vùng đại hội.  Vì đi trước vài ngày nên Sở Đồ án vẽ lộ trình lên Buffalo trước, thăm thác Niagara giáp giới Canada.  Trời đêm mù mịt hai bên đường, các bác tài chỉ chăm chú theo dõi các bảng chỉ dẫn dọc đường, phía sau hai bà xã cứ hàn huyên tâm sự.  Gần sáng ai cũng thiếp đi.  Đến khu thác Niagara vào khoảng 10 giờ sáng.  Vì là khu du lịch nên nhiều khách sạn được dựng lên gần đó. Tháng này không nơi nào còn phòng trống.
Chúng tôi đi bộ từ lữ quán Days Inn vòng quanh thăm thác.  Du khách khá đông. Có lẽ vì mùa nước lũ nên đứng ở phía thượng lưu, du khách thấy nước liên tục từ đầu ghềnh lởm chởm đá ào ạt, cuồn cuộn đổ xuống, rồi tỏa rộng ra theo miệng thác và đổ vào vực sông chảy ngang sâu thẳm chia hai nước Mỹ  và Canada.  Xa xa dưới dòng sông du khách thấy có hai chiếc tàu sắt hai tầng màu trắng, phát xuất từ phía bờ Canada chở khách ra giữa dòng để nhìn tận mắt, nghe tận tai tiếng nước reo.  Phong cảnh rất hữu tình.  Có rất nhiều ống dòm đặt dọc theo bờ sông.  Chỉ cần bỏ vào 25 cents, du khách sẽ nhìn rõ và gần hơn cảnh vật xung quanh thác.  Bên phải có hai cây cầu bắc sang Canada.  Bên nớ có vẻ thị tứ, nhộn nhịp hơn...
Khoảng 7 giờ sáng hôm sau, xe van rời vùng thác đi về hướng Nữu ước dưới cơn mưa nhẹ.  Phải qua nửa chặng đường đèo.  Vì mỗi bên có hai lanes nên không hồi hộp bằng đèo Ngoạn mục khi xưa ở Đơn dương, mình theo công trường đi về hằng ngày. Đến nơi khoảng 2 giờ chiều, nhưng vì lần đầu "tư ếch đi New York" lại không có thổ địa hướng dẫn, nên bị lạc lối.  Dù vậy nhưng hai bên cầu đường cảnh lạ cũng vui.  Đi qua cầu hay đường hầm nào cũng có toll fee từ 3 đến 8 đồng.  Rất nhiều đường một chiều. Phải nối đuôi cả 45 phút mới vào được đường hầm Lincoln để sang khu Manhattan.  Tìm mãi mới thấy được trụ sở Liên hiệp quốc và khu China town.  Trời đã tối.  Vì không tìm ra chỗ parking nên trở về New Jersey ngủ.
Sáng hôm sau trở lại thăm tượng Nữ thần Tự do kỹ quá nên hết thêm một ngày mong đợi, sau khi dùng cơm và đi bộ một vòng ở China town.  Sáng thứ năm chúng tôi trực chỉ Washington D.C.  Đại lộ về thủ đô có cây cối rậm rạp và rộng rãi hơn các nơi khác.  Khi gần đến ngoại ô thủ đô, đại lộ mở rộng ra bốn năm lanes mỗi bên, nên tuy là vùng đồi nhưng xe chạy rất thoải mái.  Khoảng 3 giờ chiều chúng tôi đến nơi họp có tên là Women’s Club ở Virginia.
Khi ra đi mấy mươi năm về trước, tôi cứ ngỡ rằng dĩ vãng tìm đâu thấy, như áng mây chiều theo gió bay... cho nên lúc gặp lại bạn cũ thầy xưa, lòng mình rộn ràng khó tả, giây phút đầu tiên gặp lại nhau, tâm trạng mình không biết diễn tả thế nào cho đúng.   Có lẽ giống như trạng thái trôi bồng của một thi nhân từng tâm sự:  nửa như hoài vọng ... nửa như say ...  Hoài vọng vì những phút giây đầu tiên ấy sau gần phần tư thế kỷ, tất cả các kỷ niệm vui buồn của một thời xa xưa đã vượt khỏi ngưỡng cửa của tiềm thức.  Kỷ niệm xưa cứ tiếp tục vọng về tâm như một cuốn phim đang trình chiếu trong rạp vậy.  Tâm tư miên man say sưa trên đường xưa lối cũ, cho nên nói nửa như say!  Bỗng dưng mình tự hỏi chuyện gặp gỡ này có thật không đây!  Trong một khoảnh khắc tôi thầm xác nhận một câu trong Tâm Kinh: sắc tức thị không, không tức thị sắc... tất cả đều do nhân duyên, hội đủ nhân duyên thì gặp, hết rồi sẽ tạm chia tay.  Phật dạy hãy trở về với thực tại, thức tỉnh,  đừng để tâm viên ý mã, nhưng tối nay tôi "lén" Phật, ghi lại những gì của tiềm thức vọng về, của ký ức năm xưa - ít khi mình nói cho ai nghe vì Bá Nha chưa gặp Tử Kỳ - trong những ngày tháng "đen" cuối cùng từ công trường đường dây 66kV Cam ranh - Nha trang, thuộc công trường Dẫn Biến Điện (NTB, CĐV).   Saün dịp nói ra như để trút bầu tâm sự đã ấp ủ  mấy mươi năm.

Tháng 3/1975... Chúng tôi là đoàn người du mục sống rày đây mai đó theo gió bạt mây ngàn.  Sau khi đóng điện đường dây 66kV Sài gòn - Mỹ tho - Gò công giao cho anh Trung và anh Hưởng xài chơi, "Phó Thừa Tướng Công tác" LM Quân cho anh em chúng tôi được vinh dự di chuyển ra miền "đồng khô cỏ cháy" thi công đường dây 66kV Cam ranh - Nha trang.   Đường dây Cam ranh - Nha trang (60km) nối tiếp đoạn Tháp chàm - Cam ranh để dẫn thủy điện Đa nhim về cho miền Nha trang thùy dương cát trắng.  Nơi đây ông Tây nhà đèn vẫn còn sót lại đang ngự trị trong khu vực này.  Đường dây Cam ranh - Nha trang nối liền các trạm Cam ranh, Hoà yên và Nha trang.  Tùy theo nhịp độ tiến triển công tác, văn phòng công trường lần lượt dọn từ Cam ranh sang Hòa yên, rồi Nha trang.  Trạm biến điện Nha trang được xây cất bên cạnh đài phát thanh gần Thích Ca Phật đài.  Đi vào thị xã đến ngã sáu đầu tiên, rẽ phải thì gặp thôi.  Văn phòng công trường cũng cách đó không xa. Tôi đang cùng với các anh em thực hiện mái che cho máy biến thế và nối các dây cáp trong trạm thì anh Sinh, phụ tá từ Cam ranh, đến có vẻ vội vã lắm:
- Anh ơi nguy quá, trên Cao nguyên lộn xộn, các anh em khu Cao nguyên đã di tản đến công trường mình rồi.  Liệu mình kiếm chỗ giúp tạm  trú.
- Chắc mình thu xếp gọn lại khu chung cư của anh em mình đang ở, để tạm đón các anh ấy.  Chừng nào lộn xộn đến đây thì mình ra biển luôn...
Câu nói đùa đã thành sư thật.  Hôm sau trưởng toán công tác về báo cáo các đoàn quân di tản vô trật tự trên lộ trình Cam ranh - Nha trang đã bắn vào bánh xe cần câu đang trồng trụ ở khoảng ngoài Diên khánh và họ còn nói:
- Các anh trồng trụ cho VC xài hả !?
Cũng may không có bắn trúng anh em nào trong toán trồng trụ gắn đà.  Bắn xong họ tiếp tục di tản hết sức hỗn loạn. Tôi thấy không xong rồi. Tình hình bấp bênh quá, nhất là sau khi Tướng Phú hướng dẫn các đoàn quân rút khỏi Pleiku, Kontum về thị xã Nha trang.  Khi đoàn quân đến Nha trang, họ mang theo sự bất an vào lòng quân cán chính địa phương.  Và như thế, như các con cờ domino, con trước ngã đè lên con sau, rồi cứ như thế mà sập tiệm...
Tối nay tôi thấy ở trước cửa văn phòng công trường có một chiếc xe vừa di tản đến, đậu sát lề đường với một quan tài.  Nhìn xuyên vào trong thấy ánh nến lập lòe trên cỗ áo quan cùng thân nhân đang ngồi  u sầu não ruột. Thế sự thăng trầm nhanh quá chẳng thể lường được, dân mình đã khổ lại càng khổ thêm.  Ngày xưa một Bình long tử thủ, một mùa hè đỏ lửa Quảng trị còn chưa thấy gì, mà sao chừ bê bết quá.  Tình hình có vẻ sốt ruột quá, không thể phân phối công tác gì được nữa!  Thêm vào mặt tâm lý bất lợi cho chúng ta là ban đêm đài BBC, không biết đài được tin ở đâu mà bảo Nha trang đã thất thủ...  Thế mới nguy.  Tôi báo cáo tình hình khẩn trương về Nha Trang bị để xin chỉ thị ngưng công tác.  Một hai ngày sau một anh thư ký bay ra Nha trang đưa cho tôi một vé máy bay để trở về Nha.  Tay cầm vé máy bay mà tâm tư miên man suy nghĩ:
- Hồi nào tới giờ làm việc cực khổ có nhau, từ miền xuôi Mỹ tho, Chợ Gạo, Gò công, đến miền nước ngược Đà lạt, Đơn dương, Sông pha, Cam ranh, rồi nơi đây miền cát trắng.  Chúng tôi du mục từ công trường này đến công trường khác.  Hôm nay tai biến xảy ra âu cũng là cộng nghiệp,  nghiệp của mình và nghiệp của anh em thợ thầy.  Thầy thợ bây giờ hoang mang lắm.  Mình phải ở lại với anh em.  Cùng về một lượt hay kẹt lại một đám, chớ chừ mà bỏ anh em lại thì mần răng mà coi được, anh em càng hoang mang hơn!

Tôi đã xé tấm vé máy bay về Sài gòn để lòng không lấn cấn, để dễ dàng chấp nhận con đường sinh tử với anh em công trường.

Những ngày cuối cùng của tháng 3 đen, đường phố Nha trang lộn xộn với kẻ đến người đi, kẻ qua người lại tấp nập với đủ các loại xe, ai cũng đăm chiêu, hối hả. Nghiệp chướng, nghiệp chướng!  Nghe anh em nói các tù nhân bị cạo đầu nửa bên đã thoát ngục ra đầy đường, tôi càng thêm đăm chiêu. Công trường chỉ còn liên lạc được với cô Hồng, khu miền Đông qua máy Single Side Band. Tôi nhờ cô khẩn báo lên ông Giám đốc NTB cho đình chỉ công tác và rút về Nha vì tình hình biến chuyển bất lợi quá nhanh.  Qua hôm sau, cô Hồng cho hay công ty đã mướn hai chiếc tàu lớn đến rước toàn bộ anh em công trường.  Tôi được lệnh điều động anh em về Cam ranh, xong ra cửa vịnh Cam ranh đón tàu đưa anh em trở về vì đường bộ đã bị mô.  Tôi không rõ ngày, chỉ nhớ thời điểm ấy rơi vào những ngày cuối cùng của tháng ba đen.  Các cơ sở quân sự, dân sự trong tỉnh, các quân trường Đồng đế, Dục mỹ.... lần lượt hay đồng loạt di tản thì đúng hơn.  Tất cả đều đổ dồn từ thị xã Nha trang ra độc đạo đi Diên khánh để về hướng Cam ranh.  Nha trang giờ đang bỏ ngỏ.
Giữa văn phòng công trường và đài phát thanh Nha trang có một ngã sáu.  Xe cộ từ năm ngã trong thị xã đổ ra kẹt cứng.  Sau này mới biết đêm qua Quân đoàn đã cho lệnh di tản.  Tôi còn nhớ một Thiếu tá phải bước xuống xe trong tay cầm cây colt đứng trên xe Jeep chỉa mũi súng để điều khiển lưu thông.  Nhớ lại quang cảnh hai bên đường di tản giờ này còn khiếp.  Ai cũng có thể mất mạng bất cứ lúc nào, nhưng chả ai sợ, cứ lần đường mà đi.  Nếu tôi không lầm thì quốc lộ 1 ở khoảng đó chỉ có một lane cho mỗi phía, nhưng trong lúc bấn loạn, xe cộ chen nhau giàn hàng ngang năm hoặc sáu xe một lượt, chạy về hướng Cam ranh.  Xe chạy lấn sâu vào lề cỏ hai bên.   Xe quân sự thì chở đầy lính tráng.  Xe dân sự cũng đầy ắp người, gà vịt và các tủ bàn ghế trên mui và sau xe.  Dọc đường có những xe bị tai nạn lưu thông, bà con ở lại đứng khóc một chập rồi khiêng người chết vào nằm bên vệ đường... và rồi tiếp tục theo đoàn người di tản.  Xe nào hư dọc đường thì chủ không luyến tiếc, bỏ lại, tiếp tục đi bộ.  Vì chen nhau mà chạy nên đoàn người di tản rất chậm. Con đường từ Nha trang về Cam ranh dài 60 km, bình thường chỉ mất khoảng một tiếng đồng hồ, hôm đó phải mất ba tiếng rưỡi mới về đến Cam ranh.   Về được là may rồi!  Tôi nhớ anh Mỹ, Trưởng ty Điện lực Cam ranh cho chúng tôi ở tạm qua đêm trong một căn nhà gần Ty.   Nghe anh em địa phương báo tin tối nay du kích địa phương về lục soát từng nhà, ai cũng lên cơn sốt!  Về đêm có tiếng súng nổ lưa thưa không dứt, khiến anh em lo sợ, không ai ngủ được cả, chỉ chờ sáng.   Đúng là có thức trắng đêm mới thấy đêm dài!
Khoảng bốn năm giờ sáng tôi cùng một anh ra vịnh Cam ranh để mướn một chiếc ghe nhỏ ra khơi.  Cố chạy vòng xung quanh vịnh, rán tìm cho được tên hai chiếc tàu mà Điện lực mướn ra đây để đưa anh em về.  Mọi người đều lên tinh thần khi hay tin tôi đi tìm tàu.  Cũng may tìm được một chiếc ghe nhỏ. Chủ ghe cho mướn với giá 45 ngàn đồng cắt cổ. Sắp chết rồi cũng phải chịu thôi, miễn họ chịu chạy vòng quanh vịnh Cam ranh với mình là được rồi. Trong khi ghe chạy cũng thấy trời mây non nước, nhưng khi xưa vịnh Cam ranh đẹp và thơ lắm, giờ thì cũng trời mây non nước mà chẳng thấy thơ chi cả!?  Hay là vì người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Ghe chạy ngang qua từng tàu một trong vịnh, chỉ đến gần đủ để đọc tên tàu.  Hết tàu này lại đến tàu khác.  Vì ghe nhỏ  thấp lè tè ở dưới, nên mình phải ngước mắt lên mới nhìn rõ tên tàu lớn ở trên cao.  Lượn qua lượn lại gần cả giờ thì gặp đúng tên hai chiếc tàu mà nhà đèn mướn cho anh em công trường.  Mừng lắm!  Mà sao trên tàu dường như chở toàn xe tăng, đại bác không thôi.   Đến gần mình thấy trên tàu mấy anh lính tay cầm M16, người thì chỉa mũi súng thẳng xuống ghe chúng tôi,  người thì ra hiệu cho chiếc ghe nhỏ  đi ra chỗ khác.  Tôi nói vói lên trong tuyệt vọng:
- Nhà đèn mướn chiếc tàu này cho anh em công trường chúng tôi về Sài gòn...
Chả cần đếm xỉa gì đến lời kêu gào của tôi,  đám lính bắn dọa vài tiếng.  Tôi vừa thất vọng, vừa thất kinh,  nói với chủ ghe trở lại bờ:
- Tàu mướn cho anh em công trường  đã bị trưng dụng rồi.  Chết thật!
Khi trở về chỗ tạm trú thì trời đã sáng.  Khi hay tin không may, mọi người đều xuống sắc, mất tinh thần... một vài anh đã bật khóc, vì như thế là đã kẹt cái mắt me rồi.  Tôi nói với anh em:
- Thôi mình cứ đi theo đường bộ đến đâu hay đến đó.
Chúng tôi lại lên đường hướng về Ba ngòi trong tiếng súng nổ mất trật tự, hỗn quan hỗn quân, từ khắp các nơi của thị xã Cam ranh.  Cả đoàn người từ miền trên cứ tiếp tục di tản nên đường xe bị kẹt hơn đường phố Sài gòn:
- Đi thế này thì biết chừng nào mới tới nơi!  Một vài anh em thốt lên.
Vì các xe cứ chen lấn nhau chạy theo hàng ngang năm bảy chiếc một lượt nên không đi đến đâu.   Đi đến trưa mà chỉ ra khỏi Ba ngòi một đỗi ngắn thôi.  Tôi thất vọng nói với anh em:
- Tôi nghĩ chúng ta nên trở về lại Trung tâm chứ đi như thế này thì chẳng đến đâu cả.
Đoàn người mệt nhoài, quay đầu lê lết từ từ tìm lại khu nhà đèn Cam ranh. Lo quá không nghe ai kêu đói!!!  Xuống tinh thần rất nhiều, lại thấm mệt, tôi đã thiếp đi khi về đến nơi tạm trú...
Khi tỉnh dậy thấy chung quanh chỉ còn khoảng hơn chục anh em. Vì nôn nóng tìm đường về nên đa số anh em đã tự tìm cho mình một lối thoát, không thể chờ được nữa.  Một vài anh em chạy về hướng bờ biển, cầu tàu Ba ngòi, với hy vọng có tàu nào từ đại dương vào cứu người tị nạn không.  Mấy lần đi không, rồi về tay không.   Thiểu não, mỏi mệt, thất vọng đã hiện rõ trong ánh mắt từng anh em.  Tôi đã chấp nhận chọn con đường gian nguy với anh em ngay từ phút đầu, nên không hối hận gì cả.  Chỉ buồn là chưa tìm được một lối thoát chung để đưa anh em về với gia đình. Trong lúc bâng khuâng suy nghĩ, một anh từ ngoài chạy vào cho hay:
- Ở cầu tàu Ba ngòi hiện giờ có một chiếc tàu buôn đang rước đồng bào tị nạn, anh cho anh em đi thử một chuyến chót xem sao.
Không ai bảo ai tất cả đều xách gói lên xe công trường hướng thẳng về Cầu đá Ba ngòi.  Khi gần đến nơi chúng tôi thấy đồng bào lũ lượt bước lên tàu.  Xe cộ bỏ lại đầy hai bên đường. Một số người địa phương không di tản, chỉ chờ mình bỏ xe lên tàu là họ đến làm thịt các xe ngay lập tức.  Chúng tôi phải xuống xe đi bộ về hướng cầu tàu. Nhân viên trên tàu lục soát từng người.  Ai có vũ khí đạn dược đều bị tịch thu và quăng xuống biển hết vì vấn đề an ninh. Tất cả đều ngồi đưa cằm lên gối, thu mình lại chung một chỗ trên boong tàu. Đây là loại tàu buôn lớn, hai tầng, có lẽ đã đổ hàng xong nên rất trống trải, có thể chứa vài ngàn người.  Khoảng hơn một giờ sau, con tàu từ từ rời bến, để lại sau lưng quang cảnh vịnh Cam ranh nhỏ dần...
Sau khi vượt ra khỏi lằn sinh tử, không ai để ý đến thời gian.  Không ai buồn thắc mắc chừng nào thì tàu đến bến và về bến mô!? Chỉ biết ra khỏi Cam ranh là được. Đoàn người được đưa đến Vũng tàu trước tiên.  Nhưng vì Vũng tàu giờ đã đầy người tị nạn nên con tàu cứ bồng bềnh trên mặt biển và đoàn người cứ kiên nhẫn chờ đợi sẽ có một ngày đổ bến.  Nhưng không, con tàu lại ra khơi.  Không ai biết đi đâu.  Một chập sau mới biết tàu đi vòng xuống đảo Phú quốc.   Khi đến nơi cũng không đổ người xuống được, vì Phú quốc cũng đầy ắp người tị nạn.  Sau bao ngày lênh đênh trên biển cả, cuối cùng tàu lại quay về Vũng tàu.  Lần này chúng tôi được lên bờ.  Tôi còn nhớ hai bên lề đường, từ cầu tàu trở lên bờ có rất đông người di tản.  Có rất nhiều hội thiện nguyện đến phát bánh mì cho những người mới lên bờ.  Chúng tôi được xe GMC của Thủy quân Lục chiến, lúc đó chịu trách nhiệm an ninh địa phương, đưa về Ty Điện lực Vũng tàu.  Tôi liên lạc về NTB và hôm sau những người anh em "mệt mỏi" rất vui mừng khi được ông PT Quản Đốc Công Trường Dẫn Biến Điện NĐ Bá đi với bác tài Báo ra rước bọn tôi về Thủ đức.
Kết thúc lần đầu ra khơi đầy nước mắt.

Lâm Quang Tới
(Đêm hè  trên T.P. St. Louis)