Những Năm Bẩy Mươi
Hồi ký của Song Nguyễn


Thập niên 1970 là thời gian đau thương nhất của miền Nam Việt nam với biến cố 30 tháng 4, 1975, làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh của dân tộc cũng như mỗi người chúng ta. Đến nay đã gần một phần tư thế kỷ trôi qua, tôi muốn ngồi ôn lại trí nhớ về những sự kiện trong quá khứ để viết lại thiên hồi ký này với tên chung là "Những Năm Bẩy Mươi". Tập hồi ký sẽ được chia làm ba phần. Phần thứ nhất viết về thời gian tạm yên ổn trước biến cố, từ 1970 đế cuối năm 74, mà tôi đặt tên là "Trước Cơn Bão Tố". Phần thứ hai, "Những Ngày Biến Động" viết về biến cố 30 tháng 4, và phần thứ ba "Người Tî Nạn Buồn" viết về những năm đầu của cuộc đời tî nạn.

Phần thứ nhất : Trước Cơn Bão Tố

Khoảng đầu năm 1970, tôi giã từ Hệ thống Phối trí Điện năng tại nhà máy biến điện Thủ đức để về làm việc tại trụ sở trung ương của Công ty Điện lực Việt nam (CĐV), số 72 Hai Bà Trưng (HBT) Sài gòn.

Thời gian đầu, tôi được cử làm Chuyên viên Phụ tá cho Thầy Trương Thanh Xuân, Phó Tổng Giám đốc Tài chánh, thay cho anh Bùi Văn Minh được cử làm Phụ tá Giám đốc nha Tài chánh. Công việc này hoàn toàn mới đối với tôi. Từ khi ra trường Phú thọ, tôi toàn làm việc trong phạm vi kỹ thuật, lúc đầu làm việc trong phần vụ dự án tại nha Khai thác Địa phương, sau đó lên làm việc với Hệ thống Phối trí Điện năng ở Thủ đức. Đây là lần đầu tiên tôi làm những công việc không phải kỹ thuật. Làm việc với Thầy Xuân, tôi phải học hỏi về các thủ tục kế toán tài chánh, vì một phần việc chánh của tôi là duyệt xét các hồ sơ thanh toán từ các nha đưa lên để trình Thầy Xuân ký chi phiếu thanh toán. Công việc thực ra không khó khăn gì, vì các hồ sơ thanh toán từ các nha khi xong đều đã đầy đủ thủ tục rồi mới trình lên, trướùc khi lên cũng phải qua nha Tài chánh xác nhận nên đa số hồ sơ đều không có gì thắc mắc. Tuy nhiên văn phòng tôi khá quan trọng vì đây là khâu cuối cùng, khi hồ sơ đầy đủ tôi đưa vào là Thầy Xuân ký chi phiếu trả tiền cho các nhà thầu hoặc nhà cung cấp cho Điện lực.

Tôi cũng quen biết nhiều người làm nghề thầu, và có một vài bà con cũng làm nghề thầu nên biết rõ hoàn cảnh của họ. Các nhà thầu Việt nam thường chỉ là những cá nhân, nhiều khi phải đôn đáo chạy mượïn tiền để làm công tác, sau khi công tác xong phải qua nhiều thủ tục, phải chờ đợi khá lâu, số tiền vay lời khá nặng nên rất mong lãnh tiền. Vì vậy những hồ sơ thanh toán khi đi lên tôi đều coi liền, nếu không có gì trở ngại tôi trình ngay để Thầy Xuân ký chi phiếu liền cho họ. Vào thời gian cận Tết, tôi còn làm việc gấp rút hơn rồi khi Thầy Xuân ký xong tôi mang tay về cho nha Tài chánh để phát ngay cho các nhà thầu đang ngồi chờ lấy chi phiếu để về thanh toán công nợ và trả lương cho thợ thuyền kịp trtước Tết.

Tại văn phòng Thầy Xuân, ngoài tôi ra còn có cô Nguyễn Thiện Nữ làm thư ký văn phòng. Cô Nữ người rất cao, có đôi mắt to, thường được các chị nha Nhân viên rất cưng, coi như em út trong gia đình.

Trong thời gian làm việc với Thầy Xuân ở CĐV, tôi cũng làm việc với Thầy trong Hội Điện học Việt nam mà Thầy là Chủ tịch, tôi là Tổng thư ký. Hội Điện học trong nhiệm kỳ của Thầy Xuân làm được khá nhiều việc, từ tổ chức các khóa huấn luyện thợ điện cho các cơ quan Điện lực tới các buổi thuyết trình về các vấn đề điện năng, cho tới công việc thường xuyên hàng năm là tổ chức các "Đêm Điện" dành cho các khóa Kỹ sư và Cán sự điện mới ra trường. Vào khoảng đầu năm 70, phong trào thành lập cư xá đang lên, một số anh em nêu lên việc mua đất lập cư xá cho các anh em chuyên viên ngành điện. Để thực hiện mục đích này, Hội Điện học thành lập Hợp tác xã Kiến ốc Điện học Việt nam, cũng do Thầy Xuân làm Chủ tịch, tôi là Tổng thư ký, có thêm các anh Trần Quang Lộc và Trần Khiết trong Ban chấp hành. Chúng tôi tìm mua được một khu đất rộng 7 mẫu rưỡi tại xã An phú, cạnh Làng Báo chí. Sau đó tôi lo việc mướn nhà thầu đổ đất rồi chia làm 150 lô bán cho hội viên. Rất tiếc công việc đang tiến hành, thửa đất đã được đổ cao, phân lô đóng cọc saün sàng để xây cất thì xẩy ra biến cố 30 tháng 4, 75.

Vào khoảng đầu năm 1971, nha Tiếp vận được cải tổ, anh Trầm Đình Thơm, Phụ tá Giám đốc được bổ nhiệm làm Quản đốc Công trường xây cất nhà máy nhiệt điện 33MW tại Trà nóc, Cần thơ, và vì nhu cầu gia tăng nên nha Tiếp vận dược chia ra làm hai khối, Khối Thương vụKhối Tiếp vận. Giám đốc nha Tiếp vận vẫn là anh Ngô Quý Thiều, có hai phụ tá là anh Nguyễn Xuân Giễm, Phụ tá Thương vụ và anh Hoàng Mạnh Cần, Phụ tá Tiếp vận. nha Tiếp vận có 5 sở, bên Thương vụ có hai sở là sở Nội thương do anh Huỳnh Trường, và sở Ngoại thương lúc đầu do anh NX Giễm kiêm nhiệm, sau đó có Nguyễn Đôn Phú từ Chợ quán ra thay. Bên Tiếp vận có ba sở là sở Phối kiểm Vật liệu do anh Trần Khiết làm Trưởng sở, sở Điều hành Kho do anh Nguyễn Hữu Nhơn, bạn cùng khóa 4 với tôi làm Trưởng sở; và tôi được bổ nhiệm làm Trưởng sở Chuyển vận. Trước đó, CĐV hoàn thành quy chế mới của công ty, tụi tôi được vào ngạch mới, lương tăng rất khá. Cấp bậc tương đương như tôi lãnh khoảng trên 80 ngàn một tháng, có thể gọi là khá cao so với lương công chức hạng A của chánh phủ lương khoảng bốn năm chục ngàn một tháng và một tạ gạo ngon giá khoảng 2 chục ngàn. Ngoài ra tới cuối năm tụi tôi còn được tiền thưởng Tết vào khoảng từ một tới hai tháng lương.

Anh NQ Thiều tốt nghiệp khóa 1 Kỹ sư Phú thọ, cũng là Trung tá ngành Quân bưu. Khoảng những khóa Kỹ sư đầu (từ khóa 1 tới khóa 4), mỗi năm bộ Quốc phòng thường gửi một số sĩ quan sang học tại trường Phú thọ. Khóa 1 ngoài anh Thiều còn có các anh Dương Thiệu Hiểu, Vĩnh Kỳ, Ưng Hiến. Khóa hai tôi không nhớ có anh nào, còn khóa ba có các anh Tôn Thất Uẩn, Phan Xuân Hùng, Nguyễn Hàn Tý và Đặng Trần Dư. Khóa 4 là khóa tôi có các anh Lữ Phúc Bá, Nguyễn Hữu Đức và Nguyễn Xuân Diệu.

Khi anh Thiều về Điện lực, anh vẫn giữ tác phong nhà binh. Anh là sĩ quan biệt phái duy nhất ký tên còn dùng cấp bậc quân đội: Trung tá Ngô Quý Thiều đàng hoàng. Cho đến khoảng năm 1973 hay 74 gì đó anh được giải ngũ, lúc đó anh mới viết văn thư gửi các nha sở yêu cầu bỏ chữ Trung tá đi.

Anh Thiều dáng người cao, đi đứng cứng cáp, đầu hói 100%. Không biết anh Thiều hói hồi nào nhưng từ khi biết anh Thiều tôi thấy anh đã hết tóc. Ở trường Điện ra hồi đó có hai anh hói nhất là anh Hồ Văn Phong và anh Thiều, hai anh đều hói ngang nhau vì không anh nào còn sợi tóc trên đầu. Anh Thiều làm việc râùt tận tâm và siêng năng. Anh ký tên đầy đủ từng chữ họ, chữ lót và tên không thiếu nét nào trên mọi công văn gửi đi. Gia đình anh cư ngụ tại cư xá Nguyễn Siêu ngay trên lầu nha Tiếp vận, nhiều tuần tôi thấy anh làm việc cả chiều thứ bẩy. Anh Thiều tuy bề ngoài nghiêm trang và làm việc theo đúng nguyên tắc nhưng đối với nhân viên anh rất tốt và đối xử công bằng với mọi người. Điều đặc biệt là ngay cả sau ngày 30 tháng 4, 1975, khi cán bộ CS tới chiếm, anh Thiều cũng vẫn giữ vững tư cách của cấp chỉ huy. Tôi được nghe anh Tăng Trọng Nghĩa kể lại là khi cán bộ VC tới tiếp thu, thời gian đầu anh Thiều vẫn nghiễm nhiên ngồi ở bàn Giám đốc, để người cán bộ này ngồi ở một bàn nhỏ bên cạnh. Tại cư xá Nguyễõn Siêu cũng vậy, anh Thiều cũng chỉ cho những cán bộ CS ngủ tạm ngoài hành lang cho tới khi có lệnh cho các nhân viên CĐV rời nhà anh mới dọn đi giao nhà cho họ.

Anh Hoàng Mạnh Cần ra trường khóa 3 năm 1963 rồi được tuyển vào làm trong nhà đèn Chợ quán liền. Anh là người thứ hai tốt nghiệp từ Phú thọ vào làm việc cho CEE, sau anh Ngô Đức Huấn. Tôi biết anh Cần từ khi còn học ở trường Điện, sau đó khoảng năm 1965 tôi được Hệ thống Phối trí Điện năng được gửi vào Chợ quán tập sự làm vịệc tại Sous Station Chợ quán dưới quyền anh Cần. Lúc này Thầy Phát làm Giám đốc nhà máy và anh NĐ Huấn làm Trưởng sở Bảo trì, Nguyễn Văn Dậu làm với anh Huấn. Anh Cần là người rất lanh lẹ, kể từ khi đi học cũng như khi ra làm. Anh thường sốt sắng với bạn bè và rất giỏi về cách giao thiệp với bên ngoài.

Trụ sở nha Tiếp vận đặt tại số 4 Nguyễn Siêu, đằng sau trụ sở trung ương 72 HBT. Với số nhân viên khá đông, nha Tiếp vận chiếm trọn lầu hai, anh Thiều ngồi ở phòng giữa, phía trái là anh Cần, tôi với anh Khiết ngồi trong phòng bên phải. Phía bên kia là Khối Thương vụ có anh Giễm ngồi phòng riêng và một phòng khác cho anh Huỳnh Trường, sở Nội Thương. Về phần Nguyễn Hữu Nhơn thì đóng đô ở kho Thủ đức có Huỳnh Vân làm Thủ kho.

Từ trước tôi chỉ làm việc cho các cơ sở của cơ quan Điện lực Việt nam (ĐLV), các nhân viên toàn là của ĐLV. Nay tôi về làm nha Tiếp vận tôi gặp rất nhiều người là nhân viên thuộc nhà đèn CEE cũ như các anh Lương Văn Nhờ, anh Thiện, làm việc tại kho Nguyễn Siêu, anh Nguyễn Văn Răng làm văn phòng nha Tiếp vận. Các nhân viên này thường thường vẫn giữ phong cách của người miền Nam, nhất là về việc xưng hô: khi nói chuyện thường gọi nhau là anh, nhưng với cấp kỹ sư như tụi tôi tuy trẻ cũng được goiï bằng ông. Khi mới sang làm còn bỡ ngỡ, ít lâu sau tôi thân với rất nhiều anh em này, trong đó có anh Nguyễn Văn Răng. Anh Răng là Trưởng phòng Hành chánh nha Tiếp vận, làm việc trực tiếp với ông Giám đốc. Anh người cao, dáng điềm đạm lịch sự, quần áo lúc nào cũng tươm tất gọn gàng. Anh làm việc rất tận tâm và luôn sốt sắng khi ai có công việc cần nhờ tới anh. Hầu hết mọi người trong nha Tiếp vận, từ trên xuống dưới, đều quý mến anh, gọi anh theo lối thân mật như trong gia đình là "Ba Răng".

Khi đã chơi thân với anh Ba Răng, tụi tôi theo Tăng Trọng Nghĩa đi đánh tennis và gia nhập hội quần vợt Nguyễn Bỉnh Khiêm (NBK) tại sân banh phía sau hồ bơi NBK, gần sở thú. Ít lâu sau có thêm anh Nguyễn Tấn Phát, làm việc tại sở Nội thương nha Tiếp vận gia nhập, sau đó tôi rủ thêm anh Nguyễn Mậu Bàng, lúc đó mới được bổ nhiệm làm Trưởng khốùi Dịch vụ Khách hàng, và anh Nguyễn Xuân Trường lúc đó cũng mới thôi làm Trưởng khu Qui nhơn về ngồi ở 12 Hồng Thập Tự (HTT) làm phụ tá cho ông Phó Tổng Địa phương Nguyễn Xuân Thu. Hội quần vợt NBK có khoảng vài chục hội viên, đa số là công chức. Hội trưởng là Thẩm phán Lê Minh Liên, nguyên Bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo dục, nên tụi tôi vẫn gọi đùa là ông "Tổng Liên". Phó hội trưởng là ông Đoàn Minh Quan, kỹ sư Canh nông, sau lên làm Thứ trưởng Canh nông, cũng được anh em trong hội gọi là ông "Tổng Quan" luôn. Trong hội cũng còn có các nhân vật khác như kỹ sư Biên làm việc tại Bưu điện, Bác sĩ Võ (Thú y) lúc đó là Giám đốc Thảo cầm viên Sài gòn, một số công chức bộ Canh nông và các bộ khác. Ngoài ra hội cũng có một số thương gia người Việt và Hoa kiều. Vì thành phần đa số lớn tuổi nên các buổi đánh tennis trên sân NBK rất vui vẻ, lịch sự. Nhóm Điện lực tụi tôi tuy vào sau nhưng chơi rấùt thân thiện với các hội viên khác. Ba Răng là người đứng đắn được cả hội trọng nể thường được cử làm trọng tài các trận đấu có cá độ lớn. Mọi người đều tin tưởng anh nên có anh làm trọng tài anh xử làm sao hai bên đều chịu vậy, không khiếu nại chi cả.

Hội banh NBK chơi vào các buổi chiều thứ ba, thứ năm và ngày thứ bẩy. Hồi đó tụi tôi rất ghiền, cứ vào các ngày này là tên nào đi làm cũng mang saün túi đồ và cây vợt để khi tan sở là từ nha Tiếp vận kéo nhau ra sân liền. Anh Bàng nhà ở ngay cư xá Nguyễn Siêu nên về nhà thay đồ rồi lái xe tới, còn anh Trường thì từ 12 HTT ghé mua ổ bánh mì thịt rồi mới tới sân. Trong số các anh em tụi tôi, anh Trường là tay đánh banh lỳ nhất. Anh có lối đánh rất lạ, mỗi khi tạt cú tay mặt anh đều đá chân lên như để trợ lực cho cú tạt. Anh Trường cũng rất thích đánh độ, ai cạp độ nào anh cũng theo không hề khớpï. Mỗi khi đi chơi xa hoặc đánh cá độ với người lạ, anh Trường đều được cặp với tay đánh banh lỳ nữa là Tư Trị để đại diện hội ra nghênh chiến.

Anh Bàng tuy thấp người nhưng rất khỏe và dai sức, anh đánh rất đều tay và đánh hết độ nọ tới độ kia mà không mệt. Nhiều khi đông người quá tụi tôi cả buổi chờ mới đánh được một sét đôi, Bàng rủ tôi ra xe chạy lên sân banh tại cư xá Thủ đức đánh. Anh Bàng trông bề ngoài nghiêm trang đứng đắn nhưng thỉnh thoảng cũng có tính khôi hài "đen". Nhiều buổi trưa thứ bẩy nắng gắt, tôi với Bàng chạy lên đánh tennis ở Thủ đức, đánh xong hai thằng mệt thở không ra hơi, mồ hôi nhễ nhại, thì Bàng than: "Tao với mày khùng quá, giờ này đáng lẽ nằm nhà vặn máy lạnh ôm vợ có phải sướng không!" Nói vậy chứ tuần sau hắn lại rủ tôi đi đánh banh nữa!

Vì ghiền đánh banh nên nhiều khi cuối tuần chúng tôi rủ nhau đi đánh các sân xa, có khi lên Biên hòa, khi thì đi Mỹ tho, hoặc gần thì vào Tân Sơn Nhất (TSN). Có lần anh Đỗ Trọng Phúc rủ tôi và Bàng vào TSN đánh tennis tại sân của Không đoàn 33 vì anh Phúc có người anh em kết nghĩa là Đại tá Chỉ huy trưởng một Không đoàn. Một lần có tướng Nguyễn Cao Kỳ tới chơi nên tôi và Bàng có dịp đánh banh với ông Kỳ. Trái với tính hay nói vung vít ngoài chính trường, ông Kỳ đánh banh rất trầm tĩnh. Ông đánh rất cẩn thận và ít hư banh, lên lưới cũng tốt. Có lần Nguyễn Trung Hiếu bạn khóa 4 của tôi lúc đó là Trưỏng khu Biên hoà rủ tôi và Bàng lên Biên hoà chơi tennis với một số thưong gia trên đó. Tụi tôi được đánh banh thỏa thích, khi về lại được mời đi thăm một công ty đườøng tư nhân và được chủ hãng tặng mỗi thằng một gói đường thẻ nguyên chất mang về.

Cũng nhờ đánh tennis mà tôi có dịp gặp Trung tá Vinh, lúc đó là Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Nhẩy dù. TT Vinh chơi thân với anh Ba Răng từ lâu, có cô con gái làm việc ở nha Tiếp vận. Ông người cao lớn, da sạm đen, là sĩ quan kỳ cựu trong ngành Dù. Vừa là huấn luyện viên, ôâng cũng là tay nhẩy dù gan dạ, chuyên môn hướng dẫn các kỳ nhẩy dù biểu diễn rất chính xác. Vì tất cả mọi sĩ quan Dù năm nào cũng phải về Trung tâm nhẩy ôn tập nên ông nào cũng gọi TT Vinh là "Ông Thầy", dù có vị có cấp bậc cao hơn ông Vinh. Sau này các bác sĩ quân y xin đi phục vụ trong binh chủng dù, hoặc một số ký giả, cũng xin học nhẩy dù để đi theo các cuộc hành quân làm phóng sự chiến trường, nên ai cũng biết TT Vinh. Sau này khoảng năm 73 hay 74, TT Vinh được người bạn là Trung tá Nguyễn Văn Minh lúc đó là Tỉnh trưởng Cao lãnh kéo về làm Quận trưởng Hồng ngự. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, TT Vinh bị đi học tập rồi chết trong tù, bạn ông thì may mắn hơn ông, TT Minh sang Mỹ được, có con gái là Jeanne Nguyễn học ở West Point được mời ngồi cạnh bà Nancy Reagan trong lễ nhậm chức của Tổng thống Reagan năm 1984. Nhiều tuần ghiền đánh banh, vào các buổi chiều thứ hai và thứ sáu không đánh ở sân NBK thì Ba Răng, Nghĩa và tôi rủ nhau chạy lên trại nhẩy dù đánh với TT Vinh, đại úy Bẩy và các sĩ quan khác. Có lần tôi và Ba Răng vào đánh banh gặp cả tướng Lam Sơn cũng tới chơi. Tướng Lam Sơn được nhiều người biết tiếng từ hồi Đệ nhất Cọng hòa, lúc đó đã già và gầy ốm. Oâng chỉ đánh dượt chút ít chứ không đánh được lâu.

Ngay tại sân NBK ngoài hội banh của tụi tôi cũng còn có hội Mekong của ông Nguyễn Ngọc Linh chơi vào buổi sáng thứ bẩy. Công ty Mekong của ông Linh làm việc theo kiểu Mỹ, nghỉ thứ bẩy nên kéo nhau ra sân đánh tennis. Ngoài ông Linh và các nhân viên làm cho hãng Mekong, hội này còn có thêm một nữ đấu thủ là cô Hoàng Lê Hợp, nguyên là xướng ngôn viên đài truyền hình. Cô Hợp khi làm xướng ngôn viên truyền hình đã nổi tiếng đẹp và có thân hình sexy, sau đó nghỉ việc đi lấy chồng là một thương gia người Ý lại càng đẹp mặn mà hơn nên tụi tôi trưa thứ bẩy tan sở ra là chạy vội tới sân để ngắm cô Hợp đánh.

Tại sân NBK cũng có các tay vợt nhà nghề tới chơi hoặc mở các lớp dậy đánh banh cho học viên. Trụ trì ở đây là Dương Văn Minh (cây vợt tennis chứ không phải là tướng Dương Văn Minh), đã có lần được đi đánh đại diện Việt nam trong cúp Davis. Anh Minh lúc đó chuyên làm huấn luyện viên quần vợt cho những tay chơi nhà giàu nên sống khá, có xe hơi nhỏ loại Honda hột vịt lái đi đánh banh. Trong làng quần vợt Việt nam hồi đó, ngoài Dương Văn Minh còn có Võ Văn Thành cũng lái xe Volkswagen đi đánh banh, số còn lại rất nghèo như vô địch Võ Văn Bẩy không có xe cộ chi cả, mỗi lần đi đánh banh phải leo xe lam ba bánh! Vì có Dương Văn Minh nên các tay vợt khác cũng tới chơi nhiều, tôi được gặp Lý Aline, Tạ Duy Báu, Nguyễn Hoàng Vân (là em của Nguyễn Hoàng Đức cựu vô địch VN).

Cũng thời gian khoảng các năm 72-74, phong trào tennis ở VN lên mạnh. Tụi tôi thường tới coi các trận đấu của các tay vợt hạng nhất như Võ Văn Bẩy, Võ Văn Thành ... Tôi cũng được chứng kiến giải Davis Cup khu vực Á Châu giữa VN và Nhật bản năm 1973, giải này tuy VN thua 3-2 nhưng có danh dự là Võ Văn Bẩy hạ được cây vợt số 1 của Nhật bản. Qua năm sau 1974, VN gặp Đại hàn, lúc đó tuy Võ Văn Bẩy đã về hưu nhưng đoàn VN gồm Tạ Duy Báu, Võ Văn Thành, Đinh Quốc Tuấn và Lý Aline đã oanh liệt hạ được Đại hàn để vào vòng trong đi đánh tại New Zealand. Hồi sau 75, các tay vợt hạng nhấtø Việt nam đa số đều kẹt lại, chỉ có Tạ Duy Báu đi được. Tại đảo Guam, anh Báu được mục sư Thomas Stebbins giới thiệu làm cho một khách sạn hạng 5 sao, lo dượt banh cho khách. Nhưng công việc không nhiều nên một thời gian anh Báu chán xin vào lục địa Mỹ. Khoảng năm 1976, tôi đọc báo Mỹ thấy đăng Tạ Duy Báu dự định đánh tennis trong hạng nhà nghề nhưng chắc không thành công nên tôi không còn nghe thêm gì về anh nữa. Một cây vợt trẻ hồi 75 đang lên là Đinh Quốc Tuấn gặp số phận bi thảm, tôi nghe là anh Tuấn và gia đình vượt biển bị tử nạn. Còn Võ Văn Thành, cây vợt số 2 của VN sau Võ Văn Bẩy thì sau này khoảng đầu thập niên 80 mới thoát được tới Mỹ.

Tại CĐV phong trào chơi tennis cũng rất mạnh. Công ty có hai sân, một ở Chợ quán và một ở Thủ đức. Sân Chợ quán nằm ngay cạnh nhà ông Tổng, thỉnh thoảng tôi và Tăng Trọng Nghĩa cũng tới chơi với các anh em trong Chợ quán như Lợi, Sào, Nguyễn Tấn Á ... Sân banh ở cư xá Thủ đức lập nên từ hồi Nhật bản xây cất nhà máy biến điện Sài gòn vào đầu thập niên sáu mươi. Thời gian đầu chỉ có các anh Nguyễn Xuân Giễm, Đỗ Trọng Phúc và một số anh em khác đánh. Sau này mới tới tụi tôi, có các anh Chiếu, anh Nghiệp, và cả Lâm Dân Trường và Lê Minh Quân. Sân tennis Thủ đức nằm ngay cạnh nhà anh Nguyễn Khắc Huề, lúc đó anh Huề có cậu con trai mới lớn thỉnh thoảng cũng ra đánh với tụi tôi. Sau này có lần tôi ghé thăm nhà anh chị Huề ở Phoenix, có gặp lại cháu. Trong các anh em ở Thủ đức hồi đó có anh Ngô Bá Trắc đánh rất tốt. Anh đánh hay, lên lưới cũng đẹp và thường đánh dượt cho tôi. Tuy nhiên thời gian sau khi tụi tôi đánh ở sân banh NBK thì Trắc không đánh nữa. Anh Giễm trước đánh rất hay nhưng sau này anh lớn tuổi nên cũng không đánh nữa. Mấy lần tôi rủ anh ra sân đánh banh nhưng anh chỉ đánh một chút rồi kêu mệt đòi về. Anh Đỗ Trọng Phúc thì đánh tennis không giỏi, cũng không ghiền như tụi tôi, nhưng anh vẫn chơi để xã giao. Anh Phúc quen nhiều, anh có chân trong hội Lions, vì có nhiều bạn nên anh biết chơi nhiều thứ trong đó có tennis nhưng chỉ với tính cách xã giao chứ không ghiền món nào. Trong CĐV lúc đó, rất nhiều anh em chơi tennis rất hay như anh Bảo ở nha Tiếp vận, anh Châu ở nha Tài chánh, các anh này là "ngoại hạng", khi có giải tennis không được dự vì không ai địch nổi. Bên khối Địa phương anh Lê Văn Bảy là tay vợt cừ khôi, nha Phân phối có anh Thanh làm tại khu Phú nhuận đánh cũng rất hay. Anh Thanh người cao lớn, mỗi khi lên lưới là đối phương đánh thế nào anh cũng bắt được. Tôi nhớ có lần trong giải tennis của CĐV, cặp Bàng-Thanh của nha Phân phối gặp cặp Bảy-Trường của Địa phương trong trận chung kết rất gay go, kết cục cặp Bẩy-Trường thắng, mang cúp về cho khối Địa phương khiến ông phó Nguyễn Xuân Thu rất hãnh diện tuyên bố: "Tôi biết không ai địch lại cặp Bảy-Trường".

Vì có tụi tôi nên nhiều anh em ở CĐV cũng thỉnh thoảng ra sân NBK đánh banh, trong đó có cả các xếp lớn như ông Phó Phạm Văn Khắn, ông Nguyễn Văn Sáng, Trưởng Trung tâm Điện toán và ông Phó Nguyễn Xuân Thu. Ba vị này chơi tennis từ thời xưa, đánh rất đúng kỹ thuật nên tuy lớn tuổi mà còn đánh rất tốt. Ông phó Khắn và ông Sáng thường hay đánh đơn với nhau, ông Sáng đánh rất đẹp nhưng "nước mau sôi" nên thườùng dẫn trước rồi kết cục bị thua lại. Ông Thu đánh cũng rất điệu nghệ nhưng sức yếu nên tôi chỉ thấy ông đánh đôi, không thấy ông đánh đơn. Tại sân NBK khi đó có một cháu lượm banh tên Tuấn còn nhỏ nhưng đánh rất hay, từng ghi tên dự tranh giải hạng nhì toàn quốc. Tụi tôi vận động xin cho Tuấn vào làm tùy phái cho Trung tâm Điện toán, thỉnh thoảng ông Khắn vẫn đánh dượt với cháu Tuấn. Tại Trung tâm Điện Toán cũng có một cây vợt trẻ là anh Trần Trung Nguơn. Anh Nguơn tuy không phải là hội viên nhưng thỉnh thoảng cũng ra sân chơi với tụi tôi. Sau ngày 30 tháng 4, 75, tôi gặp anh Nguơn ở đảo Guam, anh Nguơn đi với gia đình trong đó có người chị họ là vợ của anh Nguyễn Đình Phú, Phụ tá ông Sáng ở Trung tâm Điện toán. Tôi không được gặp chị Phú nhưng anh Nguơn cho biết vì anh Phú kẹt lại nên chị Phú đòi về Việt nam trên chuyến tầu Việt nam Thương tín. Tôi không biết sau đó chị Phú có về không vì từ đó tôi không liên lạc được với anh Nguơn và đọc trên bản tin THĐL tôi cũng không thấy có tin gì về vợ chồng anh Nguyễn Đình Phú.

Trở lại thời gian tôi vềà nha Tiếp vận, anh Nguyễn Quang Hữu cũng từ khu Thủ đức được chuyển về khu Nam ở ngay 72 HBT, thay cho anh Đỗ Trọng Phúc được cử làm Trưởng khu Phú thọ mới thành lập. Sau đó anh Phạm Văn Quan cũng từ quân đội được biệt phái về làm việc tại Trung tâm Điện toán. Hàng ngày nhóm chúng tôi gồm Trần Khiết, Nguyễn Quang Hữu, Phạm Văn Quan, Phan Văn Thịnh và tôi hay tụ họp đi ăn nhậu. Đầu têu vụ đi ăn thường là anh Khiết. Lý do một phần vì anh Khiết thích tụ họp bạn bè, một phần vì anh hơi ... nhát, không dám đi ăn một mình. Nhiều ngày các bạn bè bận rộn đi công tác hay đi họp, anh Khiết không rủ được ai đi ăn sáng là anh cuống lên, nếu không rủ đưọc ai khác là anh chịu nhịn đói luôn. Trong việc ăn uống, anh Khiết rất kén, nhất là khi ăn các món miền bắc. Phở gà thì anh không bao giờ chịu ăn ở đường Hiền vương mà phải vào tiêïm Nam Xuyên ở đường Trương Tấn Bửu. Phở bò thì anh cũng thường tới tiệm phở Bắc chính cống ở trong hẻm đường Công lý, ở đây mà gọi thêm giá sống thì không bao giờ có. Ăn bánh cuốn thì anh Khiết chỉ chọn tiệm bánh cuốn thanh trì với đậu phụ rán ở đường Trần Khắc Chân, Tân định. Có một hồi Sài gòn khan hiếm chanh, anh không chịu ăn phở, chờ khi có chanh trở lại mới chịu ăn.

Ngoài nhóm anh Khiết, thỉnh thoảng tôi cũng đi ăn sáng với các bạn khác như Nguyễn Mậu Bàng, Trương Sĩ Thực. Anh Thực là người đồng hương Hải dương với tôi. Anh người dong dỏng cao, dáng công tử, áo quần lúc nào cũng gọn gàng bảnh bao. Có lần Thực rủ tôi đi ăn bánh canh giò heo, ngoài hai tô bánh canh anh còn gọi đĩa giò heo ăn thêm, nói là "mình đã ăn phải ăn cho sang"!

Thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang chơi với Trương Hữu Lượng, rủ anh Lượng đi ăn sáng. Anh Lượng cùng khóa 4 với tôi lúc đó đang làm việc tại Cục Du lịch, văn phòng tại khách sạn Majestic đường Tự do. Sau khi hiệp định Paris được ký kết, chính phủ VNCH có chương trình tái thiết "hậu chiến" trong đó có công việc khuyến khích ngành du lịch để chuẩn bị đón tiếp du khách và các nhà đầu tư ngoại quốc. Anh Lượng có người bạn cùng học hồi ở trường Yersin Dalat làm Tổng cục trưởng cục Du lịch nên kéo anh Lượng qua làm. Đi ăn sáng với anh Lượng tụi tôi thường quanh quẩn ở khu vực trung tâm Sài gòn. Tuy CĐV có chương trình ăn trưa miễn phí cho nhân viên nhưng tụi tôi ít ai ăn cơm nhà bàn, toàn đi ăn ngoài. Thỉnh thoảng tôi đi ăn trưa với Tăng Trọng Nghĩa và Ba Răng, các bạn này thường ăn các món miền Nam như mì cà ri ở tiệm mì đường Nguyễn Thông, hay hũ tíu gà cá ở một tiệm sau lưng Thượng viện. Tiệm hũ tíu này rất ngon, sau này tôi chưa từng thấy hũ tíu ở đâu ngon như vậy.

Từ hồi về làm việc tại 72 HBT, tôi cũng gặp lại nhiều bạn bè trong giới văn nghệ. Anh Đỗ Tiến Đức là bạn học với tôi từ năm đệ nhị trường Hồ Ngọc Cẩn, sau lên học Quốc gia Hành chánh. Anh có viết một số tiểu thuyết như chuyện dài Má Hồng, và làm đạo diễn cho phim Yêu của Chu Tử. Lúc đó Đức là Giám đốc Trung tâm Quốc gia Điện ảnh, trụ sở ở đường Thi Sách ngay cạnh nha Tiếp vận đường Nguyễn Siêu, nhiều ngày đi ăn trưa tôi thường gặp lại anh Đức, anh hay đi cùng các nhân vật trong giới điện ảnh như tài tử Lê Quỳnh. Tôi cũng giao du trở lại với các nhạc sĩ trẻ đang lên hồi đó. Tôi quen Vũ Thành An từ khi anh còn học Văn khoa, lúc ấy anh đã cao lêu nghêu, trắng trẻo đẹp trai, thường hay lên hát trong các buổi văn nghệ sinh viên. Sau đó Vũ Thành An chuyển qua học Luật cùng một lần với cô em gái tôi. Nhiều ngày nghỉ tôi đến nhà anh ở con hẻm trên đường Lê Văn Duyệt rủ anh ra quán La Pagode ngồi uống cà phê. Vũ Thành An có thói quen hay hát những bản nhạc mới sáng tác để bạn bè cho ý kiến. Bài Không Tên Số 4 (Chiều thơm đưa hồn người bềnh bồng ...) tôi được anh hát cho nghe trước nhất. Trịnh Công Sơn thì tôi được quen qua anh Lê Hữu Bôi, có lần Trịnh Công Sơn tới nhà tôi chơi cô em gái tôi nói thích bản Diễm Xưa anh liền xin tờ giấy ngồi chép ngay cả nhạc lẫn lời bản này tặng cô. Sau đó mỗi khi ra khu vực Quán Văn ở sau trường Văn khoa chơi với bạn bè tôi hay gặp Trịnh Công Sơn.

Lịch sử khu sinh hoạt văn nghệ sau trường Văn khoa ở Sài gòn cũng hơi lạ: Hồi khoảng cuối thập niên sáu mươi, tại khu đất trống này có kỳ triển lãm nhà tiền chế, khi cuộc triển lãm chấm dứt, ban tổ chức để lại luôn những căn nhà này không chịu dỡ đi. Một số sinh viên thấy các căn nhà bỏ trống bèn chiếm luôn. Tôi có người bạn thân là anh Trần Trị Chi học Văn khoa chiếm một căn nhà tiền chế, dọn đồ đạc bếp núc tới ở luôn, buổi sáng sang lớp học, chiều về nấu cơm ăn y như ở trong "dorm" vậy. Khu đất này là trung tâm sinh hoạt của anh em trẻ một thời, đầu tiên là Trịnh Công Sơn với các bài ca trong tập Thần thoại, Quê hương, Thân phận, rồi tới ban Nguồn Sống do hai bạn Kỹ sư Công chánh Phú thọ Hà Quốc Bảo và Nghiêm Phú Phát điều khiển đã lăng xê Thanh Lan lúc đó đang học Văn khoa, sau đến Phong trào Du ca của Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Thạc, và nhiều sinh hoạt khác... Khi quán Văn mọc lên ở sân cỏ khu vực này, hàng đêm tôi thường rủ Phan Thanh Trí (cán sự điện tử, về sau làm việc với tôi ở Phối trí Điện Năng) tới uống cà phê nghe nhạc. Tôi đã được nghe Khánh Ly lúc mới từ Đà lạt về, chân đất đứng trên bãi cỏ hát Tình Ca Người Mất Trí (Tôi có người yêu chết trận Pleimer...). Hồi năm 72 hay 73 gì đó, khi Khánh Ly mở phòng trà Khánh Ly trên đường Tự do, bạn tôi là họa sĩ Trịnh Cung tới nhờ tôi xin điện ba dây cho nhà hàng, tôi dẫn lại anh Nguyễn Quang Hữu Trưởng khu Nam, anh Hữu cho lệnh làm liền. Sau đó tôi và anh Hữu mỗi người được Khánh Ly gửi tặng một cuộn băng nhạc của cô.

Nhắc tới anh Nguyễn Quang Hữu, chắc nhiều người không biết anh Hữu rất có tâm hồn nghệ sĩ và có nhiều tài, nhất là trong địa hạt nhiếp ảnh. Tôi nhớ hồi năm 71 hay 72 gì đó, CĐV có nhờ nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh hàng năm đi chụp hình để làm lịch cho công ty. Tổng nha ra lệnh cho sở Chuyển vận biệt phái một xe La Dalat và tài xế chở ông đi các địa phương chụp hình sinh hoạt điện lực. Tới cuối năm, ngoài các bức hình do chính ông chụp, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh cũng chọn một tấm hình của anh Hữu cho vào lịch. Bức ảnh này anh Hữu chụp cảnh Sài gòn ban đêm, anh để máy hình tốc độ chậm chụp cảnh đường phố với các đèn xe chạy thành các vệt sáng dài rất đặc sắc. Lúc in lên lịch, bức hình của anh Hữu rất nổi, không kém gì những bức hình của các nhiếp ảnh gia nhà nghề.

Trong các bạn nhạc sĩ, tôi thân nhất với Từ Công Phụng. Từ Công Phụng người Phan rang nhưng không hiểu cách nào anh nói giọng bắc y như dân bắc kỳ chính cống. Anh học Canh nông, sau sang Quốc gia Hành chánh, sau cùng đổi sang học Luật. Hồi những năm bẩy mươi, Từ Công Phụng làm việc cho đài Tiếng nói Tự do trụ sở ở Cư xá Thành tín ngay trước mặt trụ sở 12 HTT. Mỗi khi có việc đi qua đường HTT tôi đều ghé thăm Từ Công Phụng và kéo anh ra ăn phở ở khu ăn uống trước cư xá Bưu điện. Sau năm 75 Từ Công Phụng kẹt lại rồi ít năm sau anh vượt biển tới Nam dương rồi qua Mỹ định cư tại tiểu bang Iowa, gần tôi. Từ đó tôi và Từ Công Phụng lại có nhiều dịp gặp nhau trên đất Mỹ.

Trở lại nha Tiếp vận, khi tôi về sở Chuyển vận thì sở này có 4 phòng gồm phòng Công xa, phòng Bảo trì xe, phòng Nội dịch, và phòng Vận tải. Văn phòng sở Chuyển vận trước kia có chị Yến là thư ký, sau chị Yến lập gia đình với anh Khiết, em chị Yến là cô Phượng thay thế. Phòng Công xa quản trị tất cả các xe cộ của Điện lực, lúc đó lên tới khoảng vài trăm chiếc xe đủ loại. Ngoài các xe của các nha sở và các giới chức trong công ty, CĐV còn có rất nhiều xe do các giới chức bộ Công chánh sử dụng. Có thể nói khi bộ Công chánh cần xe cho một giới chức nào, từ ông cố vấn Lương Thế Siêu, tới các vị thanh tra, hoặc anh Lê Văn Danh, Chánh văn phòng bộ, cũng đều gọi sang Điện lực mượn xe và được thỏa mãn cả. Khi tôi mới về sở Chuyển vận thì gặp ngay một chuyện đau đầu. Tự nhiên Tổng nha nhận được văn thư từ Phủ Tổng ủy Dân vận của Hoàng Đức Nhã xin mượn một xe bus để chuyên chở sinh viên du học về thăm gia định. Thầy Phát kêu tôi lên cũng không biết cách nào giải quyết. Sau cùng Thầy Phát ra lệnh cho tôi trả lời Phủ Tổng ủy Dân vận là Điện lực không có xe cho mượn nhưng nếu Phủ Dân vận cần cứ mướn xe bus bên ngoài rồi Điện lực sẽ thanh toán tiền!

Lúc tôi về làm ở sở Chuyển vận thì Trưởng phòng Công xa là ông Nguyễn Linh. Ông Linh đã lớn tuổi, nói tiếng miền Trung rất nặng, là em ruột của Luật sư Nguyễn Long, khuôn mặt chính trị thân cộng đang bị chính quyền VNCH giam giữ. Ông Linh làm Trưởng phòng Công xa được ít lâu thì về hưu. Sau này tôi nghe nói tuy gia đình LS Nguyễn Long rất được CS trọng dụng nhưng gia đình ông Nguyễn Linh thì lại vượt biên qua Tây Đức sống. Sau khi ông Linh về hưu, Nguyễn Tấn Á từ Chợ quán được chuyển qua làm Trưởng phòng Công xa. Tuy nhiên, anh Á chỉ làm việc được một thời gian ngắn thì có lệnh của Tổng nha chuyển anh Á đi nơi khác. Sau đó anh Cần kiếm được anh Lê Văn Lợi từ Chợ quán ra làm Trưởng phòng Công xa, có Nguyễn Văn Sào phụ tá. Anh Lợi là người làm việc nhanh nhẹn và tháo vát, ngoài ra anh cũng có thể cứng rắn khi cần đối đầu với các đòi hỏi đôi khi quá đáng từ các nha sở khác nên công việc của phòng Công xa tuy có nhiều khó khăn phức tạp nhưng được anh Lợi giải quyết trôi chẩy cả.

Tôi nhớ hồi năm 1973 khi khối Ả Rập làm khó, hạn chế cung cấp xăng làm cả thế giới xính vính, CĐV cũng phải áp dụng chính sách hạn chế sử dụng xăng. Thi hành quyết định của Tổng nha, nha Tiếp vận phải ra "quota" số xăng cấp hàng tháng cho mỗi xe, nhưng nhiều nha sở hay các cấp chỉ huy vẫn nại hết lý do này tới lý do khác để đòi thêm xăng, anh Lợi phải đối đầu quyết liệt lắm mới giữ đưọc số xăng tiêu thụ không quá chỉ tiêu. Bên cạnh phòng Công xa, phòng Bảo trì xe cũng không dễ dàng gì vì với số lượng xe lớn lao và giới chức nào khi hư xe cũng muốn sửa chữa gấp, phòng Bảo trì khó mà thỏa mãn nhu cầu. Lúc trước khi tôi về nha Tiếp vận, Trưởng phòng Bảo trì xe là anh Lý Văn Trợ. Sau đó anh Trợ được chuyển đi công trường đường dây, anh Sử cán sự cơ khí từ Chợ quán ra làm Trưởng phòng. Anh Sử có tay nghề sửa xe rất giỏi, lại có hai thợ sửa xe kỳ cựu là Mười Ngà và Chín Đen nên công tác sửa xe được thi hành chu đáo. Đa số công việc sửa chữa xe cộ đều được làm ở xưởng của sở Chuyển vận, chỉ có một số xe cơ giới lớn mới phải gửi vào cơ xưởng Chợ quán của anh Qúach Ngọc Sơn nhờ sửa.

Phòng Nôi dịch do anh Tăng Trọng Nghĩa làm Trưởng phòng. Anh Nghĩa học Kỹ thuâït Cao Thắng ra, là người lanh lẹ và chịu khó nên mới chìu nổi nhu cầu sửa chữa nhà cửa của các giới chức công ty. CĐV kể ra có rất nhiều cư xá, không kể các cư xá địa phương, tại vùng Sài gòn Chợ lớn công ty cũng có cư xá rải rác, từ Thủ đức tới Chợ quán, cư xá lầu 3 Nguyễn Siêu, cư xá Minh Phụng trong Chợ lớn, cư xá Chánh hưng, Biên hòa ... Phòng Nội dịch đều phải lo các việc sửa chữa cả. Ngoài ra công việc chính của phòng Nội dịch là bảo trì các trụ sở công ty, từ máy lạnh tới điện nước, mái nhà, cửa nẻo, cầu thang, phòng vệ sinhø v.v... Trái với phần vụ sửa chữa xe cộ, trong phòng Nội dịch không có nhân viên nào khác ngoài cô Giáo là thư ký và ông Triển là tùy phái, nên mọi chuyện sửa chữa đều phải kêu nhà thầu làm. Một nhà thầu chuyên đảm nhận các dịch vụ này là nhà thầu Nguyễn Văn Thôi. Ông này mỗi sáng tới văn phòng gặp Tăng Trọng Nghĩa xem Nghĩa có công tác gì rồi lập bảng chiếùt tính giá cả để đưa tôi trình lên xin anh Cần và anh Thiều chấp thuận. Vì làm việc đã lâu nên ông Nguyễn Văn Thôi ra vào nha Tiếp vận tự nhiên, ai ông cũng quen biết cả. Có hồi công việc ít quá ông vô cự lộn với Tăng Trọng Nghĩa: "Tôi cũng như nhân viên Điện lực rồi, các ông không có việc cho tôi làm làm sao tôi sống?" vậy là Nghĩa lại phải chạy đi xem có việc gì cho ông ta làm.

Ngoài các phần vụ chánh như trên, về sau các nhu cầu về an ninh của các cơ sở điện cũng do sở Chuyển vận lo liệu. Một trong các công việc này là công tác khai quang đám cỏ dại mọc quá đầu người quanh nhà máy Diesel TSN và xây vọng gác cho trạm biến điện Xa lộ. Trưởng nhà máy Diesel TSN là Trần Háo Đức rất vui và chịu chơi, mỗi lần có việc cần là réo tôi: "Ông Thầy ơi cỏ mọc cao quá, đám an ninh không còn thấy đường để coi chừng bọn đặc công VC nữa rồi", là tôi phải vôïi chạy vào xem xét tình trạng để làm thủ tục gọi nhà thầu tới khai quang. Anh Trần Háo Đức làm lâu ở TSN và cũng là tay chơi ngon lành nên rất có uy tín ở đây. Lần đầu vào TSN anh phải ra đón tôi tại trạm gác phi trường để dẫn tôi vào, khi tôi tới anh giới thiệu với các nhân viên an ninh: "Đây là ông Thầy của tôi, lần sau nhờ các anh cho vào", thế là các lần sau tôi vào nhà máy TSN khỏi phải giấy tờ chi nữa.

(Đến đây tuy chưa hết phần thứ nhất của hồi ký Những Năm Bẩy Mươi nhưng bài đã quá dài, xin quý bạn cho tôi tạm dừng ở đây, kỳ tới tôi sẽ xin viết tiếp về các sinh hoạt của phòng Vận tải và các chuyến công tác khắp nơi vào những năm sau 1973 để thâu hồi trụ điện từ các căn cứ Hoa kỳ bỏ lại cho chương trình T&D của CĐV.)

Song Nguyễn (Minnesota, tháng 10,1999)