Tìm Nơi Khuất Gió

(Trích bản tin sinh hoạt HCGVN / HTĐ)

Bài của Nguyễn Phước Nguyên

Đặt gánh đồ trên vai xuống, gã thơ đồng quay lại hỏi chàng công tử vừa đứng lại sau lưng:

- Thưa công tử, chúng ta có thể nghỉ đêm ở đây được không ạ?

Đưa mắt nhìn hai cánh cổng chùa cũ kỹ khép kín và bức tường loang lỗ rêu xanh, chàng công tử gật đầu:

- Mi hãy gõ cửa thử xem.

Gã thơ đồng quay lại và đưa tay nắm lấy cái khoen sắt trên cánh cửa và gõ khẽ đôi lần, như sợ rằng nếu gõ mạnh quá, cả cánh cửa và bức tường sẽ đổ sập xuống. Sau một hồi lâu không thấy ai trả lời, gã thơ đồng lại gõ cửa thêm lần nữa, lần này mạnh hơn lần trước. Vẫn không ai trả lời. Bực mình, gã thơ đồng vừa định gõ lần thứ ba thì cánh cửa bật mở ra, thật chậm, với tiếng kẽo kẹt của những then chốt lâu ngày không chuyển động. Từ sau lưng cánh cửa, một vị sư già bước ra với đôi mắt sáng và hiền từ. Ánh mắt nhìn vào gã thơ đồng và chuyển sang chàng công tử, rồi dừng lại. Vị sư già cất tiếng hỏi:

- Chẳng hay hai vị có chuyện chi?

Bước qua trước mặt gã thơ đồng, chàng công tử vòng tay lại cung kính đáp:

- Chúng tôi lỡ đường lạc đến đây, muốn qua núi mà đêm thì sắp xuống. Xin đại sư rộng lòng cho tá túc qua đêm nay.

- Tội nghiệp thì thôi. Núi này quanh đây không có ai cư ngụ cả. Chỉ có bần tăng và cầm thú. Thôi hai vị hãy vào đây rồi mình sẽ nói chuyện sau. Dù sao cũng hãy nghỉ lại đây một đêm rồi hãy đi.

Rồi vị sư già bước vào trong, nhường đường cho hai người khách trọ đi vào và khép cánh cửa

chùa lại. Bên ngoài màn đêm đã buông mình xuống, phủ kín chung quanh.

Chàng công tử ngồi lặng yên nghe vị sư già gõ hồi chuông cuối cùng mà nghe lòng mình lâng lâng, nhẹ nhàng, như làn hương trầm trên bàn thờ Phật từ từ bay lên và tan loãng dần vào không gian. Đặt dùi chuông xuống, vị sư già ngồi xếp bằng bất động thật lâu với đôi mắt khép nhẹ lại và hai bàn tay duỗi thẳng ra đặt ngửa lên mỗi đầu gối. Không gian thật yên tĩnh. Chàng công tử như bị cuốn hút vào sự cô lặng đó trong một niềm sảng khoái của hư vô. Hồi sau, vị sư già mở mắt ra, từ từ đứng dậy, cúi mình chấp tay xá pho tượng Phật ba lần, rồi bưng cây đèn cầy nằm trên chiếc dĩa nhỏ bước về phía chàng công tử đang ngồi. Đặt nhẹ cây đèn cầy xuống bàn, vị sư già hiền hòa nói:

- Công tử nên đi nghỉ sớm để lấy sức mai lên đường.

- Bạch thầy, con ngồi nghe thầy tụng kinh mà lòng con nghe như không còn vướng bận điều gì cả. Bạch thầy, nếu thầy cho phép, con xin được ở đây thọ pháp cùng thầy, để sớm tối học kinh đọc kệ.

- Công tử muốn thế, nào khó gì đâu. Nhưng đạo pháp đâu phải là chốn cho ta chạy trốn nợ hồng trần. Hơn nữa, công tử cũng chưa biết được mình có thật sự đi trọn con đường này không. Làm sao mà có thể một sớm một chiều quyết định như thế.

- Bạch thầy, chẳng dấu gì thầy. Con vốn họ Trần, giòng dõi Trần vương. Nay vì chạy trốn sự truy tầm của giặc mà lạc bước đến đây. Suốt đêm nay nghe thầy tụng kinh, lòng con nghe nhẹ hẳn nợ trần ai. Ắt là cũng có duyên với đạo. Xin thầy mở rộng cửa lòng cho con theo học đạo pháp, bắt đầu từ hôm nay.

Nhắm đôi mắt lại trong chốc lát, vị sư già lại mở mắt nhìn chàng công tử mà nói:

- Thôi được. Ta cũng chưa biết là duyên hay là nghiệp. Công tử cứ ở đây, nhưng chỉ nên ngày ngày theo ta đọc kinh niệm kệ, cho đến khi nào thấy rõ nghiệt căn đã dứt hay chưa.

Gã thơ đồng lúc đó bước ra từ bên trong, hai tay nâng mâm đựng hai chung trà. Đặt nhẹ hai chung trà trước mỗi người, gã thơ đồng lùi lại và xuôi hai tay đứng thật yên đằng sau lưng chàng công tử. Hương trà thơm thoảng nhẹ như những lời nói của vị sư già thấm nhập vào tâm hồn chàng công tử. Gã thơ đồng vẫn đứng im lặng và bất động sau lưng.

Nhìn những hoa mai vàng rung rinh đùa trong gió, chàng công tử mỉm cười và ngâm nhẹ vài câu thơ. Bỗng gã thơ đồng hớt hãi chạy vào. Gã chưa kịp nói gì thì chàng công tử đã gắt nhẹ:

- A Phúc, ngươi làm gì mà vội vàng đến thế. Không biết sư phụ đang tĩnh tâm hay sao?

- Ta đã xong rồi. A Phúc, chuyện gì thế?

Câu trả lời vừa dứt, vị sư già đã bước ra đến khu rừng mai sau chùa. A Phúc, gã thơ đồng, vội vàng quì xuống, hai tay cung kính chắp lại và nói:

- Bạch thầy và chủ nhân, A Phúc tôi nhận thấy mình phận tôi đòi kém học, nên chắc không có duyên cùng kinh kệ. Xin thầy và chủ nhân cho tôi xuống núi để trở về với thân phận tục nhân.

Khoát tay bảo chàng công tử lặng im, vị sư già nhìn gã thơ đồng đang quì trước mặt và hỏi:

- Người hãy đứng dậy. Và nói cho ta biết chuyện gì đã xảy ra hôm nay.

Đứng lên từ dưới đất, gã thơ đồng khoanh tay lại thưa:

- Bạch thầy và chủ nhân, tôi vốn được theo chủ nhân từ nhỏ. Cùng chủ nhân đến đây hầu hạ thầy và chủ nhân đã được mấy mùa trăng. Lúc nghe thầy thuyết pháp, lòng cũng biết nghe điều hay lẽ phải, cũng biết học chữ nhẫn chữ kiên. Suốt thời gian qua, mỗi lần xuống núi mua rau, đổi củi tôi đã chứng kiến nhiều cảnh bất công mà vẫn cố nhịn nhục vì muốn làm theo lời thầy khuyên dạy. Cho đến hôm nay...

- Hôm nay sao?

Hít một hơi thở dài, gã thơ đồng đứng thẳng lưng hơn đáp:

- Hôm nay tôi xuống núi mua gạo, gặp cảnh bọn giặc đi lấy thuế muối của người dân. Tội nghiệp thì thôi, bấy lâu nay đất nước bị bọn chúng hoành hành, dân thì đói khổ, nào có chi đâu để ăn để sống. Thế mà chúng lại còn tăng thuế muối năm nay, tiền đâu mà đóng. Không có tiền đóng thì bị chúng đánh đập, giam giữ. Bấy lâu nay tôi cố nhịn nhục, nhưng hôm nay, sau khi thấy cảnh chúng đánh một ông già và cột tay cho ngựa kéo lăn lóc trên đường, tôi không nhịn được cơn giận, đánh cho chúng một trận. Tôi đánh gục hai tên và bị chúng lùng rượt quanh chợ. Cũng may được người dân giúp che dấu, tôi mới trốn thoát được về đây.

Ngừng lại một chút, gã thơ đồng nói tiếp:

- Bạch thầy cùng chủ nhân, A Phúc tôi kém hiểu biết. Nhận thấy rằng A Phúc tôi vốn lỡ sinh ra làm người, nên có tu mấy đi nữa, ắt kiếp này vẫn không mong giải thoát. Vả lại, vốn không có duyên nên chẳng thấy được cái có cái không. Nên A Phúc tôi xin thầy và chủ nhân cho phép tôi xuống núi, trở về thân phận phàm phu, để khỏi làm ô uế cửa thiền và liên lụy đến công việc tu hành của thầy và chủ nhân.

Sau một thời gian suy nghĩ, vị sư già thở dài nói:

- Thôi, được. Ngươi cứ tự tiện xuống núi. Âu cũng là nghiệt căn kiếp trước vậy.

à vị sư già trở bước vào căn phòng của mình để bắt đầu công phu thiền định. A Phúc cũng quì xuống bái biệt chủ nhân rồi quay về phía nhà bếp, nơi hắn tá túc bấy lâu nay, để chuẩn bị khăn gói xuống núi. Chàng công tử đứng ngỡ ngàng nhìn mọi chuyện. Và ngỡ ngàng hơn khi thấy rằng những hoa mai đã rụng xuống, đang nằm yên trên mặt đất, vì một cơn gió mạnh thổi đến.

Không biết lúc nào.

Xong giờ thiền định, chàng công tử bèn châm hai chung trà nóng đặt xuống bàn và ngồi chờ vị sư già đang còn ngồi nhập định. Công việc này vốn là của A Phúc, nhưng vì A Phúc đã xuống núi từ hồi chiều, nên chàng phải làm lấy. Lát sau, vị sư già bước ra và ngồi xuống bên cạnh chàng công tử. Vị sư già thốt:

- Trần công tử có biết tối nay ta ngồi nhập định, nhưng tâm thần không được thanh tịnh như mọi hôm. Công tử có biết tại sao không ?

- Dạ không, xin nhờ sư phụ chỉ dẫn.

- Vì những điều A Phúc nói đó.

- Bạch sư phụ, đệ tử vẫn còn mơ hồ. Xin sư phụ cắt nghĩa cho.

Hớp một ngụm trà nhỏ, vị sư già nói:

- Công tử xem, ta cũng như công tử vốn sinh ra làm kiếp con người. Ắt rồi cũng có ngày nhắm mắt. Cái chết của chúng ta vì đã sinh ra làm người là điều dĩ nhiên. Còn cái chết của Phật ta nghĩ ắt là điều ngẫu nhiên, cho chúng sinh. Khác là chỗ đó. Ta tu hành mà chết thì gọi là thoát sinh nhập tử. Cái chết của Phật thì gọi là nhập Niết bàn, giải thoát sinh tử luân hồi. Gẫm ra một điều, ta e rằng cái mức tựu thành của sự tu hành của ta, xem ra, còn kém cả cái mức tựu thành của A Phúc. Ta vì ngộ đời nên lên núi tu hành. A Phúc vì lên núi tu hành nên ngộ mình mà xuống núi. Nào đâu có đạo để gọi là ngộ đạo. Tất cả, là Pháp. Tu, là chấp Pháp. Không tu để mà tu, cũng là chấp Pháp. Ngộ đời trong mình. Và mình trong đời. Là thức đó.

Vị sư già lại thở ra mà nói:

- Ta xem chừng mai này chỉ còn mình công tử nơi đây.

- Bạch sư phụ, còn sư phụ đi đâu?

- Ta vốn không phải là Phật, nên nào có thể ngồi đây thuyết pháp độ người. Ta lên đây tụng kinh để mong Phật chứng giám mà độ ta. Trong khi Phật vốn đi thuyết kinh cho chúng sinh trong ta bà thế giới. Nên ta chỉ muốn giúp chúng sinh thoát khổ. Ta sẽ xuống núi, đem những điều học hỏi để giúp chúng sinh đang khốn khổ bớt bị khốn khổ làm điêu đứng. Và ta muốn giúp chúng sinh bằng cách chịu khổ cùng họ. Vì họ là ta, và ta là họ. Ta phải chịu cùng cái khổ của họ mới giúp họ bước ra từ cái khổ đó được. Như ta đã nói cùng công tử, đạo pháp không phải là nơi chạy trốn trần gian. Đạo pháp là nơi ta tranh đấu để thắng chính mình, thắng cái bản ngã của mình. Và sau đó đi giúp chúng sinh. Mà muốn thắng mình, ta phải biết chân tướng của mình thật rõ. Xem ra, A Phúc đã đạt được điều đó, hơn ta.

Chàng công tử gục đầu xuống thấp, và hỏi:

- Bạch sư phụ, thế thì đâu là đạo pháp.

Vị sư già chỉ vào tim mình đáp:

- Đạo, ở đây. Mà không ở đây. Vì thế mà đạo ở mọi nơi mà không nhất định là nơi nào hết. Công tử có nhớ chuyện đức Phật ngày xưa có nói khi ta thấy con hổ đói, thì ta phải đưa mình cho hổ ăn thịt không?

- Dạ nhớ.

- Đạo là thế đó. Không phải thấy con cọp đói là đưa mình cho nó ăn mà đủ. Phải đưa mình cho nó ăn như thế nào để khi nó ăn ta rồi, nó không ăn người khác nữa. Công tử hiểu không?

- Dạ hiểu.

- Ở dưới chân núi kia, bọn giặc là cọp. A Phúc là kẻ đánh cọp cứu dân. Ta chỉ muốn cọp ăn ta rồi thì hết ăn kẻ khác. Thế thôi. Thế nên, từ nay, ta với đạo và đời, là một. Là không. Phật cũng không. Thiền cũng không. Là thế đó. Lấy đạo làm đời. Nhập đời, thấy đạo. Duyên của ta và công tử ở ngôi chùa này đến hôm nay là hết. Có duyên nữa, thì là giữa chốn trần gian.

Vị sư già lại đứng dậy nói:

- Bắt đầu từ bây giờ, sư phụ cũng không, mà đệ tử cũng không. Công tử hiểu ý ta chứ?

- Dạ.

Vị sư già bước về phòng mình. Chàng công tử vẫn còn ngồi đó một mình với chung trà chưa uống. Sau một hồi nhắm mắt lặng im, chàng công tử mở mắt ra, mỉm cười. Và chàng đứng dậy, bưng chung trà ra tưới vào gốc mai và tự thốt:

- Hoa đẹp.

Xong, chàng cũng quay về phòng mình, sau khi đặt chén trà không của mình bên cạnh chung trà đã uống cạn của vị sư già. Cả hai chén đều được đặt nằm úp xuống.

Trời vừa chuyển sáng. Hôm sau.

Từ sau lưng cánh cổng chùa vừa mở, có một chàng tráng sĩ bước ra với thanh kiếm báu cài gọn

sau lưng. Chàng quay lưng lại để đóng cánh cửa chùa, vì chùa không còn ai trụ trì. Một ý nghĩ thoáng qua đầu, chàng tráng sĩ lại trở bước vào trong chùa. Lát sau chàng lại bước ra, tay cầm một tờ giấy, mực còn ướt với vài giòng chữ. Dán tờ giấy lên bức tường, nơi gần cửa chùa, chàng tráng sĩ bèn đẩy mạnh cho hai cánh cửa chùa mở toang ra. Và chàng băng mình xuống núi. Tờ giấy đọc như vầy:

"Vốn là chùa, nhưng không phải là chùa.

Cửa mở để đón kẻ lạc đường.

Sau chùa có bếp, có củi.

Kẻ dùng trước nhớ nên đốn củi

để dành cho kẻ lạc đường đến sau."

ể xong câu chuyện, ông Độ quay lại nói với Hoàng:

- Thôi, con coi chừng đào dầu lên đi. Ghe gần đến rồi, kẻo trễ.

- Dạ. Thưa thầy, con có một điều muốn hỏi thầy.

- Con hỏi đi.

- Sao thầy không đi chung cùng con?

Ông Độ nói:

- Thầy không đi là vì công chuyện ở đây cần thầy hơn. Với số tuổi và vai trò của thầy, con cũng biết là thầy phải và nên ở lại để giúp những đứa học trò khác nữa. Thầy dạy công dân đã hơn bốn mươi năm rồi. Đứa nào là học trò của thầy, thầy đều xem như con ruột. Con hiểu ý thầy không?

- Dạ hiểu.

- Vậy thì con cũng phải hiểu luôn rằng lần này con lên đường tức là làm một chuyến đi mới. Sự ở lại của thầy cũng là một chuyến đi, nếu nhìn từ một khía cạnh khác. Điều quan trọng là lúc nào con cũng phải nhớ rằng mục đích cuối cùng của một chuyến đi không phải là để đến. Mà là để đến nơi mình muốn về. Nơi chốn về là nơi mà khi mình đến đó, mình biết là mình sẽ ở lại mà không còn phải đi đâu nữa. Con hiểu không? Tất cả những nơi đến khác chỉ là chốn tạm dừng chân, chỉ là những giai đoạn phải đi qua, con hiểu không?

- Dạ hiểu.

- Thôi, con lo đào dầu lên đi là vừa. Thầy chúc con đi mạnh giỏi. Và thành công với những gì thầy trò mình cùng ao ước.

Nói xong, ông Độ bước xuống nước đẩy chiếc xuồng nhỏ của mình xa bờ và leo vào chèo đi, không một lần ngó lại đứa học trò của mình. Hoàng đứng trông theo cho đến khi tiếng chèo của ông Độ nhỏ dần và im hẳn.

Xong, Hoàng quay lại đào những thùng dầu dấu gần đó lên. Tìm một nơi khuất gió, Hoàng ngồi xuống chờ. Chung quanh vẫn là bóng đêm. Nhưng Hoàng có cảm giác rằng bóng đêm, cũng như chàng, đang nôn nao đợi chờ ánh đèn nhỏ của chiếc ghe chiếu đến. Để buổi sáng mai về, biển sẽ đón chàng bằng tia nắng sớm tự do.

Giữa bóng đêm. Giữa sự đợi chờ trong im lặng đó, Hoàng vẫn tưởng như mình còn đang nghe tiếng mái chèo của ông Độ, đang vỗ nhẹ xuống mặt nước bì bõm, vang vọng về văng vẳng. Đâu đây.
 
 

Nguyễn Phước Nguyên