Tình Quê Hương
Bài của Phạm Hữu Bình

 
Đố ai định nghĩa được chữ tình? Trước hết, có mối tình câm của người trai mới lớn. Kế đến là mối tình cà lăm, sau đó là mối tình biết nói, rồi đến chuyện thật, tình có khi tô điểm thêm vài câu hát yêu, kiểu như : Yêu ai yêu mãi còn yêu,

Yêu cho đến hơi tàn cuối.

Nhưng có một loại tình khác, rắc rối hơn, vì khó nói hơn. Nó có tính cách vượt thời gian và không gian. Cái mối tình đó nó cứ thấp thỏm trồi lên thụt xuống trong đầu tôi. Nó ray rứt tâm tư tôi từ năm nầy đến năm khác. Sau khi về thăm Việt nam một chuyến, tôi mới hiểu đích thực ra, cái đó gọi là "tình quê hương".

Thưa các bạn, một hôm nọ, đúng vào ngày mà tôi chánh thức hưu trí (1/4/1999), tôi lấy một quyết định đặc biệt để đánh dấu một đoạn đường trong cuộc đời mình: tôi sẽ về Việt nam một chuyến. Và quả thật tôi có về Sài gòn / Vũng tàu 4 tuần lễ (7-8/1999). Bên đó tôi thấy như vầy: công an trị, kinh tế bi đát, lớp tuổi 20 bế tắc, dân VN có sức sống rất là mãnh liệt. So với các xứ Phi châu, xứ VN vẫn còn giàu có hơn!!! Đây là những đề tài tôi sẽ lần lượt kể cho các bạn nghe. Trong bài đầu tiên nầy, tôi xin nói về bản thân tôi: tâm tình của người di cư nay trở lại quê hương cũ.

Tôi rời VN vào năm 1977, đến nay mới về. Tôi còn một đứa em gái sinh sống ở Vũng tàu. Về đến Tân Sơn Nhứt, tôi đi tót về Vũng tàu luôn, phần viếng Sài gòn để dành lại cho tuần cuối. Đường đi về Vũng tàu nay có khác hơn lúc trước: rộng hơn, nhiều xe hơn, không chạy nhanh được, lại có thêm một đoạn đường phải nộp tiền mãi lộ! Đây là ngạc nhiên đầu tiên: xứ cọng sản mà lại có toll way!!! Công tác nới rộng đường còn đang tiếp tục. Hai mươi năm sau, kể ra có khác: khá hơn khi tôi còn 20 tuổi! Đó là cảm nghĩ đầu tiên của tôi. Thành phố Vũng tàu cũng có thay đổi: bãi trước, bãi sau nay thành ra một con đường thênh thang, rộng đến bốn xe hai chiều, thêm bồn cỏ giữa. Mặt tiền nầy khác xưa nhiều lắm. Đây là điểm tốt của Vũng tàu. Khách sạn có rất nhiều, kể cả hạng sang. Những khách sạn đang hoạt động, ban đêm, chỉ thấy đèn đuốc vài căn, lỗ lã là cái chắc! Khách sạn xây cất nửa chừng, bỏ đi, sét rỉ, tôi đếm được hai tòa đồ sộ.

Tôi thuê xe đi "tham quan" (cùng với người nhà) khu vực suối nước nóng. Suối nước nóng là một nơi nổi tiếng thời Ngô Đình Diệm. Địa danh nầy nằm trên đường đi từ Phước hải qua Hàm tân. Trước kia trong giai đoạn CĐV phát triển ra tới Bình tuy (1969), tôi có dịp tham gia các kỳ thương thảo mua lại nhà máy đèn Hàm tân. Bây giờ đi từ Hàm tân qua Bà rịa rất dễ dàng: có xe đò chạy thường xuyên. Cũng con đường chiến lược đó ! Chiến lược vì nó đi ngang qua khu Xuyên mộc, ngăn chặn tiếp tế từ bờ biển vào. Rừng Xuyên mộc lừng danh với trận đánh Bình giả. Rừng nầy là điểm tập kết ra Bắc 1954/55 theo hiệp định Genève. Xuyên mộc là một quận của tỉnh Bà rịa, giáp ranh với Bình tuy, xưa kia mặc áo giáp không dám vào. Chiến khu Dương Minh Châu ở khu vực nầy. Những đêm tôi ở lại Hàm tân, đâu dám đi xa. Con đường nầy, vào những năm 1970, được Mỹ mở rộng rất lớn, bốn xe hai chiều. Nay đường hãy còn nguyên vẹn, xe chạy thênh thang. Khác biệt là người Mỹ không còn, còn tôi là du khách dạo chơi trong cảnh thái bình! Cũng là thằêng tôi, trước kia tôi là ngươiø trong cuộc thù hằn bằng hai chiến tuyến, nay tôi là người ngoại cuộc, du ngoạn như tiên ông! Tiên ông và người chủ con đường ai sướng hơn ai? Chủ nhà thì phải lo lấp ổ gà. Chớ tiên ông chỉ có đi chơi!

Trở về suối nước nóng. Tên gọi là suối chớ thật ra là một khu đất sình lầy theo kiểu rừng chòi, có lau sậy hoang, đặc biệt có nước nóng từ lòng đất sủi lên và chảy đi nơi khác. Nghe đâu cũng có người té vào sình, bị phỏng nặng. Chỗ nóng nhứt được ghi là 85 độ C. Tôi bỏ trứng gà vào đó, quả thật 15 phút sau trứng chín. Tôi cũng thấy có một người đang ở đây để trị bịnh phong thấp chân. Du khách chỉ có vài xe đò cỡ nhỏ. Sau 20 năm thái bình, nếu không phải là cộng sản, nơi nầy chắc chắn là du khách tấp nập. Những nơi khác như Vichy / Pháp, Peitou / Đài loan, người ta biết kinh doanh phồn thịnh ra rích. Xứ nào thì cũng có suối nước nóng, người khôn thì biết hái ra tiền, còn người tự cho rằng mình khôn, thì tiền không ra.

Trên đường du ngoạn, tôi có ghé vào một vườn thanh long. Trái thanh long cũng còn được gọi nôm na là trái xương rồng. Hình tròn như quả rugby, da đỏ, vải xanh, lột ra như trái chuối, ăn vào như hột é. Trái xương rồng là một đăïc sản VN. Xương rồng lớn lên là nhờ ánh nắng mặt trời. Rễ cây thì chỉ chấm đất cầm hơi. Cho nên trái xương rồng có trọn vẹn âm dương. Chỉ có hoa phong lan mới dám tranh tài về mặc nhờ khí trời mà lớn. Còn con người thì xưa nay chỉ có Tôn Hành Giả mà thôi! Xương rồng nói chung là loại dây leo, có gai. Loại xương rồng không gai mới là thứ cho ra trái thanh long. Muốn có được nhiều trái trên một dây, người ta cắm một khúc cây khô cao hai thước, rồi cho xương rồng leo theo đó. Thế là người ta có đến vài chục trái trên một khúc cây khô! Cây nầy qua cây kia chừng một thước rưỡi. Trái thì đâu có chín rộ cùng một lúc! Cho nên chủ vườn nầy nói với tôi là ông ta bao giờ cũng có đủû ăn!!! Sướng thay cho ông ta không biết thất nghiệp là gì !

Trong những ngày ở Vũng tàu, tôi tập được cái thói quen của dân địa phương là đi tắm biển sáng sớm trước giờ công sở mở cửa, tức là từ 6 giờ sáng đến 8 giờ sáng. Giờ nầy thì đông người ở Ô quắn, tám giờ trở đi thì ít người. Một hôm, bơi lội bên cạnh tôi có ba người thuộc loại lớn tuổi, tóc bạc hơi nhiều. Họ có vẻ thoải mái hớn hở lắm. Lắng tai nghe lóm họ nói chuyện với nhau thì tôi hiểu được đó là ba cán bộ nhà nước. Họ về hưu và được nhà nước ban cho phúc lộc không phải đi làm mà lại có ăn, và có ăn đầy đủ. Họ nói chuyện với nhau hạnh phúc lắm, một cái hạnh phúc mà họ chưa từng có. Tôi quay lại nhìn diện mạo họ. Tôi nghĩ thầm chắc đây là những tên sanh ra bần cố nông nghèo đói lắm từ tấm bé nay được tắm biển Vũng tàu thì là cảnh thần tiên rồi! Nghĩ sâu hơn một tí nữa, tôi lại thấy họ là ba con sâu mới vừa thoát ra khỏi trứng. Cuộc chuyển mình đổi kiếp nầy đưa họ tới thiên đàng. Thiên đàng họ là sinh sống ở miền Nam có cơm ăn, có nhà ở, có nhà nước nuôi.

Tôi nghĩ tới tôi: tôi là bướm, đã bay lượn qua nhiều xứ. Tôi cũng vừa chuyển kiếp từ sâu ra bướm. Tôi cũng có những gì tôi mơ. Tôi có thiên đàng của tôi. Một thế hệ, hai thiên đàng. Nhưng mỗi người chỉ biết cái thiên đàng mình là nhứt. Nhưng thật sự có hai thiên đàng hay không? Nếu chỉ có một thiên đàng, thì đâu là biên giới hận thù?

Sau giai đoạn Vũng tàu, tôi lên Sài gòn. Tôi có gặp được các bạn cũ, đồng môn có, đồng nghiệp có. Bạn học cũ, nay đều hưu trí, có người sống hùng sống khỏe, có người tiền nong thiếu trước hụt sau. PĐĐ lãnh hưu trí 17 USD một tháng! Chỉ biết trông cậy vào chữ hiếu của mấy đứa con!

Tại chức, tôi có gặp được hai anh cựu đồng nghiệp nay giữ chức vụ cao. Anh TCĐ có diện mạo trưởng cơ quan. Anh NVN giữ nguyên vẹn khuôn mặt của nhà trí thức. Anh TTT tuy có hơi nhăn nhíu, nhưng cái món lanh lợi chớp nhoáng vẫn còn bén nhạy không kém thời xuân xanh!

Ngày xưa, "sáng lập viên" trường CĐĐH NKN đã tiên đoán: "sau nầy điện lực nước nhà sẽ ở trong tay các anh". Và đúng như vậy, chuyện đó nay đã thành sự thật: tôi đang ăn cơm trưa với hơn mười người có trách nhiệm Điện lực Sài gòn. Họ đều là cựu sinh viên CĐĐH. Xin các anh chia cho tôi một phần cái niềm hãnh diện nầy!

Trong thời gian ở Việt nam, tôi thấy toàn là người VN. Ấy, xin các bạn đừng cười tôi lẩm cẩm! Ở xứ Noisiel của tôi đâu có được như vậy! Ở Việt nam, người ta nói tiếng nói của tôi, một tiếng nói mà khi ở Noisiel, năm khi mười họa tôi mới có dịp lấy ra xài! Tôi sinh sống trên đất Pháp kể ra thì cũng được 22 năm rồi. Nhưng mà hội nhập vào cái cộng đồng dân bản xứ, thì tôi vẫn có vài lợn cợn. Chẳng ai chê bỏ tôi, chẳng ai khinh miệt tôi, nhưng chính tôi tự thấy mình là người ngoại cuộc. Ở VN, tôi giống họ, và họ giống tôi. Tôi là họ, họ là tôi ! Rồi một cảm nghĩ nghẹn ngào tuôn trào lên mắt mũi tôi: đây mới chính thực cái mà người ta gọi là "Quê Hương":

Nghe quê hương

Tiếng gọi mời thương

Những ngày tha phương

Trong cõi đời ta

Giữ bên lòng

Hình bóng quê nhà .

(hát theo Phi Nhung, Asia Entertaiment) Phạm Hữu Bình