Vài Kỷ Niệm Với Học Trò

Ở Trường Cao Đẳng Điện Học

Bài của Nguyễn Hữu Minh
LTS: Thân hữu Nguyễn Hữu Minh nguyên là Giáo sư trường Cao đẳng Điện học (CĐĐH) Phú thọ, Sài gòn, từ khóa 1 Kỹ sư và Cán sự, cho đến 1975. Nghĩa là đối với hầu hết các Kỹ sư và Cán sự điện tốt nghiệp từ Trường CĐĐH Phú thọ, Sài gòn, TH NH Minh là một vị Thầy. Thầy Minh cũng đã từng giữ chức vụ Tổng Giám đốc cơ quan Điện lực Việt nam, trong khoảng từ 1965 đến 1966. Qua bài viết dưới đây, Thầy Minh bộc lộ tình cảm và tâm sự của Thầy về và với các học trò cũ. Lời viết của Thầy Minh nhiều chỗ có thể không hẳn là lời Việt, cách diễn tả đôi khi không nói trọn hết ý, nhiều chữ dùng có thể chưa chỉnh, nhưng người đọc, nhất là các học trò cũ của Thầy, cảm được rõ ràng là Thầy có một tấm lòng. Và đó mới chính là điều mà người đọc THĐL chúng ta trân trọng.

Năm 1959, khi tôi hồi hương, tôi gặp lại Nguyễn Khắc Nhẫn. Lúc ấy Nhẫn làm Phó Giám đốc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú thọ, kiêm nhiệm chức vụ Giám đốc Trường Cao đẳng Điện học, gồm ban Kỹ sư và Cán sự. Tôi và Nhẫn là chỗ quen biết cũ. Trước khi đi du học ở Pháp, trong những năm 1947-48 tôi có dạy học môn Toán và Vật lý ở trường Trung học Khải Định, Huế, và Nhẫn là một trong những học sinh đặc biệt ưu tú.

Hè năm 1959, Nhẫn mời tôi dạy hai lớp Kỹ sư và Cán sự điện sắp tốt nghiệp năm 1960. 

Tôi hỏi Nhẫn: Toa giao cho moa dạy môn gì ?

Nhẫn đáp: Tôi mời anh dạy Electrotechnique.

Tôi nói: Moa muốn dạy môn khác vì môn Electrotechnique quá khó và quá lý thuyết.

Nhẫn trả lời: Tôi đã đặc biệt dành môn ấy cho anh, vì môn ấy khó và có hệ số cao hơn các môn khác. Chắc chắn là sinh viên sẽ không dám xao lãng lớp anh dạy.

Tôi nghĩ lại, thấy Nhẫn nói có lý, cho nên nhận dạy môn Electrotechnique. Nhẫn còn nói thêm là sinh viên ở trường hay cho điểm các giáo sư, dạy hay thì được A, dạy bình thường thì được B. Tôi học ở Việt nam và Pháp, chỉ biết cho điểm từ 0 đến 20. Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến lối chấm điểm A, B, C, ... của Huê kỳ.

Tôi rời nhà trường để đi làm việc đã lâu cho nên những hiểu biết lý thuyết không còn nhớ nữa. Thế là phải lấy sách ra học lại để đi dạy. Và phải học rất kỹ. Trung bình muốn dạy một giờ, tôi phải bỏ ra 4-5 giờ để soạn bài. Vì thế tôi thuộc lòng các bài dạy. Thuộc bài cho đến nỗi ban đêm tỉnh giấc, nhìn lên màn, tôi có thể thấy các công thức chạy qua trước mắt tôi. Trong khi dạy khóa kỹ sư đầu tiên, tôi cố gắng không bao giờ nhìn vào sách. Tôi xây lưng vào bảng đen, mắt nhìn vào sinh viên, tay duỗi thẳng ra để viết vào bảng đen. Mục đích là đừng để đầu của mình che chữ viết trên bảng đen. Viết chừng nào thì sinh viên thấy chừng ấy và có thể chép vào vở của họ. Thỉnh thoảng tôi ngừng dạy, kể cho các sinh viên nghe về các máy móc mới tôi làm ở Pháp trước khi hồi hương. 

Tôi không muốn kiểm soát sinh viên, tôi muốn giao cho sinh viên trách nhiệm tự kiểm soát mình. Tôi để cho sinh viên tự do muốn đến lớp học thì đến, không muốn đến thì thôi. Tuy nhiên, mặc dầu không bị kiểm soát, các sinh viên thường đến lớp đông đủ. Dạy được độ nửa năm thì một hôm đi qua văn phòng, tôi gặp Nhẫn. Nhẫn cười nói với tôi "Sinh viên cho anh điểm A". Bắt đầu từ hôm ấy tôi thấy thoải mái hơn. Dạy xong khóa thứ nhất thì trong các khóa kế tiếp tôi không cần mất quá nhiều thì giờ để soạn bài vì tôi đã thuộc lòng rồi. Hơn nữa, tôi biết là sinh viên khóa thứ nhất đã truyền miệng lại "tôi là giáo sư hạng A". Nếu không nhớ rõ một công thức, tôi công nhiên nhìn vào sách để viết công thức lên bảng, không một tí nào ngần ngại.

Cách đây một hai năm, một cựu sinh viên kỹ sư hỏi tôi tại sao trong các kỳ thi, một khi đã ra đề thi xong, tôi hay bước ra khỏi phòng, không ngồi lại để kiểm soát sinh viên. Tôi làm như vậy vì hai lý do:

1) Đa số các môn học ở trường đều có tính cách lý thuyết, kể cả môn Electrotechnique của tôi dạy. Sinh viên học để hiểu một cách tổng quát các vấn đề kỹ thuật và biết phương pháp giải quyết các vấn đề ấy. Chỉ những người có công việc rất chuyên môn mới có cơ hội giải quyết các vấn đề kỹ thuật một cách cụ thể. Mà muốn làm việc như vậy, tất nhiên phải học thêm rất nhiều, học trong sách vở, và học với những người chuyên môn khác, giàu kinh nghiệm hơn. Trong hơn 10 năm làm việc ở Pháp, trước làm trong dự án xây cất 4 nhà máy điện 250MW ở Porcheville, sau làm việc về computer, đang còn ở trong thời kỳ ấu trĩ, ở Société d’Electronique et d’Automatisme Paris, tôi không nhớ có khi nào phải mở một cuốn sách ra để tìm một công thức nào đấy. Tôi nhớ chỉ dùng "Règle de trois". Règle de trois là tiếng Pháp dùng để giải quyết bài toán như sau: Một người mua 5 cái áo, giá tất cả là 100 đồng, nếu mua 7 cái áo thì phải trả bao nhiêu? Chỉ cần làm một bài toán chia và một bài toán nhân là xong. Nhưng, đơn giản hơn nữa là dùng "Règle à calculer", tức là thước tính, khỏi phải làm toán gì cả. Tôi không buộc sinh viên phải nhớ công thức, vì trên thực tế, trong kỹ nghệ, mấy ai có nhu cầu phải sử dụng công thức. Tôi chỉ cần sinh viên hiểu đại cương các vấn đề kỹ thuật và cách thức giải quyết một cách tổng quát những vấn đề kỹ thuật ấy.

Lẽ tất nhiên, đi học thì phải thi để xem ai đủ điểm để tốt nghiệp, để phân biệt sinh viên ưu tú. Đối với tôi, thi cử chỉ là một công việc hành chánh, tôi phải làm để cho hợp lệ với Ban Giám đốc nhà trường. Đã là một hình thức hành chánh thì tôi không muốn và tôi cũng không cần kiểm soát sinh viên của tôi làm gì. Nếu sinh viên đến lớp chăm chú nghe tôi giảng dạy thì tôi mãn nguyện lắm rồi. Vấn đề lý thuyết nhiều khi rất khó hiểu. Cũng có thể có sinh viên không hiểu được. Nếu sinh viên không hiểu thì họ có thể hỏi riêng tôi. Nếu không hỏi thì tôi cho là họ đã hiểu rồi, tôi không cần kiểm soát qua các bài thi hoàn toàn có tính cách lý thuyết, phải làm xong trong hai giờ thi.

2) Lý do thứ hai là thời bấy giờ rất ít ai muốn đi quân dịch. Không muốn đi quân dịch là vì nhiều lý do. Nhưng lý do chính có lẽ là nếu đã dính vào quân dịch thì không biết năm nào tháng nào mới được giải ngũ. Chỉ có những sinh viên học về ngành kỹ thuật mới có nhiều hy vọng được hoãn dịch. Nhất là đối với sinh viên học về ngành điện. Ngành điện là một ngành mới mẻ trong nước. Nhà máy Đa nhim, hệ thống truyền tải 230kV từ Đa nhim về Sài gòn đang xây cất. Nhà máy điện Thủ đức, hệ thống 66kV xung quanh Sài gòn Chợ lớn, việc điện hóa các tỉnh sắp khởi công. Như vậy, nhu cầu kỹ sư cán sự điện rất lớn. Các sinh viên ngành điện sẽ không đủ cung ứng cho nhu cầu trong mấy năm sắp đến. Tốt nghiệp ở trường Cao đẳng Điện học, chắc chắn sẽ có việc làm ... suốt đời, chắc chắn sẽ được hoãn dịch ... suốt đời.

Muốn thi đậu vào trường CĐĐH không phải là một việc dễ dàng. Mỗi khóa chỉ lấy dưới 30 người (khóa thứ nhất chỉ có 26 người) được may mắn vào trường. Nhưng có biết bao nhiêu ngàn thí sinh? Sự cạnh tranh vô cùng gay go, có lẽ gay go hơn thi vào các trường Grandes Écoles ở Pháp. Đã được may mắn thi đỗ vào trường Điện mà chẳng may không đủ điểm để tốt nghiệp - vì không làm được bài thi Electrotechnique có hệ số cao do tôi dạy - để phải đi quân dịch là một điều bất hạnh. Và tôi không muốn lãnh trách nhiệm là nguyên nhân của sự bất hạnh nói trên.

Trong một khóa học, có nhiều sinh viên ưu tú nhưng cũng có nhiều sinh viên chỉ có sự hiểu biết bình thường. Dù bài thi dễ hết sức, cũng có sinh viên không làm được. Sau khi ra đề thi xong, tôi bước ra khỏi lớp học, là vì tôi muốn dành cho những sinh viên chỉ vớiù sự hiểu biết bình thường có cơ hội hỏi bạn bè để nộp cho tôi một bài thi trung bình, một bài thi mà ít nhất tôi có thể cho 16/20 điểm. Mục đích của tôi là để cho tất cả các sinh viên đều tốt nghiệp và tiếp tục được hoãn dịch để thực hiện cái mộng thành một kỹ thuật gia trong một ngành chuyên môn đang còn mới mẻ ở Việt nam. Tôi cũng hiểu rằng những sinh viên ưu tú có thể không bằng lòng khi thấy tôi để cho tất cả mọi người được tự do. Nhưng tôi an ủi là còn có biết bao nhiêu môn học khác mà các sinh viên ưu tú có thể trổ tài.

Năm đầu tiên, trong lần thi thứ nhất, tôi chưa có kinh nghiệm cho nên khi đến hết hai giờ thi, tôi trở về lớp một cách bình thường. Hôm ấy trời nóng cho nên tôi đi "xăng đan" đế nhựa, bước đi không có một tiếng động. Bước vào lớp, tôi thấy một sinh viên đang ở một bàn khác, hỏi bài một người bạn. Tôi hơi bực mình, vì sinh viên đã được hai giờ hoàn toàn tự do mà không hỏi xong bài thi. Những năm sau tôi có kinh nghiệm hơn. Những hôm thi, tôi mang giày đế da, khi đi thì nện mạnh đế giày trên nền xi măng. Khi hết giờ thi, về đến lớp học, tôi không vào lớp vội. Tôi ngừng ở cửa, bước ra dựa vào hành lang, nhìn xuống đường. Chỉ khi nào không còn nghe tiếng thì thào ở trong lớp nữa tôi mới bước vào lớp học.

Quan niệm của tôi là không muốn làm khó khăn những sinh viên chỉ có mức hiểu biết bình thường. Những sinh viên ấy về sau cũng có thể trở nên xuất sắc ở ngoài đời. Tôi có kinh nghiệm bản thân về vấn đề này. Một người em của tôi, lúc học ở tiểu học khi làm những bài toán nhỏ thì không phân biệt được lúc nào phải làm toán cọng, lúc nào phải làm toán nhân, ... nhưng khi lên đại học thì trở nên xuất sắc. Học xong bác sĩ y khoa ở Columbia University thì em tôi được sang Thụy sĩ tu nghiệp, trước khi về hưu thì làm giáo sư y khoa ở Đại học New Hampshire.

Đối với sinh viên tôi rất có nhiều cảm tình. Trong khuôn khổ chật hẹp của bài viết này, tôi chỉ nói đến những người nào mà trong đời tôi có liên hệ đến vì lý do này hay lý do khác.

Khóa 1 thì có hai sinh viên tôi đặc biệt chú ý đến. Trước hết là anh Trần Khiết. Tôi nghe nói anh Trần Khiết nuôi heo nuôi cá một cách vô cùng khoa học. Tôi quê quán ở Huế, một vùng mà đất hẹp, mùa hè khô khan, ao hồ cạn nước, mùa mưa thì lụt lội. Vì vậy cho nên không thể nào nuôi cá được. Mùa hè thì cá chết vì không có nước, mùa mưa thì nước lụt cuốn trôi cá đi mất. Sống ở Pháp gần 15 năm, tôi cũng chẳng bao giờ nghe nói đến nuôi cá. Vì vậy cho nên nuôi cá là một vấn đề thích thú và mới mẻ đối với tôi. Anh Khiết nuôi cá và nuôi heo với một phương pháp rất khoa học. Anh Khiết làm nhà sàn để nuôi heo. Nhà sàn dựng trên ao nuôi cá tra và trồng rau muống. Thức ăn và phân của heo rơi rớt dưới ao để nuôi cá tra. Rau muống thì vớt lên để cho heo ăn. Nói tóm lại, không có gì phí phạm cả.

Người thứ hai mà tôi chú ý đến là chị Đỗ Thị Như Mai. Lý do chị Mai là người thiếu nữ đầu tiên học kỹ sư. Ngày tôi còn trẻ, Việt nam cũng có vài phụ nữ học đại học, nhưng họ học những ngành như dược sĩ, văn chương, giáo dục, v.v... những ngành mà thông thường chúng ta cho là nhẹ nhàng. Ngày xưa ở Huế ai cũng trầm trồ thán phục cô Tôn Nữ Việt Khâm đỗ Dược sĩ ở Pháp, có khả năng mua lại Pharmacie Imbert ở đầu cầu Trường tiền. Lớn lên, tôi chưa bao giờ nghe nói đến một thiếu nữ đỗ một văn bằng khoa học. Chị Mai là một người nghiêm chỉnh, khi nào cũng vui vẻ. Tôi là một nam giáo sư, khen chị Mai cũng có điều bất tiện. Tôi chỉ nhớ là khi tôi có trách nhiệm điều khiển Điện Lực Việt Nam (ĐLV), tôi đã lựa chị Mai, trong số hơn ngàn nhân viên, làm Chánh sự vụ Sở Thương mại, với trách nhiệm đại diện tôi điều khiển Ủy ban Thương thuyết Giá điện bán cho công ty Pháp Compagnie des Eaux et d’Électricité, gọi tắt là CEE. Việc thương thuyết ấy vô cùng quan trọng, vì số lượng điện năng mà Điện lực chuyển qua CEE rất lớn. Nếu không cẩn thận, chỉ mất mỗi kWh một xu, số thất thu của ĐLV cũng có thể lên đến hàng triệu. 

Sau những buổi họp của Ủy ban Thương thuyết Giá điện, nhiều ủy viên như anh Tôn Thất Ngọ đại diện cho Bộ Công chánh, anh Bửu Hiệp đại diện Đô thành, anh Đỗ Chấn đại diện Bộ Tài chánh (và cũng là cố vấn cho ĐLV) thỉnh thoảng vẫn gọi điện thoại cho tôi khen ngợi chị Mai điều khiển các buổi họp một cách nghiêm chỉnh, nhẹ nhàng nhưng cứng rắn, nhất định giữ vững lập trường của ĐLV.

Trong thời kỳ làm việc ở ĐLV tôi có chú ý đến hai sinh viên cũ: anh Trần Bá Lân và anh Nguyễn Quang Hữu. Anh Lân đã cùng Harry Dugan, kỹ sư của hãng Gibbs & Hill, anh Thức, anh Huân, và tôi đi đo đạc đường dây 66kV xung quanh Sài gòn Chợ lớn. Mục đích của đường dây 66kV ấy là để phân phối điện của nhà máy Đa nhim cùng các nhà máy sắp xây cất vào hệ thống của CEE. Tánh anh Lân trầm tĩnh, nghiêm nghị, ít nói. Tôi còn nhớ một hôm ngồi uống nước dừa ở một quán tranh gần bến đò Thủ thiêm, ở nơi mà trụ điện cao hơn 60 thước sẽ được dựng lên để kéo dây băng qua sông Sài gòn, Harry Dugan nói đùa với tôi anh Lân sẽ là một "big boss".

Đoạn này, tôi muốn nói chuyện với anh Lân: không biết đâu đấy bên châu Úc mênh mông, tiên đoán của Harry Dugan có linh ứng không? Năm 1975, trong khi tôi ở trại tị nạn Pendleton ở miền Nam California, tôi được Gibbs & Hill, là hãng đã phái Harry Dugan sang Việt nam đo đạc đường dây 66kV, gởi giấy mời sang New York để phỏng vấn. Hãng cho George Burpee, Quản trị viên Chương trình xây cất nhà máy Thủ đức, và Harry Dugan tiếp đón tôi. Harry Dugan hỏi tin tức về anh Lân, anh Thức, và anh Huân. Tôi chắc anh còn nhớ anh Huân làm việc cho Trắc địa sư Đào Văn Nhơn, người trúng thầu việc đo đạc đường dây 66kV. Làm việc với chúng mình, anh Huân có lẽ thấy thích thú cho nên xin vào làm việc ở ĐLV. Làm việc được ít lâu anh Huân bị bệnh, từ trần. Lúc ấy tôi còn làm việc ở ĐLV. Năm 1975, khi tôi gặp Harry Dugan thì lẽ tất nhiên Harry Dugan không còn là một kỹ sư trẻ tuổi, chuyên môn mặc quần kaki, tóc cúp ngắn như hồi đo đạc đường dây 66kV ở Sài gòn Chợ lớn. Harry Dugan đã trở thành một người đứng tuổi, đạo mạo, tóc đã hoa râm và đang giữ chức vụ Chief Structural Engineer, là chức vụ kỹ thuật lớn nhất trong ngành Structural. Nhìn thấy sự thay đổi rất nhiều ở Harry Dugan, tôi mới nhận thấy thời gian đã trôi qua. Tôi cảm thấy mình già rồi, và tôi ngán cho tôi quá. Lúc ấy tôi đã 50 tuổi, và tôi phải lập một cuộc đời mới, ở một quốc gia mới, với một vốn liếng Anh văn dưới hai ngàn chữ. Và bốn con tôi thì đang còn bé bỏng.

Anh Nguyễn Quang Hữu đối với tôi khi nào cũng ít nói, trong khi còn là sinh viên cũng như khi làm việc ở ĐLV. Ngoài ra, anh Hữu có dáng bộ khi nào cũng lễ phép. Nhưng khi tôi được xem video tape quay trong buổi họp của THĐL ở Paris thì tôi khám phá ra còn có một anh Hữu thứ hai, một anh Hữu biết pha trò rất tế nhị và rất nhiều.

Trong thời kỳ xây cất nhà máy nhiệt điện Thủ đức, Gibbs & Hill phái sang Sài gòn một kỹ sư chuyên môn về relai, tên là Clifford. Hồi ấy, khi nào rảnh rỗi, tôi nhờ Clifford giảng cho tôi nghe các hệ thống kiểm soát nhà máy của Huê kỳ. Mục đích là để biết sự khác biệt của các hệ thống và cách hoạt động của kỹ thuật Pháp và Huê kỳ. Trong thời kỳ ấy Clifford cũng đang chỉ vẽ cho anh Tôn Thất Đền. Clifford rất hài lòng với anh Đền vì anh Đền học rất nhanh chóng và rất chăm chỉ. Một hôm Clifford nói với tôi "ước gì anh Đền xuất ngoại được". Xuất ngoại được thì Clifford sẽ cho anh Đền làm phụ tá và đem anh Đền cùng đi bất cứ nơi nào trên thế giới để xây cất các nhà máy điện.

Đối với anh Nguyễn Công Thuần, tôi, cũng như nhiều người khác, có rất nhiều cảm tình. Anh Thuần là người đã "sinh" ra và đã là linh hồn gần 20 năm nay của Thân hữu ĐLVN Hải ngoại. Cuối năm 1998, gần lễ Giáng sinh, anh chị Thuần lái xe đến thăm tôi ở vùng Flushing, New York City. Chị Thuần mang cho tôi một bánh "Buche de Noel" do chính tay chị làm. Tôi đem về nhà con gái tôi ở Manhattan, nói đùa là mua ở tiệm bánh do người Pháp làm chủ ở Park Avenue. Con tôi ăn xong khen ngon, nói không thua gì bánh đã mua ở một tiệm danh tiếng và rất đắt tiền ở đâu đấy trên đuòng 3rd Avenue hoặc Lexington Avenue, tôi không còn nhớ rõ. Trong buổi họp mặt THĐL ở Bắc Cali năm nay (2000) tôi được biết thêm chị Thuần có một giọng hát rất trong và rất cao, làm tôi nhớ đến nữ ca sĩ Sơn Ca ở Sài gòn ngày xưa.

Năm 1975 tôi rời khỏi Việt nam qua cơ quan DAO, Tân sơn nhất. Ở đó tôi có gặp một cựu sinh viên trường Điện. Lúc ấy tôi biết tên và còn nhớ anh ấy làm việc ở một cơ quan của ĐLV. Hai năm gần đây tôi muốn biết người bạn đồng hành ngày xưa, nay ổn định đời sống như thế nào, và ở đâu. Sau gần 25 năm, tôi không còn nhớ tên, nhưng vẫn còn nhớ khuôn mặt lúc bấy giờ. Tôi nghĩ bụng là tôi sẽ không bao giờ có thể tìm ra người bạn đồng hành ấy. Vì tôi không nhớ tên, và khuôn mặt chắc chắn phải thay đổi. Có gặp lại cũng chưa chắc đã nhận ra nhau vì đã 25 năm rồi còn gì! Tôi nhờ anh Thuần tìm người bạn đồng hành cũ. Tôi không thấy anh Thuần đăng trên báo tìm người. Nhưng anh Thuần đã tìm ra. Người bạn đồng hành năm xửa năm xưa ấy là anh Tôn Thất Đào, và tôi đã liên lạc được với anh Đào.

Trong thời kỳ làm việc ở ĐLV, tôi ngán nhất là ký chi phiếu trả tiền cho nhà thầu. Vì chi phiếu sai lầm, trả quá số lượng, thì sẽ có biết bao nhiêu rắc rối. Dù lỗi có là của cấp thừa hành, nhưng tất cả trách nhiệm nặng nề tôi phải gánh chịu. Nhất là trong không khí làm việc ở ĐLV trong thời kỳ ấy. Mỗi buổi chiều từ công trường nhà máy nhiệt điện Thủ đức về văn phòng, tôi thấy gần 20 hồ sơ đợi tôi ký chi phiếu trả tiền cho nhà thầu. Tôi chỉ có đủ thì giờ xem xét qua loa rồi ký chi phiếu. Vì tôi tin rằng các hồ sơ đều không có sai lầm nào cả. Như thế là nhờ có sự tận tâm của ba người.

Ở công trường thì nhờ có anh Nguyễn Quảng Đức kiểm soát kỹ lưỡng các số lượng tính toán chiết giá phân minh. Anh Đức là một kỹ sư công chánh, người Bắc. Từ năm 1975 tôi không còn gặp mặt anh Đức. Vào khoảng 1980, anh Đức có đến New York để thăm nhà ga Pennsylvania Station. Văn phòng của tôi làm việc ở ngay bên kia đường đối diện với Pennsylvania Station, vậy mà chúng tôi không được gặp nhau, vì hồi ấy tôi chưa có tin tức của anh Đức. Nay thì anh Đức đã ra người thiên cổ rồi.

Về phương diện tài chánh thì tôi tin tưởng vào ông Lê Văn Nghi để kiểm soát đã trả bao nhiêu rồi, còn phải trả bao nhiêu nữa. Ông Nghi là người Nam, đã cùng làm việc với tôi ở Chương trình nhà máy nhiệt điện Thủ đức. Hiện nay không biết ông Nghi ở đâu. Trước 75 ông Nghi ở con đường chạy dọc sông Tân thuận, nhà cách đường Trình Minh Thế độ 500 thước. Tôi có nhờ người đến tìm nhưng không có tin tức gì. Khi hồ sơ đã qua xong tay anh Đức và ông Nghi thì đến tay anh Phan Xuân Hùng. Với tư cách Chánh văn phòng, anh Hùng kiểm soát toàn bộ một lần cuối cùng. Anh Hùng là kỹ sư điện khóa 3. Khi nào tôi thấy chữ ký của ba người nói trên thì tôi mới yên tâm ký vào chi phiếu trả tiền cho nhà thầu. Nói tóm lại, trong suốt thời gian làm việc ở ĐLV, tôi đã được anh Đức, anh Hùng, ông Nghi giúp sức rất đắc lực.

Cũng trong thời gian tôi làm việc ở ĐLV thì hình như chỉ có anh Ngô Duy Đức, ngoại trừ các sinh viên được quân đội biệt phái, là người lập gia đình. Đêm anh Đức đãi tiệc đám cưới, tôi ngồi làm việc trễ ở văn phòng. Khi nhìn vào đồng hồ thì thấy đã trễ giờ rồi, tôi liền lấy xe chạy rất nhanh trên đường Hồng thập tự để vào Chợ lớn. Khi chạy gần đến đường Lê Văn Duyệt thì đèn lưu thông đổi qua màu vàng. Tôi nghĩ bụng có đủ thì giờ để vượt qua đường Lê Văn Duyệt, nhưng tôi chưa vượt qua được thì đèn lưu thông đổi qua màu đỏ. Tôi liền thắng gấp. Xe vừa đứng lại thì tôi nghe một tiếng động mạnh. Mở cửa xe ra thì thấy một xe sau, chạy quá gần đã đâm vào xe tôi. Một cô bé dưới 20 tuổi bước ra khỏi xe, trông có vẻ lo sợ vô cùng, xin lỗi rối rít. Nhìn vào xe tôi không thấy hư hại gì, tôi liền an ủi cô bé và tiếp tục lái xe đi, vì không muốn mất thì giờ nhiều hơn nữa.

Hôm ấy anh chị Đức mời khách ở nhà hàng Ngọc Lan Đình, nằm ở góc đường Đồng Khánh và Tổng đốc Phương. Hình như bữa tiệc chiếm tất cả gian phòng rộng rãi của nhà hàng. Ngồi ăn, nhìn qua bên kia đường thì thấy người Trung hoa đang tập tài chi ở sân thượng của cao ốc đối diện. Tôi còn nhớ là các món ăn đã được chọn lựa rất cẩn thận, và đoán là anh chị Đức đã chi tiêu khá nhiều cho bữa tiệc hôm ấy. Sau đám cưới một vài ngày, anh Đức vào văn phòng tôi để cám ơn. Tôi hỏi anh Đức là chi phí hết bao nhiêu, anh Đức nói cho tôi một con số mà tôi cho là quá cao. Hẳn nhiên là hồi bấy giờ ở Việt nam chưa ai biết thủ tục thực tế như ở Cali bây giờ là mỗi khách đều đem theo một phong bì nhỏ đựng một chi phiếu tối thiểu 50 đô la mỗi người. 

Hồi đó, mỗi khi lên Bộ Công chánh, tôi có nhiều cơ hội gặp anh Trần Thành Tôn, Kỹ sư khóa 2. Anh Tôn làm việc ở Sở Kiểm soát Điện lực. Không hiểu va chạm với ai mà anh Tôn là người độc nhất ở đó phải đi quân dịch. Sau này, anh Nguyễn Công Thuần cho biết là sau 75 anh Tôn mới trở về cơ quan. Tôi còn nhớ anh Tôn là một người hiền lành, tánh tình rất vui vẻ.

Nước Pháp là một nước trọng bằng cấp, nhưng trong kỹ nghệ, ở các cơ xưởng, sự đánh giá một chuyên viên rất thực tế. Một chuyên viên lành nghề cũng có thể được công ty cho làm công việc và chức tước kỹ sư, mặc dầu những chuyên viên lành nghề ấy không tốt nghiệp từ một trường kỹ sư. Danh xưng để chỉ định những kỹ sư như thế là Ingénieur de Maison. Ingénieur de Maison rất được trọng dụng trong kỹ nghệ. 

Hồi làm việc ở ĐLV, tôi để ý đến vài anh cán sự như anh Nguyễn Đình Bá, anh Đinh Văn Thọ, rất lành nghề về đường dây truyền tải điện năng, anh Tôn Thất Đền rất giỏi về hệ thống kiểm soát, và vài anh khác nữa. Tôi có ý định bổ nhiệm các anh ấy vào các chức vụ với chức tước kỹ sư. Nhưng sau một thời gian thăm dò ý kiến, tôi nhận thấy ý định của tôi đi quá sớm đối với thời bấy giờ cho nên tôi không thực hiện.

Năm 1968, tôi rời khỏi Bộ Công chánh, sang làm việc ở một ngân hàng đầu tư. Tôi không còn có cơ hội gặp lại các học trò cũ. Vì ngoài anh Ngô Đức Huấn và anh Hoàng Mạnh Cần thì có thể nói là hầu hết tất cả các học trò cũ của tôi, kỹ sư cũng như cán sự, đều làm việc ở ĐLV. Tuy nhiên, một hôm đi trên đường Nguyễn Huệ, tôi gặp anh Trần Duy Hùng. Anh Hùng cho tôi biết là anh có mở một tiệm bán vàsửa chữa máy lạnh, nhất là các máy lạnh của quân đội Huê kỳ. Anh Hùng nói thêm "Hôm nào em sẽ đem biếu Thầy một máy lạnh rất mạnh". Vài hôm sau, anh Hùng lắp ở phòng khách khá lớn của tôi một máy lạnh mà chỉ cần bật lên độ 10 phút là cả phòng mát mẻ. Lắp máy xong, anh Hùng nhất định từ chối không nhận tiền tôi trả. Tôi khẩn khoản yêu cầu anh Hùng nhận một ít tiền để cho tôi yên lòng, khỏi thắc mắc mang ơn, nhưng anh Hùng nhất định từ chối.

Một thời gian sau, một hôm ngồi ăn hũ tíu ở con đường sau lưng Ngân hàng Quốc gia (đường Tôn Thất Đạm?) tôi gặp anh Trần Long Thạch. Tôi hỏi anh Thạch bây giờ làm ở cơ quan nào của ĐLV. Sau khi trả lời câu hỏi của tôi, anh Thạch nói thêm " Thưa Thầy em có tổ chức một hãng thầu nhỏ với vài người làm công việc nhỏ ở các tư gia, Thầy có cần gì không?" Tôi nói với anh Thạch là trong nhà tôi có nước chảy nơi nào không biết, vì mặc dầu các vòi nước đều đóng kỹ, đồng hồ nước vẫn chạy, không biết anh Thạch có giúp gì được không? Anh Thạch hứa sẽ giúp tôi. Một hai tuần sau anh Thạch thân hành đến nhà tôi cùng với hai người thợ. Sau hai ngày hì hục làm việc, anh Thạch tìm ra có một ống nước đi đến gần nhà bếp là hết, chôn dưới cái bệ có lấp đất. Nhà thầu xây cư xá làm ẩu, không bịt lại cẩn thận, chỉ đóng lại bằng một miếng xi măng còn ướt. Với thời gian, xi măng khô, co lại, và nước rỉ rả chảy ra. Cũng như anh Trần Duy Hùng, anh Thạch nhất định từ chối, không nhận tiền tôi muốn trả.

Trên đây tôi đã kể lại những kỷ niệm của tôi đối với học trò cũ (tôi xin dùng danh xưng học trò thay vì sinh viên để tỏ lòng thân ái của tôi). Kỷ niệm giữa thầy và trò không có tính cách cao xa, quan trọng. Và cũng có thể những kỷ niệm ấy là trẻ con đối với một vài người. Nhưng đối với tôi, những kỷ niệm ấy quan trọng vô cùng, vì những kỷ niệm giúp tôi nhớ mãi mãi những học trò ở trường CĐĐH, ban kỹ sư cũng như cán sự, ở Việt nam.

Cách đây một hai năm, tôi có dịp đi xem một trại nuôi heo khổng lồ ở miền Corn Belt với con tôi. Nhìn thấy thức ăn của heo phung phí rơi rớt rất nhiều ở dưới đất, tôi bật phì cười. Con tôi ngạc nhiên hỏi vì sao tôi cười. Tôi trả lời là tôi nhớ đến một người học trò cũ có một trại nuôi heo tí hon nhưng nuôi một cách vô cùng khoa học, không có một tí thức ăn gì bị phung phí. Và tôi nhớ đến anh Trần Khiết, nhớ đến khuôn mặt hay trầm tư của anh Khiết. 

Trong khuôn khổ bài viết hôm nay, tôi không thể kể lại những kỷ niệm tôi có với tất cả các học trò cũ. Như những kỷ niệm với các anh Từ Mạnh Khang, Phạm Duy Sử, Nguyễn Trọng Dũng, Hoàng Gia Thụy, Nguyễn Quang Hưởng, Nguyễn Văn Thích, Phan Văn Thịnh (hiện ở Mulhouse - Anh Thịnh ơi, anh còn nhớ thời kỳ "vàng son" ở Bộ Công chánh không? Anh còn nhớ anh Hồ Văn Trượng, anh Vũ Đình Chí, anh, và tôi, buổi sáng hay rủ nhau ra Chợ Cũ ăn hũ tíu mà nói chuyện bá láp không?), anh Nguyễn Mậu Bàng, anh Trần Tấn Thiệt, v.v... Viết bài này tôi chỉ mong nối dây liên lạc với các học trò cũ, một việc mà tôi không đủ thì giờ làm riêng với từng người được. Bây giờ sau gần nửa thế kỷ rồi, mỗi khi nhìn ra cửa sổ, nhìn giữa trời mênh mông, tôi vẫn còn hình dung được khuôn mặt của mọi học trò cũ, khuôn mặt trẻ trung của thời bấy giờ. Với thời gian, với tuổi tác, đôi khi tôi không còn nhớ tên nữa. Chẳng hạn hai ba tháng nay tôi cố tìm lại tên một người học trò cũ, học kỹ sư khóa 2 hay khóa 3, người Huế. Tôi vẫn hình dung được khuôn mặt, khổ người của anh học trò cũ ấy, nhưng tên thì vẫn chưa nhớ ra. Tức nhất là mới cuối năm 1999 tôi vẫn còn nhớ tên và vẫn còn hỏi anh Nguyễn Công Thuần tin tức của anh học trò ấy đang còn ở Việt nam.

Cảm tình của tôi đối với mọi học trò cũ vẫn còn nguyên vẹn như gần nửa thế kỷ trước. Để kết thúc bài viết này tôi xin dùng một câu thơ của văn chương Pháp: "À chaque pierre s’accroche un morceau de mon coeur" (Tạm dịch: Trên mỗi hòn đá đều có dính một mảnh tim của tôi). 

Nguyễn Hữu Minh