Những Năm Bẩy Mươi

Hồi ký của Song Nguyễn

Phần thứ nhất : Trước cơn bão tố(tiếp theo)

Phòng Vận tải (PVT) của Sở Chuyển vận (SCV) do anh Nguyễn Văn Mãnh làm Trưởng Phòng. Anh Mãnh ít nói, siêng năng làm việc. Trong PVT có hai cô Nguyễn Thị Thái và Nguyễn Thị Tươi làm thư ký nhưng chủ lực của PVT là giàn tài xế lái các xe chuyên chở, xe nâng hàng và xe cầøn trục. Trong số các tài xế của PVT, hai tay "chì" nhất là Tuấn và Lợi. Tuâán người rất to ngang, đẹp trai, rất được con gái mê. Lợi, gọi là Lợi "chà và" vì anh lai Aán độ, thì trái lại, da đen ngòm, người gầy gò, dáng khắc khổ. Hai anh này và các tài xế lái xe vận tải đóng trụ sở ở kho Gia định, mỗi ngày đến lo châm dầu nhớt và bảo trì xe cộ chờ lệnh công tác.

Hồi mới về Nha Tiếp vận (NTV), tôi học được một điều về vấn đề bốc dỡ hàng. Hồi đó có công tác bốc dỡ vật liệu điện nhập cảng từ tầu hàng ngoại quốc chở đến bến Sài gòn, nhà thầu Nguyễn Văn Thâu trúng thầu bốc dỡ cho giá tương đối rẻ. Công tác ấn định là 1 tuần nhưng nhà thầu làm việc có ba ngày là xong. Sau đó anh Mãnh giải thích là nhà thầu cho giá rẻ và làm mau vì còn được lãnh tiền thưởng khá lớn của chủ tầu vì xong việc sớm thì tầu ra đi sớm, đỡ tốn tiền và mất thời gian neo tầu chờ đợi. Từ đó mỗi khi có công tác bốc dỡ hàng là tôi yên tâm khỏi phải lo đốc thúc gì nữa, vì hãng thầu nào cũng rán sức làm xong sớm để lĩnh tiền thưởng.

Phần vụ của PVT khiến tôi phải đi công tác khá nhiều tới các địa phương. Một trong những công tác đầu tiên khi tôi về SCV là lo việc chuyên chở một số máy Diesel ra Đà naüng. Tôi đi Đà naüng với anh TB Lân, hồi đó là Quản đốc Công trường. Về vấn đề cung cấp điện, Đà naüng lúc đó còn do công ty SIPEA của Pháp đảm trách, chưa chuyển giao cho Điện lực.Khi vừa ra tới Đà naüng, tôi thấy ngay khung cảnh sinh hoạt nhộn nhịp như Sài gòn chứ không có vẻ yên tĩnh như Huế. Thành phố Đà naüng vốn là thành phố hải cảng lớn nhất miền Trung, lại càng được mở mang thêm từ khi những đơn vị quân đội Hoa kỳ đầu tiên đổ bộ vào bãi biển Đà naüng năm 1965. Bãi biển Sơn trà ở Đà naüng khá đẹp, nhưng tôi không hiểu vì sao người Mỹ gọi là China Beach

Đà naüng cũng là nơi đóng bộ tư lệnh Quân đoàn 1, có đài radar lớn nhất Đông nam Á và nhiều cơ sở quân sự khác. Trong chuyến công tác ra Đà naüng tôi tình cờ gặp lại người bạn thân học với tôi từ lớp đệ ngũ trung học là anh Đào Đình Đạo, lúc ấy là Đại úy thuộc Quân đoàn 1. Những ngày ở Đà naüng, ngoài thời giờ làm việc, tôi cũng dành được một buổi để đi thăm một thắng cảnh nổi tiếng địa phương là khu vực chùa Non nước. Đây là một hệ thống hang độngthạch nhũ nằm sâu trong 5 ngọn núi sát bờ biển gọi là Ngũ hành sơn. Trong những động thạch nhũ, có những chỗ có thạch nhũ đổ xuốngthành những hình tượng giống như các tượng Phật, được dân chúng lập bàn thờ cúng bái. Có những hang thông ra triền núi nhìn ra biển rất ngoạn mục, một trong những hang này được vua Minh Mạng chọn làm nơi ngồi ngắm biển gọi là Vọng hải đài. Tuy phong cảnh có đẹp, nhưng có một điều trở ngại ở Đà naüng là vấn đề nước uống. Trước khi đi, tôi đã được anh TB Lân cảnh cáo là Đà naüng nước rất độc, coi chừng bị đau bụng. Tôi đã cẩn thận uống toàn nước đóng chai vậy mà cũng bị đau bụng tơi bời, tiếng người địa phương gọi là "chói nước" , đếùn khi về Sài gòn mới hếùt.

Sau lần công tác này, tôi còn được nhiều dịp ra miền Trung, đáng kể nhất là lần đi Nha trang để vào vịnh Cam ranh lấy trụ điện. Lúc đó là khoảng thời gian sau khi ký hiệp định Paris, quân đội Mỹ chuẩn bị rútkhỏi Cam ranh. Cơ quan USAID liên lạc cho biết ở Cam ranh có một số trụ cây loại rất lớn dài trên 30 ft chưa sử dụng. Tôi được cử đi ra Nha trang với anh NQ Thiều và giới chức USAID, ở đó chúng tôi được nhân viên quân sự Mỹ hướng dẫn vào căn cứ Cam ranh để xem số trụ, riêng tôi phải quan sát kỹ càng số trụ cây và khu vực chung quanhï để ước lượng các phương tiện cần thiết đểchở số trụ về Sài gòn. Sau khi quan sát, tôi thấy SCV có đủ khả năng đảm nhiệm công tác nên đề nghị với anh Thiều để cho SCV tự lo công tác khỏi phải gọi nhà thầu. Sau đó về Sài gòn tôi chọn 4 tài xế loại "chì" và bốn xe tải tốt nhất để đi công tác. Tôi sắp xếp cho đoàn xe vận tải và 1 xe La Dalat lên đường đi Cam ranh bằng đường bộ, tôi và anh Mãnh cùng viên cố vấn USAID đi máy bay ra Nha trang. Lúc bấy giờ ông Richard Lewis, người làm việc lâu năm cho USAID đã nghỉ (ông này sau đó lấy vợ Việt và xin làm việc với CĐV), giới chức thay thế là ông Keiso Uyono, người Hawai gốc Nhật bản. Ông này, có lẽ vì gốc Á châu, ăn uống đồ Việt nam như cơm, phở, hủ tíu ... dễ dàng, nên đi công tác với ông ta phần chiêu đãi không có gì trở ngại. Chuyến công tác dài khoảng hơn tuần lễ, tụi tôi lấy phòng khách sạn ở Nha trang, sáng dậy sớm đi vào Cam ranh làm việc đến chiều tối mới về ngủ.

Vịnh Cam ranh nổi tiếng là một quân cảng có những điều kiện thiên nhiên thuộc hạng tốt nhất thế giới. Vịnh có bề mặt rất lớn, đáy lại rất sâu khiến cho tầu lớn cũng ra vào được; ưu điểm khác nữa là chung quanh vịnh có núi che chở, bảo vệ cho tầu bè mỗi khi có giông bão. Từ lâu vịnh Cam ranh được giới quân sự quốc tế biết tới. Hồi đầu thế kỷ 20 đã có lần hạm đội Nga dùng làm chỗ dừng chân tránh bão trên đường đi đánh Nhật bản (trận này Nga bị thua tơi bời !) và hồi thế chiến thứ hai Canh ranh đã được Nhật dùng làm căn cứ hải quân. Dĩ nhiên quân đội Hoa kỳ cũng tiếp nối dùng Cam ranh làm căn cứ hải quân chính yếu trong chiến tranh VN. 

Chúng tôi vào vịnh đi theo con đường xây cất như một xa lộ nhỏ vòng theo bờ biển. Tôi nhìn phong cảnh chung quanh, tuy không biết gì về quân sự, cũng thấy vẻngoạn mục: nuớc biển xanh ngắt, phẳng lặng; vịnh rộng mênh mông, xa xa là các rặng núi. Chúng tôi được dẫn vào khu nhà kho rộng lớn nơi chứa các đống trụ cây khổng lồ. Ông Keiso và tôi làm việc với giới chức của quân đội Mỹ để lo việc kiểm kê số trụ chuyển giao cho CDV, anh Mãnh chỉ huy giàn tài xế chất lên xe. Mỗi khi lên đầy một xe, tụi tôi lại lái về gửi ở Trung tâm Điện lực Cam ranh rồi mang xe khác vào vịnh lấy tiếp.

Trung tâm Điện Lực Cam ranh mới được thành lập cùng với sự thành lập của thị xã Cam ranh thời ấy. Trưởng Trung tâm là anh Kim, vừa từ Đa nhim chuyển về. Anh Kim rất sốt sắng giúp đỡ tụi tôi trong công tác này. Cam ranh mùa này rất nóng và nắng kinh khủng. Tôi nhớ khúc đường đi vào trụ sở Trung tâm hai bên trơ trọi không có cây cỏ nào mọc được, vậy mà tôi bỗng thấy một ruộng khoai mì tốt tươi xanh biếc. Tôi ngạc nhiên hỏi ra thì anh Kim cho biết đây là giống khoai mì Ấn độ rất chịu nắng, càng nắng thì càng xanh, được chính phủ cho nhập cảng để dân trồøng. Nói đến nóng Cam ranh tôi còn nhớ ngày đầu vào làm việc ở Cam ranh, một buổi trưa nóng quá khát nước phải nhờ tài xế lái ra đường tìm đồ uống.. Ra tới đường gặp xe bán nước dừa tươi vội bảo tài xế ngừng xe mua uống. Anh Tác tài xế can nói đang nóng uống nước dừa lạnh không tốt nhưng tôi thèm quá không nghe. Uống ly nước dừa mát mẻ đã khát, nhưng chiều về tôi bị khó chịu, người gây lạnh và sốt. Anh Tác phải đè tôi ra "cạo gió" hôm sau mới đi làm nổi. 

Trong thời gian công tác ở Cam ranh, nhiều buổi chiều tụi tôi cũng ghé chơi khúc đường cây số 19 nổi tiếng. Khúc đường này sầm uất từ hồi 1965 lúc thành lập căn cứ Cam ranh, với nhữõng tiệm ăn, bar rượu bán cho lính Mỹ. Nhưng lúc này quân Mỹ đã rút gần hết, tụi tôi ra chơi chỉ còn thấy một dãy phố với các nhà lầu đúc, các cửa tiệm bán tạp hóa, các tiệm ăn, hàng quán sinh hoạt gắng gượng, không còn vẻ tấp nập của thời hoàng kim ngày trước. 

Sau khi lấy xong lô trụ cây, đoàn xe lái về Sài gòn đi qua rừng Lá, tôi rất lo vì đã từng có lần năm 1965 bị VC chặn ở rừng lá đòi tiền mãi lộ, nhưng rất may đoàn xe an toàn về đến nơi đến chốn.

Xong công tác Cam ranh, tôi còn nhiều dịp đi công tác ở miền Trung và Cao nguyên, và nơi tôi qua lại nhiều là Đà lạt. Đà lạt là "thủ đô" của Điện lực vùng Cao nguyên, nơi đặt văn phòng khu Cao nguyên và trung tâm Điện lực rất lớn, là trung tâm hạng A. Hồi ấy anh NM Linh là Trưởng khu, văn phòng ở đường Trần Hưng Đạo mới xây cất rất đẹp,anh HG Thụy làm Trưởng trung tâm. Đà lạt cũng có nhà vãng lai là một villa cũ thời Pháp rất đủ tiện nghi nên mỗi lần lên Đà lạt tôi đều đến nhà vãng lai ở khỏi phải mướn khách sạn. Vì Đà lạt đủ tiện nghi nên đa số các lần công tác các vùng miền Trung tôi đều đi qua Đà lạt. Lý do khác nữa là con đường từ Sài gòn ra Trung (Phan rang, Nha trang ... ) đi qua Đà lạt tuy có xa hơn và phải qua đèo Ngoạn mục nhưng tương đối lại an ninh hơn đường đi phía dưới phải qua rừng Lá. 

Lần nào đến Đà lạt công tác tôi đều hay ghé nhà anh Thụy chơi. Anh chị Thụy ở căn nhà rất đẹp ngay ở trụ sở trung tâm. Trung tâm Đà lạt rất yên tĩnh và sạch sẽ vì chỉ có nhân viên văn phòng làm việc, không có nhà máy vì điện phát từ nhà máy thủy điện ở Suối vàng, đồng thời cũng có thể lấy điện từ Sông pha đưa lên. Nhà của Trưởng trung tâm là nhà của Pháp để lại, có lối kiến trúckiểu các nhà trên vùng núi ở Pháp. Nhà anh Thụy có nhiều phòng, trong đó có một phòng ở trên lầu 3 có mái nhọn như ở trong chuyện thần tiên. Anh chị Thụy cho nhạc sĩ Thanh Trang, tác giả nhạc phẩm nổi tiếng Duyên Thề (một vì sao sáng, trong đêm lạnh giá ... ) và là anh họ chị Thụy ở. Anh Thanh Trang học Kinh tế ở Mỹ về, hồi đó dậy học ở trường Chiến tranh Chính trị và viện Đại học Đà lạt. Tôi thường được lên căn phòng văn nghệ này chơi và được tác giả Duyên Thề cho nghe nhạc. Ở Đà lạt tôi cũng được quen với một cô sinh viên học Chính trị Kinh doanh ở viên Đại học Đà lạt là cô Thu Hiền, mùa hè năm 1974 cô Thu Hiền về Sài gòn để lấy tài liệu làm dự án ra trường về vấn đềà áp dụng của Điện toán trong các xí nghiệp, tôi giới thiệu vớianh NĐ Phú sở Điện toán, được anh Phú giúp đỡ tận tình. 

Tôi biết anh Thụy từ trước khi vào trường Điện. Anh Thụy học khóa 5 sau tôi một khóa nhưng khi đi làm việc đường "công danh" rất hanh thông. Anh Thụy hồi mới ra trường làm ở nhà máy Gas turbine ở Thủ đức đồng thời khi tôi làm ở Phối trí Điện năng những năm 1965-67ù. Sau đó khi Điện lực VN thu hồi CEE biến thành CĐV anh được bổ nhiệm làm Phụ tá Giám đốc Nha Phối hợp Địa phương. Cũng từ đó nhiều anh em khóa 5 được bổ nhiệm làmchức vụ cao khác như các anh NV Thích, TT Thiệt, TC Điền ...Vì vậy chúng tôi hay nói đùa là ở trường Điện ra các khóa lẻ (khóa 1, khóa 3, khóa 5 ...) thường gặp may mắn hơn các khóa chaün (khóa 2, khóa 4...). Tôi ở khóa kém may mắn là khóa 4 cũng phải công nhận là lối suy diễn đó có nhiều "sở cứ": về khóa 1, khóa đầu đàn trường Điện thì khỏi nói, các anh em khoá 1 đa số đều nắm giữ các chức vụ chỉ huy từ Giám đốùc đến Trưởng Hệ thống, Quản đốc Công trường, Trưởng Khu ... Khóa 2 thì chỉ phát được có TK Khoa, trong khi khóa 3 với những "kiện tướng"đường công danh lẫy lừng như NM Bàng, NT Dũng, NC Thuần, HM Cần, PX Hùng... Đến khóa 4 tôi tuy nhiều bằng cấp (Vĩnh Tiếu, Lữ Phúc Bá có PhD, và hai anh có Master) nhưng đường công danh rất lẹt đẹt:chỉ có NT Hiếu nhờ làm cho CEE thời trước nên được làm Trưởng Khu, còn TV Đạt, NH Nhơn và tôi chỉ đến mức Trưởng Sở là cao, bị các anh em khóa 5 qua mặt. 

Hồi đó ở Đà lạt còn có Nguyễn Tiên Sinh là phụ tá cho anh Thụy. Sinh là bạn "giang hồ" của tôi khi còn ở Nha Khai thác Địa phương những năm 1964-65. Bây giờ Sinh đã có vợ con, Sinh mua được chiếc xe Jeep chở tôi đi chơi. Ở Đà lạt tôi còn bạn cùng lớp trung học ở Chu Văn An là Lê Trọng Trực KS Công chánh, là Trưởûng Phòng Công trình Dân sự cho Khu Cao nguyên. Ngoài ra tôi cũng có anh Phạm Quang Hiền cùng học với tôi ở Đại học Khoa học. Hiền đậu Cử nhân toán xong được nhận vào trường Điện học năm thứ ba nhưng học được vài tháng thì bỏ dở. Anh Hiền lúc đó làm cho Nguyên tử lực cuộc Đà lạt. 

Quanh vùng Sài gòn, NTV cũng có nhiều công tác yểm trợ cho Chương trình T&D. Từ khi nhà máy 2x66MW ở Thủ đức hoạt động thì công suất phát điện của CĐV ở vùng Sài gòn và phụ cận đã dư thừa cho nhu cầu khách hàng, Vì vậy công ty có thể tiến sang giai đoạn khác là cải thiện và phát triển hệ thống tải điện và phân phối điện nên lập ra chương trình T&D (Transmission and Distribution). Quản đốc chương trình T&D là anh Lê Thúc Căn, một khuôn mặt tương đối mới của Điện lực thời đó. Anh Căn tốt nghiệp Kỹ sư Hầm mỏ ở Pháp về, trước làm ở Khu kỹ nghệ An hòa Nông sơn. Khóa tôi có một số bạn làm ở Nông sơn nói về anh Căn: ông ấy làm việc "đuya" lắm. Sau khi Nông sơn ngưng hoạt động vì lý do an ninh,anh Căn về đầu quân cho Điện lực. Tôi gặp anh Căn hồi anh là Quản đốc Công trường Xây cất 2 máy 66MW ở Thủ đức. Lúc đó tôi làm việc ở Hệ thống Phối trí Điện năng trụ sở còn ở tại Nhà máy Nhiệt điện Thủ đức, anh Căn thường ghé vào chơi. Anh hơi thấp, da ngăm đen, nhưng vẻ người chắc nịch, khỏe khoắn; khiến khi gặp anh lần đầu tôi có ý nghĩ về anh: "dân hầm mỏ có khác". Anh nói chuyện vui vẻ và lịch sự vừa phải. Có lần tôi nghe anh nói đùa về công việc của công trường 2x66 anh đang đảm trách: "công trường ở đây ăn thua gì, mới ra nắng một lát là lại vào ngồi máy lạnh"; chắc là ý anh muốn so sánh với điều kiện kham khổ ởø Nông sơn. 

Sau đó tôi về NTV, anh Căn làm Quản đốc Chương trình T&D. Có một lần Chương trình T&D có việc gấp cần di chuyển một số vật liệu nặng vào ngày cuối tuần ở vùng Thủ đức Biên hòa nhờ SCV yểûm trợ, tôi liền phái hai tài xế giỏi của PVT là anh Tuấn và anh Lợi mang xe cần trục và xe tải đi công tác. Xong việc sáng thứ hai đầu tuần hai nhân viên này về báo cáo công tác hoàn tất. Tôi cũng chẳng để ý, coi như mọi công tác khác. Vài ngày sau tôi ngạc nhiên nhận được thư của Chương trình T&D do đích thân anh Căn ký gửi NTV với những lời khen ngợi toán nhân viên SCV đã hoàn tất tốt công tác này. Tôi nói tôi ngạc nhiên vì từ trước đến nay sở tôi đã từng thi hành vô số các công tác yểm trợ cho các nha sở khác nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận được lá thư như vậy. Dĩ nhiên các nhân viên của SCV đã "lên tinh thần" rất nhiều về lá thư này. 

Chương trình T&D có trụ sở tại Bà quẹo, các cấp chỉ huy phụ tá cho anh Căn là ba kiện tướng của Điện lực: anh PH Bình quản trị Vật liệu, anh NC Thuần lo về Đồ án và anh NV Di đảm trách phần Công tác.Hồi ấy các đường dây tải điện và hệ thống phân phối điện đều làm theo lối Mỹ, dùng trụ cây.Trên thị trường cung cấp trụ cây nội địa chỉ có một cơ quan duy nhất là Hợp tác xã Điện lực Đức tu ở vùng Biên hòa, nhưng chỉ có khả năng làm trụ loại nhỏ và số lượng không đủ cho nhu cầu. Ngoài trụ cây, chương trình T&D còn cần một số trụ bê tông "tiền ép" tròn, ở Sài gòn cũng chỉ có hãng Vecco của thầy Bửu Đôn, lấy cơ sở của hãng RMK Thủ đức chế biến với số lượng giới hạn. Vì những lý do trên mà NTV phải tìm đến các căn cứ quân sự của Mỹ giao lại cho VN để xin chuyển nhượng số trụ dư thừa. Thường anh Thiều và anh Cần liên lạc với những đơn vị quân đội để lo phần giấùy tờ, sau đó SCV lãnh nhiệm vụ đến lấy mang về. Có chuyện buồn cười là hồi đó việc Điện lực cần mua trụ cây lan ra đến giới làm ăn bên ngoài, một số các tay "cơ hội chủ nghĩa" cũng lăm le nhẩy vào kiếm tiền. NTV nhận được khá nhiều đề nghị bán trụ cây, đa số là trụ "ma". Tôi nhớ một trường hợp của một ông tự nhận là Mục sư P, ông ta đến NTV nói là có rất nhiều trụ cây mua được của Mỹ rồi yêu cầu NTV ký khế ước để ông cung cấp trụ. Chuyện đó chẳng đi đến đâu và sau này tôi nghe nói có nhiều thương gia mất tiền vì ông mục sư này.

Ngoài các chuyến đi ra miền Trung, tôi cũng có nhiều công tác ở miền Nam. Trong chuyến đi Gò công chuyên chở máy biến thế cho trạm biến điện 66/15 kV; tôi được ghé thăm anh NQ Hưởng, Trưởng Trung tâm trước cùng làm Phối trí với tôi. Tôi cũng có dịp ghé Long an, gặp lại anh Võ Đông Sơ trước kia cùng làm với tôi ở Nha Khai thác Địa phương. 

Tháng 6 năm 1974 tôi có chuyến công tác đi Cần thơ gần 2 tuần, cũng là chuyến công tác chót của tôi. Đó là công tác chở 5 máy phát điện Diesel từ Chánh hưng xuống công trường Trà nóc. Máy công suất 2100kW khá lớn khó chạy trên quốc lộ, tôi nghiên cứu đường sá thấy có nhiều đoạn không chịu nổi, và trước đó ít lâu rút kinh nghiệm một nhà thầu chở máy phát điện nhỏ hơn đi miền Tây mà đã bị rớt xuống sông, nên kỳ này NTV quyết định cho đi đường thủy, hãng Kinh Đô trúng thầu.Hãng Kinh Đô hồi đó đã có kinh nghiệm chuyên chở đường thủy, chủ nhân xuất thân là một thiếu tá Hải quân đã từng chở nhiều chuyến đi Nam vang. Trước khi đi công tác, anh Cần dặn tôi: Hãng này rất mạnh ở đường thủy nhưng phải coi chừng khi lên bộ lại yếu. Quả nhiên sau này chuyến công tác hoàn tất nhưng nhà thầu khi đưa máy lên bờ sơ suất làm chẩy dầu một máy transfo, nhưng may mắn không trầm trọng lắm, nhà thầu chỉ phải chi một số tiền hàn lại. Chuyến này tôi cũng đi với anh Mãnh và 1 tài xế, công việc bận rộn nhưng khá vui.

Ở Cần thơ hồi đó cơ sở của Điện lực rất lớn. Về phía Địa phương có Khu Điện lực miền Tây do anh LQ Tâm làm Trưởng Khu thay anh PT Nghĩa; Trung tâm Điện lực Cần thơ có Trưởng Trung tâm là anh TC Điền. Còn Công trường Xây cất Nhà máy Nhiệt điện Niigata 33MW thì anh TĐ Thơm là Quản đốc Công trường, anh NQ Đức là phụ tá. Công tác chở 5 máy Diesel của tôi xuống cho công trường nên tôi trực tiếp liên lạc với anh Thơm. Thấy tôi xuống anh Thơm rất vui, anh kéo tôi về ở với anh ngay tại văn phòng công trường. Nhà máy nhiệt điện xây cất ở Trà nóc, cạnh phi trường, còn văn phòng đặït ở ngay thành phố. Đây là tòa nhà ba tầng rộng lớn, tầng dưới làm văn phòng làm việc, tầng hai là nhà bếp và nhà ăn, còn nguyên tầng lầu ba là chỗ ở của anh Thơm và anh Đức. Từ hồi về làm công trường Cần thơ anh Thơm rất vui, anh được đi thăm lại Nhật bản, và công việc kỹ thuật anh cho là "bớt nhức đầu". Anh khoe với tôi cái xe mới tinh từ Nhật bản chở sang có đủ các bộ phận tự động để mở cửa khóa cửa, lên xuống kính và điều khiển cần ăng ten. Mỗi sáng anh Thơm ra công trường nhà máy nhiệt điện, anh cũng thường phải đi xa để coi sóc các đường dây tải điện 66 kV từ Cần thơ đi 6 tỉnh miền Tây. Tôi thì đi theo dõi công tác của nhà thầu Kinh Đô. Mỗi buổi chiều đi làm về, anh Thơm chở tôi đi chơi thăm các vùng quanh Cần thơ, ghé các tiệm ăn như Vĩnh Ký, nhà hàng nổi thưởng thức các "đặc sản" của miền Tây. Có ngày về sớm anh rủ tôi sang Long xuyên chơi vì theo anh "Long xuyên mới là đất giàu, đồ ăn ngon hơn Cần thơ nhiều". 

Có ngày tôi nhờ anh Thơm chở đi thăm anh PT Nghĩa mới nghỉ việc để "về vườn" (theo nghĩa đen, vì anh nghĩa về làm vườn thật!). Anh Nghĩa là xếp cũ của tôi ở Nha Khai thác Địa phương, chúng tôi đếùn thăm anh một buổi chiều. Anh có thửa vườn nhỏ cách thị xã Cần thơ vài cây số . Anh Nghĩa và chị Lang vợ anh trồng trọt vài thứ cây ăn trái. Khi chúng tôi đến, chị Lang vừa hái xong một thùng cam, chị chỉ vào mấy trái cam than thở: "các anh thấy trồng được trái cam như vậy mất biết bao nhiêu công mà khi bán bọn con buôn trả rẻ mạt". Chúng tôi ngồi chơi với anh chị PT Nghĩa một lát thì về vì đường đi khuya sợ mất an ninh. Khi về tới văn phòng, chúng tôi gặp thầy BV Lễ đến chơi rủ đi ăn cơm. Thày Lễ dạy tôi môn technology ở trường Điện, sau về làm Phó Giám đốc Nha Khai thác Địa phương. Lúc đóthày Lễ đang làm cho hãng Gió Đá ở Sài gòn cũng xuống Cần thơ công tác. Bữa đó thày Lễ cho chúng tôi bữa nhậu đầy đủ "cá tôm rùa rắn", lại có tráng miệng bằng sầu riêng đầu mùa. Khi về, anh Thơm nói đùa "tại cậu bữa nay có công đi thăm xếp cũ (là anh Nghĩa) nên tụi mình được thày Lễ đãi ăn".

Sau chuyến đi Cần thơ, mùa hè năm 1974 tương đối bình lặng. Tôi vẫn thường ngày đi làm, đánh tennis và ăn nhậu với bạn bè. Nhưng tôi và các anh em khác cũng như toàn dân miền Nam đâu có biết rằng đó chỉ là thời bình yên trước cơn giông bão. Trong khi chúng tôi sống tưởng như được bình yên, chính phủ VNCH sau khi ký kết hiệp định Paris bắt đầu hoạch định các kế hoạch tái thiết "hậu chiến"; thì kẻ thù phương bắc lại ngấm ngầm bài binh bố trận, kéo đại quân vượt Trường sơn để đánh chiếm miền Nam, công khai xé hiệp ước mà chính họ đã ký kết. Trước khi chấm dứt phần 1 của tập hồi ký Những Năm Bẩy Mươi, tôi xin ghi lại một câu chuyện đau thương của một anh em điện lực, câu chuyện này cũng là mởđầu cho những ngày đau thương của miền Nam chúng ta mà tôi sẽ viết tiếp trong phần 2 vào kỳ tới.

Hồi đó, khoảng năm 1974, Trưởng trung tâm Đyện lực Phước long là anh Quang (hình như là Nguyễn Xuân Quang thì phải, anh em nào ở khối địa phương nhớ thì nhắc dùm tôi). Từ đầu năm 1974, mặc dù theo hiệp định Paris thì đã đình chiến được hơn một năm, tỉnh Phước long vẫn bị VC mở nhiều cuộc tấn công đe dọa và bị cô lập. Phương tiện tiếp tế duy nhất cho Phước long là đường hàng không. Hàng tháng, anh Quang phải về Sài gòn xin đồ tiếp tế. Tôi không biết anh Quang học đâu, là cán sự điện hay cơ khí, chỉ nhớ anh người miền Trung; hơi thấp nhưng dáng khoẻ mạnh, tướng tá tương tự như NM Bàng. Mỗi lần anh về ghé SCV đưa danh sách các vật liệu, chính yếu là dầu diesel chạy máy, và các đồ phụ tùng máy điện, là tụi tôi phải lo liệu ưu tiên. Tôi đưa danh sách sang kho Thủ đức xin xuất hàng, đồng thời liên lạc với USAID xin một chuyến máy bay Air America đi Sông Bé (tên người Mỹ gọi phi trường Phước long). Khi mọi việc saün sàng, tôi làm sự vụ lệnh vào Tân sơn nhất rồi đích thân tôi cùng anh Mãnh dẫn đoàn xe vận tải chở dầu bằng thùng phuy và các vật liệu khác cho Phước long.Tại đây tôi vào thẳng cơ sở của hãng Air America làm thủ tục giao hàng để họ đưa lên máy bay chở đi Sông Bé. Vì công tác quan trọng, lần nào tôi cũng kiên nhẫn chờ cả buổi đến khi mọi việc xong xuôi mới về. Mỗi lần công tác xong, tôi cảm thấy yên lòng vì mình đã làm bổn phận tiếp tế cho những bạn ở vùng hỏa tuyến. Riêng về anh Quang, tuy chỉ tiếp xúc với anh qua công vụ nhưng tôi rất có cảm tình, và cảm phục anh. Mỗi lần nói chuyện với anh Quang, tôi nhận thấy anh có thái độ rất can đảm, tuy anh đang phải ở nơi nguy hiểm nhưng anh không hề sợ hãi hoặc có thái độ than thở hay so sánh với những người làm việc ở Sài gòn. Lần nào anh Quang bận không về được thì đích thân trung tá Hồ Văn Phước Tham mưu tưởng tiểu khu về lấy vật liệu thay thế.

Chúng tôi vẫn lo yểm trợ hàng tháng cho trung tâm ĐL Phước long cho tới cuối năn 1974, chiến sự sôi động rồi tôi nghe tin tỉnh Phước long bị tấn công dữ dội. Tin trên đài phát thanh ngày một xấu, sau cùng Phước long bị VC tràn ngập. Tôi vô cùng lo lắng nhưng cũng hy vọng anh Quang thoát được hoặc có bị VC bắt cũng không đến nỗi nào vì anh là dân sự. Nhưng ít ngày sau có tin anh đã bị tử nạn, tin do một số nhân viên ĐL ở Phước longchạy thoát được về kể lại. Nguyên làø khi Việt cộng bao vây tỉnh thì ông Tỉnh trưởng cho gọi các cấp chỉ huy tỉnh (trong đó dĩ nhiên có Trưởng trung tâm ĐL) vào ẩn núp tại bộ chỉ huy tiểu khu là nơi được bảo vệ vững nhất. Ngờ đâu khi VC tràn ngập tiểu khu chúng đã sát hại tấùt cả mọi người trong bộ chỉ huy, không kể dân sự hay quân sự. Tôi xin kể lại chuyện này để chúng ta nhớ tới một người bạn đã hy sinh vì công vụ. 

Sau vụ thất thủ Phước long, chiến sự sôi động dần. Chúng tôi đã qua những ngày bình yên trước cơn bão tố, sẽ trải qua những ngày biến động đưa đến sự sụp đổ của miền Nam VN.

(Hết phần một)

Song Nguyễn

Tháng 9.2000