Ký Sự Về Bolivia

và vài ý nghĩ về phát triển điện năng tại Việt nam

Bài của Nguyễn Trung Thu

Trong năm 1996 tôi có cơ hội làm việc tại nước Bolivia (Nam Mỹ) cho một chương trình phát triển thủy điện, nay ghi lại một vài ký ức về quốc gia này và đóng góp vài ý kiến về việc phát triển điện năng ở Việt nam.

Tôi đến La Paz vào cuối tháng 5, 1996, vào lúc mùa đông bắt đầu ở xứ này.Khi máy bay hạ cánh tại phi trường Alto, gió lành lạnh vào buổi sáng sớm nhưng rồi hơi ấm lên dần cùng với nắng mai. Bolivia là một quốc gia thuộc Mỹ châu La tinh, với diện tích lớn gấp ba lần Việt nam và dân số thì chỉ khoảng chừng 1/10 dân số Việt nam, đặt nền tảng trên nông nghiệp như trồng lúa, các loại cây ăn trái, cây Coca ... và kỹ nghệ khai thác hầm mỏ như vàng, bạc, thiếc, dầu hỏa v.v... Nét đặc thù của Bolivia là việc trồng cây Coca, là rừng núi bao la, hùng vĩ (nơi dung thân của Che Guavera, người đã làm CIA Mỹ phải điêu đứng mấy chục năm trong nỗ lực loại bỏ ông này...)

Sử dụng Coca dưới hình thức nguyên liệu từ lá tươi hay lá khô ở Bolivia là việc tự nhiên và phổ biến như ở Việt nam chúng ta dùng chè tươi hay trà. Trong các chợ bản xứ, các sạp lá coca khô hay tươi nhan nhản khắp nơi, trong các cửa hàng tạp hóa hay siêu thị các túi lá coca tán nhỏ (gọi là maté de coca) được bày bán tự do bên cạnh trà và cà phê. Dân Bolivia coi sản phẩm này là nhu cầu hàng ngày, như chúng ta dùng chè lá ở thôn quê và trà ở thành phố vậy.Họ cho rằng lá này có thể chữa trị bá bệnh nhất là giúp sự tiêu hóa và lưu thông máu.Khi bạn vào khách sạn, bạn được tặng ngay một phiếu miễn phí để mua một bình coca nóng, đó là một hình thức đón tiếp để giúp bạn chóng thích nghi với cao độ của vùng La Paz và phụ cận ... Dân vùng quê còn có thói quen nhai coca hàng ngày để có sức làm việc. Tôi được nghe kể rằng thời người Tây ban nha xâm chiếm nước này để khai thác mỏ bạc ở vùng Oruro, họ đã giữ nhân công suốt nhiều ngày, không cho ra khỏi hầm mỏ. Những người này thiếu đồ ăn, phải nhai lá coca thay thế thực phẩm để tiếp tục làm việc không nghỉ.

Theo chương trình bài trừ ma túy bảo trợ bởi chính phủ Hoa kỳ, các nước Nam Mỹ đang có kế hoạch giúp nông dân trồng cây kỹ nghệ hay thực phẩm để thay thế cây coca, tuy nhiên vấn đề vẫn còn rất là phức tạp. 

La Paz là một thành phố với dân số trên dưới 1.2 triệu, ở trong một lòng chảo bao bọc với núi non và cao nguyên Alti Plano với cao độ chừng 4000 m. La Paz ở cao độ 3700 mét, một thành phố thủ đô ở độ cao nhất thế giới. Đó là một thành phố còn giữ nét đặc thù của thời thuộc địa Tây ban nha, với những đường phố chính rộng lớn có lối dạo ở giữa, trang trí với những tượng cẩm thạch, tượng đồng điêu khắc theo lối Tây ban nha, vòi phun nước, làm tôi tưởng nhớ đến đường Nguyễn Huệ.Những con đường trải đá với hàng cây xanh hai bên vệ đường rất nên thơ và trang trọng như đường Nguyễn Du, Hiền Vương của Sài gòn ngày trước. Ngoại ô xung quanh thành phố có những núi non bị xoi mòn, đẽo gọt bởi thiên nhiên tạo thành những trụ hay hình khối kỷ hà đẹp mắt chẳng khác nào Grand Canyon của miền cao nguyên Arizona.Núi Illimani ở phía bắc tuyết phủ quanh năm, nổi bật giữa cao nguyên như là bình phong cho La Paz.

Xứng hợp với cái tên của thành phố (La Paz: Hòa bình), dân chúng ở đây rất hòa nhã, lễ độ và biết vui sống.Hầu như mọi ngày, khi nắng lên cao với nhiệt độ 14-20 độ C dân chúng nhàn nhã dạo trên các lối đi với niềm hân hoan, tay trong tay, vai kề vai, trông rất an bình.Các ngày cuối tuần thường có các cuộc diễn hành nhảy múa với trống kèn chơi nhạc La tinh trên các đường phố rất vui nhộn. Cứ vài tháng lại có trận cầu quốc tế làm nơi nơi dân chúng náo nức trang hoàng, cổ động và đánh cá. Không khác gì Việt nam hay các xứ thục Đệ tam Thế giới, bên ngoài các lâu đài nguy nga, đồ sộ cũng có lắm người dân thôn quê, bỏ 1ên thành phố để trở thành những kẻ ăn xin hay du thủ sống trên vỉa hè.

Cách La Paz không xa là hồ Titicaca ở cao độ 3810 mét, rộng lớn không thua gì Ngũ hồ. Hồ rất đẹp với những hòn đảo rợp bóng cây nước trong xanh, lắm cá Trucha, có những cơ sở du lịch trang trọng quanh bờ hồ.Nơi đây đã phát sinh nền văn minh cổ Tiawanacu, có từ 2500 năm mà nay vẫn còn để lại các đền đài, thành quách, với nghệ thuật điêu khắc và cắt đá rất đáng thán phục.Dân tộc Tiawanacu lai giống với người Inca nay vẫn còn sống bằng nghề nông trên những dải đất dọc theo hồ Titicaca, hay du mục theo đàn Llamas thả rong theo các sườn núi.Chính dân vùng này đã kiến tạo những chiếc thuyền Balseros bằng mây nứa, có khả năng vượt đại dương.

Cao nguyên Alti Plano như là một thung lũng khổng lồ, có bề rộng bao la, chứa đựng La Paz và các vùng phụ cận. Phía đông và nam thoai thoải đổ xuống vùng đồng bằng Cochabamba, Santa Cruz với bình nguyên thấp và phì nhiêu sản xuất nông phẩm, phía tây giữ cao độ cho tới bờ hồ Titicaca rồi Peru. Phía bắc ngọn nước đổ xuống các thung lũng với một độ dốc rất lớn tạo thành nhiều suối, ghềnh... đã là nguồn nhiên liệu khả tái dụng cho việc sản xuất điện năng. Một trong những thung lũng này mang tên thung lũng sông Zongo mà nơi đây người viết đã có cơ hội làm việc và sống trên nửa năm.

Thung lũng Zongo bắt nguồn từ núi Potosi, cách La Paz lối 15 cây số, đổ từ cao độ 4500 m xuống 900 m trong 45 cây số. Bạn có thể di chuyển bằng xe trên con đường đất ngoằn ngoèo, và dốc khúc khuỷu, mà phần lớn lòng đường chỉ rộng đủ cho một xe vận tải. Với chừng hai tiếng hành trình bạn có thể sống qua với cảm xúc và phong cảnh khác nhau của xứ cao nguyên hàn đới, đồng bằng hàn đới, rồi ôn đới và rừng núi xứ mưa. Đây núi đá trơ trụi với mưa bay sương phủ, thỉnh thoảng một đoàn Llamas gặm cỏ khô cằn cỗi trên sườn núi; cách đó không xa, đàn bò, đàn dê ăn cỏ qua đám tùng bách, rồi kế tục không lâu sẽ thấy chim chóc đua hót trong rừng lá xanh rờn của miền ôn đới... Phong cảnh ngoạn mục vô cùng, lắm lúc muốn tắt thở khi bạn nhìn con sông chảy rất sâu trong thung lũng dưới chân mình, chỉ một lầm lẫn trong gang tấc là bạn có thể an nghỉ ngàn thu, khi thì say sưa nhìn ngắm thác nước trắng xóa không biết từ đâu đổ xuống, trên các tảng đá nhaün như một tấm thảm. Có những con suối được điểm tô bởi những cụm phong lan trổ hoa hồng thắm hay tím thoảng hai bên bờ, rồi những rừng trúc xinh xắn mà mình ước mơ được trồng trong chậu kiểng. Hoa khoe thắm, lá đua xanh dọc vệ đường khi qua vùng ôn đới. Không xa dưới chân mình, là suối, là ghềnh, khi chỉ như một vài dòng nước róc rách, khi thì ồn ào như một thác lũ đổ xuống hồ (phần lớn các hồ này nhân lập trong hệ thống thủy điện).

Thung lũng Zongo đã dược khai thác để sản xuất điện năng từ 60 năm nay. Một số nhà đầu tư từ Bắc Mỹ và địa phương đã lập ra một công ty sản xuất điện, đưa về trung tâm tiêu thụ La Paz. Những dòng nước do mưa hay tuyết từ các đỉnh núi tan chảy đổ xuống, được gom vào hồ sau khi đi qua hệ thống dẫn nước gồm "mương" (canal) hay "đường hầm" (tunnel) đục qua núi đá, có những đường hầm dài trên vài cây số.Nước được dẫn xuống chân núi qua các "ống thủy áp" (Penstock) để đẩy "tua bin" (turbine) của nhà máy điện đặt dưới chân núi. Những dòng nước đó, sau khi qua tua bin lại được tiếp tục dần và bổ túc bằng những dòng suối ở dãy núi thấp hơn, cứ thế tiếp tục để chạy các nhà máy thấp kế tiếp, tạo nên một hệ thống "liên hoàn" (cascading). Thung lũng hiện có chừng mười nhà máy thủy điện với một công suất hiệu dụng tổng cọng tới 80 MW. Chương trình thủy điện mới bành trướng hệ thống cũ thêm 70 MW, được biến và dẫn điện ở 115 kV để đưa lên thủ đô La Paz tiêu thụ. Hệ thống dẫn điện 115kV bằng các trụ tháp sắt chạy trong lòng thung lũng, lắm lúc băng từ đỉnh núi này qua đỉnh núi khác trông ngoạn mục vô cùng.

Nét quyến rũ của hệ thống sản xuất điện ở thung lũng Zongo là sự đơn giản dễ thực hiện và chi phí thấp của các công trình công chánh như hệ thống gom nước, tích trữ nước và ống thủy áp nhỏ v.v... Hệ thống gom nước đôi khi chỉ là những mương nước lộ thiên trên dưới một mét bề rộng, một mét bề sâu chạy dọc theo sườn núi hay lối mòn, được đơn giản kiến tạo bằng đá trộn xi măng, lắm khi không cần cốt sắt. Một khu đất thấp đường kính trên dưới 100 mét cũng có thể cải biến thành hồ chứa nước. Việc xây cất những đập nước cỡ lớn với những con đê đồ sộ tốn kém không cần thiết vì áp suất nước do sự chênh lệch cao độ của miền núi tạo ra thay vì lưu lượng nước được khai thác để đẩy tua bin Pelton. Các đường thủy áp thường cần chi phí nhân lực cao nhưng khi ở môi trường Việt nam và với các nhà máy nhỏ, phí tổn sẽ giảm đi rất nhiều. Các hệ thống kiểm soát và an toàn ở hồ như "ngõ nước ra vào" (inlet / outlet gates), "đập tràn" (diversion dam) v.v... cũng chỉ đơn giản mà thôi; ngoài ra nguyên liệu bản xứ như gỗ tốt có thể thay thế cửa sắt hay ống sắt. Nhà máy điện dùng tua bin Pelton cũng có thể thu nhỏ và đơn giản vì không cần phải có những đường thủy áp lớn như trường hợp các nhà máy trang bị với những loại tua bin khác.

Tất cả những công trình dân sự nêu trên có thể được thiết lập dễ dàng vì nguyên liệu saün có cùng nhân lực rẻ và khéo léo như ở Việt nam.

Thử góp một ýniệm về kế hoạch điện hóa kbả thi ở Việt nam

Tôi liên tưởng đến Việt nam với rặng Trường sơn tiếp nối các núi rẽ quạt chạy dài trên 1000 cây số, với nhiều sông ngắn có triền cao, sẽ tạo một thủy năng dồi dào cho việc phát triển các nhà máy thủy điện cỡ nhỏ từ vài megawatts cho tới vài chục megawatts. Đừng mơ tưởng nhiều đến những công trình điện năng lớn (trên 25 MW/ mỗi nhà máy) vi những công trình này đòi hỏi một ngân sách kếch sù để thiết lập các công trình dân sựnhư đập nước, ống nước, hệ thống dẫn và biến điện cao thế,v.v ... và sự khó khăn trong vấn đề môi sinh ... Sản xuất điện năng với các nguyên liệu nội địa khác như than đá, dầu khí hay sản phẩm dầu hỏa cũng cần đầu tư rất lớn và khó khăn về môi sinh, và sau đó là chi phí điều hành...

Các công trình thủy điện nhỏ này chỉ tốn chừng 1800-2200 Mỹ kim trên mỗi kW thiết trí mà trong đó 20-30% là ngân khoản dành cho việc thiết bị máy móc, phần lớn còn lại là công tác công chánh và dân sự mà vật liệu và nhân công rẻ nội địa có thể cung ứng để hạ chi phí của công trình. Như vậy vấn đề vay mượn và tài trợđược dễ dàng hơn. Ngoài ra, với những nhà máy nhỏ hệ thống chuyển vận và liên kết cao thế thường không cần vì hệ thống liên kết cấp trung thế cho từng vùng có thể thích hợp, như vậy vấn đề ngân khoản có thể dễ dàng giải quyết. Việc đầu tư ngoại quốc dựa trên phương thức "BOT" (Build, Operate, and Transfer) cũng có thể hoàn thành dễ dàng hơn khi ngân khoản đầu tư nhỏ và các vấn đề môi sinh không phức tạp.

Tóm lại, những nhà máy thủy điện nhỏ rất thích hợp cho việc điện hóa các tỉnh, quận, hay các khu dân cư tại các vùng hẻo lánh dọc theo rặng Trường sơn ở Việt nam, khi chi phí đầu tư và điều hành thấp.

Nguyễn Trung Thu