Tạp Ghi "I-Meo" ... 20

(Những Mẩu Chuyện Kỷ Niệm Vui Buồn Thường Ngày Trao Đổi Qua Vi Thư)

Oct 1999 - N1-T1 :

... Tối qua tôi mới coi Video Thúy Nga "Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương" có bài thơ Tình Quê Hương phổ nhạc:

Anh về qua xóm nhỏ

Em chờ dưới bóng dừa

Nắng chiều lên mái tóc

Tình quê hương đơn sơ...

cùng tiếng đờn kìm văng vẳng các khúc Nam Ai, Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán mà bùi ngùi hồi tưởng bài thơ vọng cố hương của Lý Bạch:

Sàng tiền minh nguyệt chiếu

Nghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương.

Rồi chợt nhớ tới chuyện trong Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam, đoạn ông già bắt sấu ở xứ "Nhánh bần gie con đom đóm đậu sáng ngời", đốt nhang tụng giải oan cho các vong hồn vì miếng cơm manh áo tha phương cầu thực, mà bỏ mình nơi đất khách:

Hồn ở đâu?

Hồn ở đâu đây

Xa cây xa cối

Xa cội xa nhành

Đầu bãi cuối ghềnh

Hùm tha sấu bắt

Bởi chưng thắt ngặt

Manh áo chén cơm

U Minh đỏ lòm

Rừng tràm xanh biếc

Ta thương ta tiếc

Lập đàn Giải Oan....

Thật là hạp với tâm trạng của anh em chúng mình:

Bên lòng nặng khối tình quê

Bước đi muôn dặm, hướng về đồng xanh.

Hồi xưa tuy gọi là đi xa chớ thật ra chỉ mấy trăm cây số là cùng. Còn nay thì đúng là nghìn trùng xa cách, cũng giống như cảnh sanh ly tử biệt, một lần hội ngộ rồi không biết có còn gặp nhau nữa hay không.

Oct 1999 - N1-T1:

Tối qua tôi coi CNN phỏng vấn bà chủ tịch của Christian Science, một tổ chức lâu đời mà Dale Carnegie có trích dẫn trong cuốn How To Stop Worrying And Start Living xuất bản 4-5 chục năm trước [Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống do Nguyễn Hiến Lê dịch]. 

Bà ấy cho biết trong một tai nạn bị thương trầm trọng, bệnh viện cho biết chỉ còn chờ chết, bà đòi đưa về nhà và cầu nguyện mãnh liệt liên tục ngày đêm. Sau đó thì sức khỏe phục hồi như bình thường, và bà dành trọn thời gian còn lại của đời bà cho việc đạo.

Tôi đã xem trên TV và đọc các sách báo kể rất nhều trường hợp đặc biệt về các bệnh nan y hoặc chấn thương trầm trọng mà do cầu nguyện rồi hết bệnh. Các nhà y khoa cũng nhìn nhận là trong đa số các bệnh do "stress" làm rối loạn các hormonesimmune systems thì khi tinh thần và tâm linh được yên tĩnh, cơ thể sẽ tự phục hồi lần lần.

Các Đạo sư LahiriYogananda cũng đặc biệt nhấn mạnh về năng lực tuyệt vời do cầu nguyện NHIỆT THÀNH, trong việc trị bệnh và bảo tồn sức khỏe. Theo ý nghĩ thô thiển của tôi thì mình cứ dùng các thuốc men phương tiện y khoa hiện đại song song với việc "chữa trị bằng tâm linh": Thuốc men cũng như đốt củi để lấy năng lượng, còn tâm linh như là phản ứng nguyên tử từ thiên nhiên, do cơ duyên và nỗ lực cá nhân mà may mắn hấp thụ được thì sẽ lành bệnh.

Đa số các trường hợp như vậy thì họ tu luôn. Tôi nghĩ đó cũng là cách nhắc nhở mình trở về con đường tu học. Tất cả các sự việc ở đời mà mình cho là bất hạnh, trong đó có ẩn tàng một bài học thiêng liêng để dẫn dắt mình trở về cội nguồn:

Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ

Thiên niên tự hữu, linh hồn thiên tứ phản hồi thiên.

Trong nhà Phật, pháp môn niệm Phật tam muội khi thực hiện RỐT RÁO tới mức: Người niệm, Lời niệm và Đối tượng niệm nhập lại là Một thì ngay cả người có nghiệp chướng sâu dày cũng được vãng sanh Tịnh Độ huống gì các thân bệnh do nghiệp căn.

Oct 1999 - N1-B1:

Anh làm tôi nhớ tới kỷ niệm về học giả Vương Hồng Sển: Hồi còn học dưới quê và sau nầy lên Sài gòn đi học, tôi rất khoái nghe chương trình phát thanh Ý Nghĩa Cuộc Sống do ông phụ trách. Vào buổi tối nghe ông nói chuyện, mình có cảm tưởng như đang tham dự cuộc nhàn đàm và uống trà với một hiền giả ẩn dật. Nhứt là vào đêm trăng ở nhà quê, ôm cái radio ngồi dựa gốc cây sát bờ sông vắng, nghe nhạc điệu mở đầu khúc Sonata "Moon light" của Beethoven, nhìn "Nhánh bần gie, con đom đóm đậu sáng ngời" mà thả hồn theo câu chuyện của ông thì thật là tuyệt vời! Những kỷ niệm êm đềm đó tới nay vẫn còn như mới nguyên trong trí.

Có lần ông VHS kể là ngay từ hồi còn đi học và cho mãi về sau nầy, bất cứ tờ giấy gì: thơ từ, vé hát, quảng cáo, báo chí... cái gì tới tay ông là ông đều giữ gìn, không quăng bất cứ cái nào! Thành ra ông được cử làm Giám đốc Viện Bảo tàng Sài gòn thì thật là đúng chỗ đúng người.

Các bài của ông đăng trong Hiếu Cổ Đặc San như Sài gòn năm xưa, Thú chơi cổ ngoạn, Thú coi truyện Tàu, Thú đá gà, Thú đá cá thia thia, Năm mươi năm mê hát... xứng đáng là những tác phẩm để đời bên cạnh Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc của văn học miền Nam.

Ông còn là chồng của Bà Năm Sa Đéc. Chắc anh còn nhớ quán hũ tiếu và bánh bao ông Cả Cần trong Chợ lớn ngon vô cùng!

... Nhân lúc bắt đầu vào thu, xin tặng anh và các bạn bài Đêm Thu Nghe Quạ Kêu của Quách Tấn để thả hồn mơ về quê cũ:

Từ Ô Y Hạng rủ rê sang

Bóng lẫn canh thâu tiếng rộn ràng

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng

Bồn chồn thương kẻ nương song bạc

Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng

Tiếng gọi chân mây đồng vọng mãi

Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.

Oct 1999 - N1-T1:

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi, thu mênh mông.

Tháng 10 lá vàng rụng ngập đường ở Colorado, máy sưởi đã bắt đầu chạy. Mấy đêm trăng ngó ra ngoài công viên thấy ẩn hiện sau lớp sương mù khiến nhớ lại câu thơ ngày xưa:

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng

Bồn chồn thương kẻ nương song bạc

Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng...

Tuy đã biết là "Tùy cảm nhi ứng, tùy ngộ nhi an", mà vẫn thấy ở đâu cũng không bằng ở quê nhà, cái mối ràng buộc với quê hương xứ sở khó mà quên. Các Thiền sư rày đây mai đó một phần cũng là để tháo gỡ sự buộc ràng [non-attachment]. Khi bắt đầu cảm thấy mến cảnh mến người là các Ngài lại lên đường tiếp tục du phương.

Tôi có đọc tự truyện của Đạo sư Yogananda, có nhắc tới cái quy luật thiên nhiên "Muốn là được", hễ còn "muốn" là phải đáo đi đáo lại cõi thế gian để "được". Nói theo nhà Phật cái nhân đã gieo và lại được ôm ấp nuôi dưỡng thì khi cơ duyên tới là sẽ có kết quả. Có điều cái "muốn" đó có đáng để mà lai đáo hoài, cho tới lúc "được" hay không.

Nói theo một Thiền sư thì cái rốt ráo của mọi sự tu tập là: "Vô niệm [thì ] Vô sanh" Tôi nghĩ đây là quy luật của càn khôn vũ trụ và đây cũng là con đường giải thoát... 

Nov 1999 - N1-T1:

Cái khúc chót nầy cũng tùy lúc: nếu xụi xuống 6 giờ thì kêu là chót, còn hễ trực chỉ 12 giờ thì gọi là đầu: Hai ông đi trên đường, thấy cô thôn nữ ngồi chàng hảng trên lưng trâu... cái, nên nổi hứng mở miệng chọc ghẹo:

Đơn nữ kî ngưu, nhứt diện hướng tiền, nhứt diện hậu.

[Một cô gái cỡi trâu, một mặt (của cô) quay đàng trước, một mặt (của con trâu cái) quay đằng sau].

Hai ông lấy làm đắc ý, ai dè gặp ngay con mẹ "Hán" rộng, nó phang lại như sau:

Nhị nhơn cử bộ, lưỡng đầu chỉ địa, lưỡng đầu thiên.

[Hai ông đi bộ, hai đầu chỉ đất, hai đầu chỉ thiên]

... Một cậu Nam kỳ mới lớn muốn vợ theo cái kiểu:

Chuối non vú ép chát ngầm

Trai tơ đòi vợ khóc thầm sáng đêm

Khóc rồi Má lại đánh thêm:

Vợ đâu mà cưới nửa đêm cho mầy?

Nhưng rốt cuộc rồi cũng kiếm được một đám. Bữa đi coi mắt, vừa vô tới nhà bên vợ là thằng nhỏ ba chớp ba nháng nói liền:

- Kính thưa ông bà nhạc thịt! [nhạc "da" mà tui kêu lộn thành nhạc thịt], Dạ kính thưa Ông Bà Nhạc Gia!

-Ai đã gã con cho mầy hồi nào mà "da" với thịt? Nghe tiếng mầy Hán rộng, học hành chữ nghĩa lão thông, đâu thử nói vài câu trong văn sách nghe coi.

- Dạ có liền! Ở đời hễ mình nghèo thì dầu ra giữa chợ cũng không ai thèm hỏi tới, còn người giàu có thì ở sâu trong núi cũng có người thân. Cho nên sách có câu:

Bần cưa ván ngựa đôi ba tấm

Cú tại màn tang đứng chết trân!

- Trời đất! Chữ nghĩa của thánh hiền là:

Bần cư náo thị vô nhơn vấn

Phú tại thâm sơn hũu viễn thân

mà nó nói dám nói bậy như vậy. Thôi... còn câu nào cứ nói nữa đi!

- Dạ còn chớ! Chuyện đời hễ cái phước thì ít khi tới hai lần, còn điều họa thì cứ gặp dài dài. Bởi vậy cho nên sách có câu:

Cuốc đất trồng khoai, Quạ vô ăn chuối!

- Trời! Chữ nghĩa gì mà có khoai với chuối trong đó nữa! Của người ta là :

Phước bất trùng lai, Họa vô đơn chí!

mà nó chế ra thành chuối với khoai thì hết nước nói rồi! Thiệt đúng là đồ 'Hán[g]" rộng mà!...

Nov 1999 - N1-T1:

Bài Retiree thiệt hết sẩy, đề nghị là mình rà lại chút đỉnh ... rồi đăng lên bản tin thiên niên 2000 để chào mừng các THĐL thượng thọ "lục tuần dĩ thượng" đã đang và sẽ về hưu.

Tôi cũng có cùng một ước mơ với tác giả: "... mơ tới một buổi xế chiều, gió mát hiu hiu thổi, ngồi trên cái rễ của một cây cổ thụ trên một ngọn đồi, nhìn ra bao la và bàn luận về kiếp nhân sinh với một vị tu hành lớn tuổi"...

Chắc tác giả còn nhớ một buổi chiều êm ả tại cửa tiệm XDĐ đang vắng hoe, "đi làm" mà cũng như đã về hưu, tui vô sở mà thằng B.L. chưa mở cửa. Ông Đạo H. đang nằm ngáy bên bộ ghế dài giựt mình ngồi dậy vì tiếng mở cửa sắt. Sau đó anh em mình nhâm nhi uống trà bàn chuyện đời.

Tôi đưa ông coi bài kệ Bình Thường Tâm Thị Đạo của Hoàng Bá và bài kệ Cầu Trôi Nước Chẳng Trôi của Phó Đại Sĩ, còn nhớ lai rai như sau:

Không thủ bả xừ đầu

Bộ hành kî thủy ngưu

Nhơn tùng kiều thượng quá

Kiều lưu thủy bất lưu

[Tay không, cầm cán xuổng

Đi bộ, lưng trâu ngồi

Người đi qua trên cầu

Cầu trôi, nước chẳng trôi]

Ông Đạo rất đắc ý cái câu cuối nầy. Tui cũng như Ông, mình ước mơ gặp một vị bần đạo trụ sơn như bài kệ của Đại Mai Thiền sư:

Tồi tàn khô mộc ỷ hàn lâm

Kỹ độ phùng xuân bất biến tâm

Tiều khách ngô chi do bất cố

Dĩnh nhân ná đắc khổ truy tầm

Nhất trì hà diệp y vô tận

Sổ thọ tùng hoa thực hũu dư

Đương bị thế nhân tri trụ xứ

Hựu di mao xá nhập thâm cư.

[Cây khô nép lạnh rừng nầy

Xuân qua mấy độ chẳng thay tấm lòng

Khách tiều gặp chẳng buồn trông

Hát hay kẻ ấy nhọc lòng tìm chi

Ao sen thừa áo huyền vi

Hoa tùng lót dạ thiếu gì nữa đâu

Thế nhân tìm gặp hôm nào

Am mây ta lại dời vào rừng sâu.]

Dec 1999 - N1-H1:

... Cái máy mà mình vọc hoài không chán là cái "cơ tâm", tức là tinh thần và tâm linh của mình. Theo tôi nghĩ lúc về hưu có thì giờ rỗi rảnh là lúc tốt nhứt để mình tìm hiểu nó: Tại sao nó lại sai khiến mình dễ quá vậy. Trong đạo học, khi tới hồi

Ô hô! Tam thốn khí tại thiên ban dụng

Nhứt đán vô thường vạn sự hưu

hai tay bắt chuồn chuồn, nhắm mắt buông xuôi rồi, thì chỉ còn "cái đó " đi theo mình mà thôi. Vậy thì bây giờ mình nên tìm hiểu để sử dụng nó như là bạn đồng hành trong cuộc hành trình đi đến "Bờ Bên Kia". 

Trong nhà Thiền có đề tài Thập Mục Ngưu Đồ [Mười bức tranh chăn trâu] cũng là để nói về cái nầy...

Dec 1999 - N1-T1:

Chuyện nghe hồi xa xưa, có 3 ông đạo tu ẩn dật trên đảo hoang ngoài biển khơi, một vị cao tăng đạo cao đức trọng nghe tiếng nên đi thuyền đến thăm. Sau khi hỏi han về đạo pháp thì té ra các ông nầy không biết gì hết, một câu kinh, một lời kệ cũng không thông, ba ông cứ rầm rì trong miệng: Tui thương ông, ông thương tui!

Ông Thầy thấy không ổn nên định ở lại vài ngày dạy cho các ông giáo lý, giới luật, cùng mấy bài kinh, lời cầu nguyện cơ bản. Nhưng mà cơ khổ các ông học đầu quên đuôi, mấy ngày trôi qua mà không xong bài nào hết, Ông Thầy mới nói:

- Thôi thì nhớ đọc 3 điều giáo lý cơ bản nầy:

Chư ác mạc tác

Chúng thiện phụng hành

Tự tịnh kỳ ý

như vậy nhớ chưa?

- Dạ xin rán nhớ!

Sáng bữa sau Ông Thầy trương buồm về đất liền, trong bụng ngẩm nghĩ Đạo pháp vô lượng vô biên, thiên kinh vạn quyển rành rẽ như mình còn chưa thấy gì, huống chi mấy ông già lẩm cẩm đó một câu kinh một lời nguyện cũng không thông, biết đến bao giờ mới đạt Đạo được.

Đang nghĩ như vậy thì bỗng nhiên Ông thấy ánh sáng từ sau lưng chiếu tới nên quay lại nhìn thì thấy 3 ông già đi như bay trên mặt biển hào quang sáng rực cả một góc trời, 3 vị đến xin Ông Thầy nhắc lại 3 điều cơ bản để các ông học lại, chớ bây giờ thì quên ráo hết rồi!

Ông Thầy liền mọp xuống đảnh lễ: Các vị Đại Sư Phụ khỏi cần nhớ điều gì thêm, cứ tiếp tục như quý Thầy đã làm. Phen nầy về chùa lo thu xếp xong, đệ tử sẽ trở lại xin học đạo cùng các Đại Sư Phụ ....

Dec 1999 - T1-N1:

... Sợ cậu ở nhà... buồn rồi lại viết... bậy nữa, moa chuyển cậu bài thơ này, cậu suy nghĩ và dịch ra tiếng Việt giùm, dịch thành thơ hay văn xuôi cũng được... Các cậu khác, nếu đọc thấy thích thú và nổi cơn lên thì cũng xin thử dịch thành thơ. Nếu có nhiều bản dịch thì mình sẽ lựa, hoặc cùng nhau edit để có một bản dịch hay nhất.

Beauty Secrets

For attractive lips, speak word of kindness

For lovely eyes, seek out the good in people

For a slim figure, share your food with the hungry

For the beautiful hair, let a child run his (her) fingers through it once a day

For poise, walk with the knowledge you never walk alone

We leave you a tradition of the future. 

The tender loving care of human beings will never become obsolete.

People, even more than things, have to be restored, renewed, revived, reclaimed, redeemed. 

Never throw anyone away.

Remember, if you ever need a helping hand, you will find one at the end of your arm. 

As you grow older, you will discover that you have two hands: 

One for helping yourself, the second for helping others.

Dec 1999 - N1-T1:

Mới đọc bài thơ ông thầy biểu dịch, trong đó có mấy câu mở màn xin tạm dịch sốt dẻo như sau:

Yêu đôi môi hồng, xin hãy nói lời êm ái

Thích cặp mắt xanh, xin thấy điều tốt nơi người

Được hình dáng thon là do chia phần cùng kẻ đói

Có làn tóc mây là để trẻ thơ ve vuốt hằng ngày...

Dec 1999 - H1-T1:

Đọc bài thơ Beauty secrets (Tác dụng của sắc đẹp), ta phải nghĩ rằng tại sao lại có bài thơ đó? Đối tượng của nó phải dịch như sau :

Đôi môi đẹp chuyên nói lời xằng bậy,

Cặp mắt huyền xăm xói chuyện người ta.

Mặt như hoa ăn quà không biết ngượng.

Làn tóc mây cho khỉ nhỏ nó vầy,

Luôn tự đắc với con người vị kỷ,

Đâu biết rằng ăn ở có trời soi.

Sống lâu mới thấy rằng sai :

Giúp người người giúp nào ai hại mình.

Dec 1999 - N1-T1:

Kính thưa các bậc Hiền giả,

Chữ "giả" đây không phải là giả thiệt, theo cái kiểu anh em ĐL lúc còn khốn đốn nơi quê nhà.

Bữa nọ một tên "thân hữu" vô sở gạ anh em mua bột giặt Viso, Đại Ca Th. khi móc bóp trả tiền còn hỏi gặn:

- Thiệt giả đó cha?

- Thiệt mà, nhưng còn tốt hơn... thiệt nữa!

- ... mẹ, đã thiệt mà còn tốt hơn thiệt nữa, vậy là giả rồi. Đưa tiền lại tui cha nội!!! ...

Chữ "giả" nói ở đây cũng tương tự như Tôn Hành Giả vậy. 

Thuở xưa vào đời nhà Tấn cách đây cả ngàn năm có 7 ẩn sĩ, trong đó có ông Lưu Linh, sống nơi rừng trúc được người đời tặng danh hiệu là "Trúc Lâm Thất Hiền". Ngày nay có 7 ông "điện... dựt" vì hoàn cảnh phải tha phương cầu thực, tứ tán mỗi người một nơi, mới gần đây tìm được một chỗ sum họp nơi "Trúc Lâm Vi Thư" nên cũng xin phép tạm xưng là Thất Hiền [xin đừng lộn với chữ "Thất" ở một câu trong Truyện Kiều: Thất kinh nàng chửa biết là làm sao... Có thằng cắt nghĩa đùi là nàng Kiều đã bị mất kinh, có chửa vì thằng cha Kim Trọng, mà không biết phải mần ăn làm sao bây giờ!]

Trở lại chuyện Thất Hiền, đời trước có ông Lưu Linh, không biết Thất Hiền đời nay có ông nào kế nghiệp chăng? 

Ở đời hễ tụ tập, tùng tam tụ ngũ thì chỉ có rượu là bậc nhứt, nhưng sau khi no say ấm cật rồi thì không gì bằng trà, vừa giúp mau nhẹ bụng [để chiều nhậu tiếp!] vừa là cái thú tao nhã để các Thầy Bàn hàn huyên tâm sự bàn chuyện đạo đời.

Nói tới cái món rượu thì cũng tùy người, mấy cha không hạp thì chê:

Tửu nhập ngôn xuất

Tửu nhập tâm như cẩu cuồng tại thị

[như chó điên giữa chợ, đụng ai cắn nấy]

Còn với các đệ tử của Lưu Linh thì:

Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm... 

và nhứt định không bao giờ chịu mình say.

Nhớ lại hồi nhỏ ở dưới quê chứng kiến không biết bao nhiêu đám hũ chìm làm mình cười lăn. Có một lần hai ông sau khi cho "chó ăn chè" còn đi vô nhà hỏi tui có manh chiếu rách nào cho ổng mượn để trải ra nằm ngoài sân cho mát mà sợ nhập thổ nên phải nằm trên chiếu. Tôi mon men theo thì thấy hai ông sau khi rán hết sức bình sanh để banh tấm chiếu manh ra, là gục xuống nằm phục vị ở ngoài đất!

Sáng hôm sau xáp lại để uống trà, một ông bàn:

- Thứ rượu nầy "đằm" lắm à nghe, nó xỉn nhẹ nhàng chớ không làm mình bất tỉnh nhơn sự! Có điều tối qua ngoài sân muỗi dữ quá, nó xúm vô mần thịt mình mà sao tao gãi hoài không biết đã, càng gãi càng ngứa! Tao phải quào suốt đêm, có ngủ nghê gì được đâu!

- ... mẹ, hèn gì mà cặp giò tui đổ máu, trầy xể hàng ngang hàng dọc mà tui không biết tại sao, nhớ rõ ràng là mình đâu có té vô bụi tre gai nào mà sao thương tích đầy mình như vậy. Té ra muỗi cắn chưn cha mà cha quào chưn tui...

Jan 2000 - N1-T1:

Tranh Thập Mục Ngưu Đồ [Mười Bức Tranh Chăn Trâu] có nhiều bộ, đa số tranh tôi còn nhớ lúc nhỏ, tại các chùa xưa là những tranh khắc trên mộc bản rất cổ kính, chỉ có một bộ là tranh thủy mạc đẹp tuyệt vời. Tôi vốn xuất thân từ miệt vườn nên khi nhìn các tranh mục đồng ngất ngưỡng trên mình trâu là thấy đã rồi, lòng hồi tưởng đến những bài tập đọc tập viết chánh tả trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư...

Nói chung có thể chia làm 2 loại: Tranh Đại Thừa và tranh Thiền Tông. Xin "bàn" về tranh Đại Thừa:

Sở dĩ nói việc tu tập giống như chăn trâu, theo tôi nghĩ là do Kinh Di Giáo trong đó ghi những lời dạy, khoảng cuối đời Đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn:

[Việc tu tập]

Y như chăn trâu

Cầm roi canh giữ

Không cho xâm phạm

Lúa mạ của người....

Trong các Tự Truyện và Pháp Ngữ của nhà Thiền cũng thường đề cập tới việc chăn trâu nầy, chẳng hạn như Mã Tổ Thiền Sư [đệ tử của Nam Nhạc Hoài Nhượng, Hoài Nhượng là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng] một hôm hỏi một Thiền sinh:

- Ông đang làm gì đây?

- Thưa, chăn trâu!

- Chăn như thế nào?

- Mỗi khi "nó " chạy ruồng vô đồng cỏ thì nắm dây kéo lại.

- Như vậy là người chăn giỏi!

Điều lý thú là bên đạo Chúa có danh từ Mục Sư [Pastor] nghĩa là Ông Thầy Chăn, đại diện cho Chúa chăn giữ con chiên, còn bên nhà Thiền thì chăn "con chiên" của mình trước, rồi sau đó hòa mình vào "chợ Đời" :

... Một bầu phong nguyệt say lơ láo

Đôi túi càn khôn đổ chứa chan

Tay ôm bầu nước, tay chống gậy trúc, chơi với bợm nhậu, hàng tôm hàng cá mà dạy cho họ : "Tất cả tụi mình đều là Phật hết mà!"

PS: Anh em mình bàn ra tán vào theo kiểu nhàn đàm:

Nhãn tiền nhứt tiếu giai tri kỷ

Tọa thượng toàn vô ngại mục nhân

[Trước mắt, vui cười toàn tri kỷ

Ngồi bên, chẳng thấy một người gây]

thành ra nhớ gì nói nấy, nếu có gì sơ sót xin quý Hiền Hữu châm chế.

Jan 2000 - H1-T1:

Nhân cái chết của Nhạc sĩ Văn Phụng, tôi xin viết lại bài thơ của Đỗ Phủ, ý nói cuộc đời ngắn ngủi để quý Thầy chiêm ngưỡng :

Khúc giang

Triều hồi, nhật nhật điển xuân y;

Mỗi nhật giang đầu tận tuý qui.

Tửu trái tầm thường hàng xứ hữu,

Nhân sinh thất thập cổ lai hi.

Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện;

Điểm thuỷ tinh đình khoản khoản phi.

Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển,

Tạm thời tương thưởng, mạc tương vi.

Nhờ các Thầy Hán rộng và thâm dịch cho mọi người cùng hiểu.

Jan 2000 - N1-T1:

Cái sướng và khổ ở đời phần lớn là ở chỗ đó đó:

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

Có người hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma về vụ đó thì Ngài đáp lại bằng bài kệ của một vị Tổ Sư, đại ý như vầy:

Ngứa mà được gãi

Thấy sướng làm sao.

[Nhưng nếu]

Không ngứa không gãi

Đó mới thiệt sướng!!!

Tu tập tới chỗ Không Ngứa Không Gãi thì không cần nhảy Rock-n-Roll theo kiểu thằng cha cụt 2 tay ở tháp Eiffel.

Jan 2000 - N1-T1:

Cái sướng hồi thời xưa là:

Hữu tử, vạn sự túc

Vô quan, nhứt thân khinh

[Có con vạn sự đủ

Không quan, một thân vui]

Nói theo thời buổi bây giờ là có liên lạc thân ái với người thân quen [phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu] và không phải đi làm để trả "bill" nữa [không quan] theo kiểu các thầy ở Tây phương là đã rồi!

Con chuột giỡn chơi trong ống cống hôi hám, giành được mấy cục cứt thấy đã quá, còn mình thì thấy ghê. Ông Phật hồi còn sanh tiền có nói với một bà phụ nữ đẹp nhứt thời đó ai thấy cũng mê mệt, là Ồng chỉ thấy ghèn ở mắt, ke trong miệng, cứt đái trong bụng mà thôi!

[Cái vụ nầy khiến bả thù oán nên cố lấy cho được ông vua trong vùng để sau nầy trả thù, may là bả cũng không ác nên chỉ sai người tới chửi rủa cho hả giận.]

Cái khổ ở đời là mình có dư đủ thứ, muốn sướng phải bỏ bớt: bớt ham, bớt lo, bớt sợ, bớt ghét, bớt giận, bớt buồn,...

Mấy cái nầy nói chung gọi là Vô Minh, nói trắng ra cũng là ảo tưởng do cái tâm vọng động sanh ra mà thôi. Truyện có kể là một Ông Thầy tới thăm Thiền Sư Triệu Châu, Ông Thiền Sư bảo: 

- Để xuống, để xuống!

Ông kia đáp: 

- Từ xa tới đảnh lễ Thầy mà không có món gì cúng dường, đi tay không mà Thầy biểu để xuống là để làm sao?

- Để xuống không được thì nhấc lên!

Jan 2000 - B1-N1:

Kể chuyện : Bỏ bớt cái ham, nói thì dễ, chớ còn làm mới là khó.

Tôi có một kinh nghiệm bản thân, hôm nay xin nói : Bằng hơi thở ra, đưa tư tưởng từ đỉnh đầu ra lỗ mũi và như vậy là hết ham cái mà mình không có và biết vui với cái mình đang có.

Muốn đạt tới giai đoạn nầy, trước đó phải đạt giai đoạn hơi thở cho thông phía trước (nhâm mạch), rồi cho thông phía sau (đốc mạch). Và vận chuyển được từ sau ra trước với đan điền làm nơi chứa khí (vận chuyển tiểu chu thiên).

Từ đó mình có thể lôi ra khỏi đầu những tư tưởng mình không muốn nghĩ tới và cái đầu nó sẽ được mát rượi (sau 15 phút thở ).

Từ lúc tập tểnh yoga trước khi vào trại NV15 Long Thành đến nay là 25 năm mới tới đó.

Bàn : Cái sướng là biết xóa đi ngay trong tâm tư mình những tư tưởng tham sân si. Anh nào muốn sướng như tôi thì đi tập yoga 1.30 giờ mỗi ngày và khí công 2 giờ mỗi tuần, tuổi già thì 10 năm sẽ có kết quả .

Jan 2000 - N1-H1:

Câu đối chữ Nho Thầy còn nhớ chép ra, tôi thấy đã quá nên gọi là góp chút cháo cho tròn câu:

Phật chỉu huyền, như vân quải sơn đầu, hành đáo sơn đầu, vân cánh viễn.

Thiền cơ hạo ảnh, tự nguyệt lâm thủy diện, bác khai thủy diện, nguyệt hoàn thâm.

[Phập pháp u huyền, như mây bủa đầu non, đến đỉnh non rồi, mây xa tít,

Thiền cơ ảo diệu, tựa trăng soi mặt nước, vừa khua mặt nước, nguyệt chìm sâu]

Chợt nhớ tới bài kệ xưa xin được gọi là tán thán công đức của quý Thầy:

Lăng Già ngời ánh nguyệt

Bát Nhã nức mùi sen

Biết bao giờ được gặp

Cùng nhau kể đạo Huyền...

Jan 2000 - N1-H1:

... Xin chép trọn bài thơ, không chắc nhớ đúng nguyên văn:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc đưa làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo

Từng mây lơ lửng trông xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Đợi cá ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Jan 2000 - T1-H1:

Vậy là sau một thế kỷ, sau một chữ "vèo" của Nguyễn Khuyến, sau chữ "vèo" thứ hai của Tản Đà [Vèo trông lá rụng đầy sân, Công danh phù thế có ngần ấy thôi], bây giờ có thêm chữ "vèo" thứ ba của Thầy. Chữ "vèo" thứ ba này cũng rất là đắc địa bởi vì ngoài chuyện vần điệu ra, cái ý nghĩa và hình ảnh của "gió thổi vèo" cũng là để đưa đến cái hậu quả "tu keo". 

Cuốn sách "Tranh Chăn Trâu", nói theo Hòa thượng Kim sơn tự, là cũng "tùy duyên" mà tôi có được. Tôi không [hay chưa] có "cơ duyên" đi sâu vào chi tiết, nhưng tôi có cái tật là mê sách báo, cái nào đọc được thì dĩ nhiên là... đọc, cái nào chưa đọc được thì cũng cứ cất để đó. Do đó mà nhà tôi càng ngày càng ... thiếu chỗ. Thầy cứ đọc thử và dịch lại mấy câu chữ Hán trong sách đó đi, biết đâu bài dịch của thầy còn "đạt" hơn thì sao.

Jan 2000 - N1-T1:

... Cái cơ duyên ở đời như Ông Phật nói: Không có duyên nghe không hạp, dù lời Phật nói cũng ăn trét. Thành ra anh em mình gặp nhau nơi đây là đã có duyên với nhau rồi. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, nguyên do là Ông An Nan đa văn và đẹp trai số một, bữa nọ đi khất thực bị con gái Ma Găng Đà say mê nên nhứt định buộc bà má dùng ma thuật mà ép chuyện phòng the, trong lúc sắp sửa rồi đời, thì Đức Phật sai ngài Văn Thù dùng thần thông cứu về Tịnh Xá và Phật giảng về Ngũ Căn [xin đừng nói lái nghe các cha], Ngũ Uẩn Ngũ Dục, và vì sao mà cả thế gian nầy bị chìm đắm trong đó, đến nỗi đức hạnh cao dày như Ngài An Nan mà còn bị sa ngã v.v...

Đa số bà con đều biết qua sự tích nầy và cho đám má con Ma Găng Đa là tà ma quỷ mị. Nhưng trong kinh Ma Găng Đa, Phật nói là Ông An Nan và con gái bà nầy hồi trước đã là vợ chồng rất đằm thắm, có cơ duyên sâu đậm cho nên mới ra cớ sự như vậy. Và sau đó thì Phật độ cho cả hai má con đều tu hành đắc quả ....

Jan 2000 - N1-T1:

Truyện:

THĐ sau khi vượt suối băng ngàn, du học tận miền đèo heo hút gió, một ngày nọ được lãnh chiếu chỉ và văn bằng "Học Tập Tiến Bộ" trở về Trường an. Nhưng khi tới nơi rồi, bởi có cốt tu nên chàng chán cảnh phồn ba mà hồi hương về cố quận.

Một bữa nọ đang dùi mài... dao mác, THĐ thấy tâm động nên rời non Châu thới xuống Trường an thăm dò mới hay là Sư trưởng XT đà thoát qua đại nạn Long thành, và bởi có căn tu nên Sư cũng đang hành trì hạnh Nhẫn Nhục để chờ ngày về Tây phương.

Thầy trò hàn huyên, Sư trưởng mới bật ngửa khi biết Môn đồ nay đã là bậc "chém đinh, chặt sắt" công phu cao dày nên quyết tâm theo trò để mau có ngày đắc "Pháp". Ngôi vị đà thay đổi, tiểu sư phụ nay có một Lão nạp cùng đi về sơn động. Đến nơi sau khi kể lể nguồn cơn thì nghe ông nhỏ bảo:

- Thụt ống bễ đi!

Lão nạp nhịn nhục thụt ống bễ liên tu. Sau đôi ba năm lại hỏi:

- Chừng nào tao có giấy đi Tây phương mậy?

- Cứ tiếp tục thụt ống bễ!

Thời gian dài trôi qua mà không thấy chi hết nên Lão "nạp" biết là trớt quớt, bèn rời động quay về Trường an nạp kim ngân rồi lãnh Pháp chỉ mà bay về Tây phương. Danh sư THĐ sau đó cũng đành bỏ pháp môn "trụ sơn" mà hạ thủy, đóng bè du Đông hải rồi lai đáo Tây ngưu hạ châu còn được gọi là Tân thế giái! Từ đây mỗi người một ngã, không biết bao giờ mới gặp lại nhau...

Jan 2000 - N1-T1:

... Ông Xa Nặc là người nửa đêm chở Thái tửSĩ Đạt Ta trên con ngựa Kiền Trắc ra khỏi thành Ca Tỳ La Vệ. Đi một đỗi tới cánh rừng thì Thái tử bảo dừng lại và cắt mớ tóc đưa cho Xa Nặc đem về Hoàng thành báo cho vua cha Tịnh Phạn Vương, Hoàng hậu Maya, và Công chúa Gia Du Đà La là Ngài đã quyết tâm xuất gia tìm thầy học đạo!

... Nhớ lộn, Bà má Maya sanh Thái tử thời gian ngắn sau thì mất, bà kế mẫu là người nuôi Thái tử nên người và là người Nữ đầu tiên trong Tăng già, mặc dầu trước đó Đức Phật đã từ chối không nhận mấy bà vô Tăng đoàn nhiều lần. Theo sách, thì lý do là Đức Phật nói Đạo của Ngài sẽ trường tồn lâu dài, nay vì bà kế mẫu quá chí thành, cộng thêm các ông anh em họ An Nan, Nan Đa năn nỉ nên Ngài chấp nhận, rồi nói bởi đó mà cái Đạo chỉ còn đúng chánh pháp trong khoảng 500 năm mà thôi, sau đó là Tượng pháp [hơi giống chánh pháp] rồi trở thành Mạt pháp. Nếu thật sự như vậy thì quả là không qua được ý Trời!

... Có bài thơ vần trắc của Học Lạc, từ trước tui không dám nói ra, nay nhơn lúc bàn về Tổ Lao Ái và đám ngựa của bà Võ Hậu, nên gởi quý Thầy cười chơi cuối tuần:

Ủa ủa giống chi trẹo

Ổ ồ chó mắc lẹo

Đực Vện chổng khu trì

Cái Vàng cong lưng kéo

Tám cẳng chồm hôm bơi

Hai cái đuôi xà nẹo

Con nít xúm lại coi

Tưởng gì, chó mắc lẹo!

Jan 2000 - H1-T1:

Trong suốt thời gian đi học, tôi thích nhất đọc truyện ngắn của Võ Phiến. Nhà văn đã được mệnh danh là viết "sợi tóc chẻ làm đôi". Thật sự thì trong truyện nào của Ông cũng có vụ "mần tình".

Trong thời kỳ kháng chiến, tại thành phố nghèo nàn Qui nhơn vào nửa khuya, đang thơ thẩn tự nhiên có một cô gái xuất hiện, y như truyện Liêu trai. Ông nghĩ rằng : chắc nàng đã thấy Ông hồi sáng thao thao bất tuyệt giữa rừng cờ và tiếng hoan hô nên đem lòng kính phục. Sáng sớm tiễn em ra cửa, em quay lại :

- Chắc em không có bầu được đâu nhỉ?

- Sao vậy?

- Em đói quá. Từ sáng hôm qua tới giờ không có một hột cơm vào bụng.

Thời gian ở Sài gòn quen được một cô mới ở dưới tỉnh lên. Trưa nắng nằm trên ghế gỗ bên cạnh cửa sổ nhìn ra trời oi ả, thấy cô này không gấp gáp nên Ông ta cứ nhẩn nha, chậm chậm thưởng thức.

Mới đây, trong cuốn "Truyện thật ngắn ", Ông ta tới thăm một anh bạn ở Cali. Anh bạn này không uống bia nên mỗi lần có khách là lại ra tiệm mua. Hôm đó anh đi tới ba lần lúc về anh kể:

- Lạ lắm, cả ba lần tôi đều đi ngược với một thằng bé chừng 9, 10 tuổi lúc qua đường. Tôi giật mình vì thằng bé đúng là tôi lúc nhỏ. Nó nhìn tôi cũng lạ lùng lắm, chắc là tôi cũng là nó sau này.

Câu truyện này có một cái gì liên hệ tới đôi câu đối ở Nhà Bè. Chẳng qua con người ta, căn cơ ít ỏi, nghiệp chướng chất chồng, nhìn mọi vật ở đâu cũng thấy cái ta (chấp ngã), vì cái nhìn hướng ngoại đó mà muốn leo núi tìm mây, tát nước vớt trăng, tất cả là hư dối, huyễn mộng, vô thường (vô minh).

Cái thằng bé qua đường thật sự là một thằng nhỏ á châu bình thường, lang thang trong xóm.

Nửa sau câu truyện là hai người ngồi nghe tiếng chim cu đều đều vô tận, có lúc tưởng nó ngay ở sau nhà, có lúc nó từ một nơi xa xăm nào vọng tới. Người ta có cảm tưởng tiếng chim cu là một cái gì không có liên hệ tới hình hài, vật chất, y như những tiếng chuông thu không buông vào không gian mênh mông bao tỏa. Phải chăng nó là linh hồn bất biến của chúng sinh?

Jan 2000 - T1-H1:

Võ Phiến là một "đại văn sĩ" của VN bây giờ [tôi không dùng chữ quá đáng đâu]. Năm nay VP 74 tuổi, bữa nào ổng chết thế nào cũng sẽ được xưng tụng là "văn hào". Cậu nói đúng, truyện nào của VP cũng có vụ "mần tình", tuy nhiên rất kín đáo, rất lãng mạn, rất phơn phớt, rất nhà quê,... Chuyện mấy ông nhà quê: Ông Bốn Thôi, ông Ba Thê Đồng Thời,... VP bây giờ vẫn giữ giọng nói nhà quê Bình định, không lai tí nào.

Tôi thích tùy bút của VP hơn. Ồng viết về đủ thứ lặt vặt, lỉnh kỉnh trong đời sống thường ngày. Cậu có nhớ cái đoạn ổng viết về cái áo dài không? Đại ý là "nhìn vào chiếc áo dài ở người nữ, sau khi liếc qua phần trên, đưa mắt xuống phần dưới thì chỉ thấy... gió".

Về truyện thật ngắn, VP cũng có nhiều truyện xuất sắc lắm. 

Jan 2000 - N1-T1:

Ngày mai Hăm Ba Tháng Chạp đưa Ông Táo, năm nay tháng thiếu nên 29 rồi qua Mùng Một Tết.

Hồi ở DBĐ, năm nào đêm Ba Mươi cũng chất một đống quà Xuân chạy vòng vòng các Trạm, chúc Tết mấy ông điều hành, tới đâu cũng bị ép... dzô! dzô!... vui quá. Tới giao thừa ở nhà ông già vợ, lên gác mở máy Motorola chúc các bạn làm ca đêm Trừ tịch. Tết Ất Mão 1975 tôi có nhắc tới câu đối xưa định viết dán ở cửa vô Saigon Sub chơi:

Chiều Ba Mươi nợ rối như tơ vò, co cẳng đạp thằng bần ra khỏi cửa,

Sáng Mùng Một rượu say túy lúy, đưa tay bồng ông phúc vào nhà.

Nhưng chực nhớ ông Phúc "Còi" nhà mình, và ông Hồ thanh Bần gác dan Trạm BĐ Hỏa xa, sợ đụng chạm nên thôi. May quá! Nếu không thì mấy tháng sau sập tiệm, chắc là sẽ bị "giai cấp công nhân" đấu tố chết bà luôn!

Một kỷ niệm khác, trong một cái Tết sau ngày Phỏng D... về quê đêm giao thừa vặn đài BBC chợt nghe lời chúc Tết các bạn Điện Lực còn ở quê nhà của ông Trần Nhiệt Điện từ Huê Kỳ thật bất ngờ. Sau nầy đọc Bản Tin mới biết là TTL đệ tử của Thầy LDT... Mới đó mà đã mấy chục năm trôi qua.

Jan 2000 - T1-N1:

... Lời chúc Tết năm xưa trên đài BBC là của TH Trần Văn Long [đã mất năm 1994] chứ không phải Trần Thanh Long. Hình như là Tết đầu năm 1984 thì phải. Lúc đó đài BBC mở cuộc tuyển lựa, TVL nhà mình thì nhiều năm không đi làm, có nhiều thì giờ theo dõi tin tức, cũng có tấm lòng rất tốt với bạn bè, thích họp mặt đấu láo, ...

TVL có nói chuyện với tôi và hỏi ý kiến trước khi nạp đơn cho BBC. TVL định làm luôn cho AHCC, nhưng bên AHCC từ chối. Ai ngờ TVL được BBC quyết định chọn, giống như trúng số. TVL báo tin cho tôi nhưng tôi không bắt được đài BBC thành ra không có nghe. Đối với cuộc sống rất ư vất vả của TVL lúc đó, vụ đọc lời chúc Tết trên đài BBC này giống như trúng số. TVL sung sướng và hãnh diện lắm. Tôi cũng thấy vui cho TVL.

Bạn nào có còn nhớ cái hoàn cảnh và cảm giác của mình lúc nghe lời chúc Tết trên đài BBC đó thì xin viết lại cho anh em đọc chơi.

Jan 2000 - T2-T1:

Hôm TVL chúc Tết 1984 (bần tăng thoát cuối năm 84), bần tăng còn ở Sài gòn : mặc dù tiếng có bị parasites chút đỉnh nhưng thật cảm động. Hầu hết các bạn cũ ở tù về, mong ngóng thoát khỏi ngục tù CS đều đã có cái may mắn nghe lời chúc đó.

... Dù sao hành động may mắn được chúc Tết cho những người chưa được cái may mắn thở cái không khí Tự do cũng là một hành động tốt đáng ghi vào lịch sử "Những năm hoạn nạn của đất nước".

Feb 2000 - N1-T1:

Có cái khi chưa được thì mong cho được, gần được thì lại hoảng.

Trước Tết Giáp Tý 1984 có Giấy Xuất Cảnh, gia đình tôi về ăn Tết lần chót ở nhà quê. Bên ngọn đèn dầu trong bếp, ngồi cạnh bà má đang canh nồi bánh tét, tôi nghe đài BBC phát thanh: Con là Bảy... gởi lời chúc Tết anh em Công Ty Điện Lực... của anh TVL mà giựt mình, vui buồn lẫn lộn, buồn nhiều hơn vì nghĩ tới ngày mình sẽ đi biệt xứ như TVL. Hồi đó hễ đi Mỹ là coi như vĩnh biệt, sẽ không bao giờ được phép trở lại, phần tôi [và sau nầy nghe Thầy CN kể thì hoàn cảnh cũng vậy] tất cả cha mẹ anh em họ hàng gì cũng đều còn ở lại hết, chỉ một mình ra đi với vợ con mà thôi.

Qua tới Tết 1985, còn mấy ngày nữa là lên máy bay thì càng quýnh hơn, vì thấy sợi dây buộc mình với cha mẹ anh em, quê hương xứ sở sắp đứt rồi, biết đến bao giờ mới nối lại. Đêm cuối cùng tại VN tôi thức suốt đêm không ngủ được, cứ đi đi lại lại mà niệm kinh liên tục cho quên buồn. Coi kinh sách nói cái gì cũng giả tạm, mà sao cái tình của mình với người thân yêu, đất nước ông bà không sao nguôi ngoai được. Truyện do Vương Dương Minh [bậc đại hiền của Tàu] kể là ông đến cái cốc của một ông Thầy, sau khi luận bàn về đạo pháp thì VDM nói đến cái tình nghĩa công ơn của cha mẹ, nói một hồi thì ông Thầy chảy nước mắt ròng ròng. Mấy hôm sau trở lại để bàn tiếp thì Thầy đã dông về nhà rồi.

Nho gia có nói:

Dục tu thiên đạo, tiên tu nhơn đạo

Nhơn đạo bất tu, thiên đạo viễn hỷ!

Feb 2000 -T1-H1:

Tôi mới vào xem web về Văn học VN: "http://thanglong.ecc.jhu.edu/vhvn.html", và thấy có bài Khúc Giang của Đỗ Phủ và bản dịch của Tản Đà. Xin chép lại dưới đây để quý Thầy đọc lại và giữ làm tài liệu. Bản chữ Hán này có vài chữ khác với bản của Thầy CH ghi lại trong email Jan 5, 2000.

Khúc Giang

Triều hồi nhật nhật điển xuân y

Mỗi nhật giang đầu tận túy quy

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu

Nhân sinh thất thập cổ lai hi

Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện

Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi

Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển

Tạm thời tương tống mạc tương vi.

Bản dịch của Tản Đà:

Khỏi bệ vua ra cố áo hoài

Bến sông say khướt, tối lần mai

Nợ tiền mua rượu đâu không thế?

Sống bảy mươi năm đã mấy người?

Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn

Chuồn chuồn rỡn nước lửng lơ chơi

Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi

Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài.

Feb 2000 -N1-T1:

Hơn 2 ngàn năm trước, các bậc Tiền Hiền đã nói về Lễ và Nhạc một cách trịnh trọng ở 2 bộ trong 5 bộ Kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch.

Leã là hình thức bề ngoài để tỏ sự tôn kính trong lòng, nói vắn tắt là KÍNH. Nhạc là diễn tả cảm tình của con người với thiên nhiên và giữa con người với nhau, tức là HÒA. Lễ là khuôn khổ, lý trí, giới luật, v.v... Nếu đời người chỉ có mấy cái nầy thì khô khan quá, ai thấy cũng ớn mà né cho nên phải cần đến Nhạc để có sự hài hòa, thương yêu, từ bi hỉ xả, nói nôm na là cái chất "keo" dán quý Thầy Cô lại với nhau cho tới trăm năm dù rằng đã trở thành "tu keo".

Nhưng Kính thái quá thì xa cách, mà Hòa quá mức thì khinh lờn, trật tự rối loạn. Pháp luật trị nước nghiêm quá thì dân tàn, khoan quá thì dân lờn.

Bất cứ sinh hoạt gì trong cuộc sống kể cả việc tu học cũng vậy, khi còn mang xác thân là còn phải dung hòa giữa lý trí và tình cảm, điều hòa cái chất đạo sĩ và nghệsĩ của mình. Suy rộng ra đến sự tiến hóa của càn khôn vũ trụ thì cũng không ngoài 2 cái nguyên tắc Lễ Nhạc nầy.

... Tới cái tuổi "răng rụng xuống cầu", đọc bài Khúc Giang của Đỗ Phủ rất hay, có điều bản dịch của Tản Đà quá thoát, nếu không đọc bản chữ Nho thì hơi khó hiểu, nên tui xin nhái theo mà làm cho rõ và sát nghĩa theo nguyên bản của tác giả.

Áo xuân thường nhựt, lúc xong chầu

Đầu sông mỗi bữa "quắc cần câu"

Nợ rượu? chuyện thường, đâu cũng vậy

Bảy chục xưa nay được mấy đầu?

Trùng trùng bướm hiện xuyên hoa lá

Thỉnh thoảng chuồn chuồn mặt nước bâu

Nhắn cùng người cảnh thường thay đổi

Tạm hưởng xuân đi, kẻo nữa rầu!

Feb 2000 -H1-T1:

Phùng Quán đọc Đỗ Phủ:

Đỗ Phủ tự Từ Mỹ

Thường xưng già Thiếu Lăng

Sinh ở miền đất Củng

Cách ta hơn ngàn năm

Thơ viết chừng vạn trang

Chín ngàn trang thất lạc

Người đời sau thu nhặt

Còn được hơn nghìn bài

Chỉ hơn nghìn bài thôi

Nỗi đau đã Thái Sơn

...

Thơ ai như thơ Ông

Mỗi chữ đều như róc

Từ xương thịt cuộc đời

Từ bi thương phẫn uất!

Giữa tuyết trong đò con

Đỗ Phủ nằm chết đói

Đắp mặt áo bông sờn

Kéo hoài không kín gối

Ngàn năm nay sông Tương

Sóng còn nức nở mãi

Khóc chuyện áo bông sờn ...

Mar 2000 -N1-T1:

Cuốn sách tôi tìm được là Manual of Zen Buđhism của DT Suzuki giá US$12, trong đó có các bài kinh Nhật Tụng và mấy Pháp ngữ / Tiểu sử vài thiền sư Hoa Nhật. Phần cuối có bộ tranh Chăn Trâu Thiền Tông trên lụa rất đẹp chưa thấy ở sách nào khác có in, cùng lời bàn tương tự như quyển mà Thầy CN gởi cho anh em. Bộ tranh Đại Thừa thì chỉ có hình và bài kệ đại khái như tôi đã viết, không có lời bàn chi hết.

Tôi nghĩ có lẽ ai cũng "chê" Đại Thừa không bằng Thiền Tông nên không có các lời bàn cho bộ tranh nầy. Đúng ra quyển nầy gần như là Kinh Nhật Tụng. 

Mar 2000 -N1-T1:

Thầy nhắc khiến lòng tôi bồi hồi nhớ lại bài "Những ngày xưa thân ái" có câu:... uống nước dừa hay nước mắt quê hương?

Hồi Thầy F. lùi về bên ngoại ở HBT, thế sự nhiễu nhương, quý Thầy bận rộn vụ 9 tuần vô ra quân trường nên không có chó bắt mèo ăn c..., tôi lãnh luôn đám hũ chìm Đường Dây. Hễ có sửa chữa là có chuyện trước cúng sau ăn, bận gì mấy cũng phải tới để "phá mồi", món "nước mắt quê hương" chỉ liếm láp chút đỉnh mà thôi. Vả lại lúc đó còn ở chùa, nên các cha cũng châm chế, chiều về mà hơi rượu nực nồng thì làm sao dám vô cửa. Có một lần trưa thứ bảy cúng lớn tại Saigon Sub, các trạm địa phương cùng dân tại chỗ tụ lại 7-8 chục mạng mà cứ vị tình mỗi người, chỉ "thấm giọng" thôi cũng đã quắc cần câu, phải nằm luôn ở đó suốt đêm, trưa hôm sau lai tỉnh mới dám mò về hậu liêu... Ông Thầy trụ trì hỏi dò Cậu KS hôm qua chắc bận công tác nên không thấy về! ...

Sau ngày Phỏng D... vô làm cho anh Sáu K. mấy lần nhậu "giao tế" vả cũng biểu tiếp sức dùm. Có một lần cả đám mặt mày đỏ ké như mặt trời, trong tiệm vừa bước ra thì một thằng cô hồn chạy ngang xớt cái đồng hồ Rolex của anh Sáu. 

Vả vừa tri hô thì Thầy PC bỏ dép đuổi theo bén gót, đám còn lại biết là làm sao chạy nổi nhưng cũng cứ rượt cầm chừng, chớ chẳng lẽ... "ăn thì có ó thì không", coi sao được.

Chừng mươi giây sau Thầy PC có lẽ đã "thấm", cặp giò đang chạy tới thấy bắt đầu "muốn" chạy ngang nên từ từ dừng lại. Đại ca Th. bình luận: tướng Thầy PC tuy thấy tròn trịa mà biểu diễn màn "tốc bôn trì" thật gọn gàng đẹp lắm à!

... Tuần rồi coi say mê chương trình CNN Lary King Live đã dành nguyên 1 giờ phỏng vấn Dr. Deepak Chopra, người được báo Time sắp trong danh sách 100 icons lừng danh nhất của thế kỷ, cuốn How To Know God mới vừa xuất bản của ông đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma và các tên tuổi lừng lẫy khác ca tụng là một trong những cuốn hay nhất từ trước tời nay. Tôi đã có đọc một số sách khác của ông nầy và thấy đây quả là một bực thánh nhân.

Quý Thầy vô tiệm sách coi thử xem sao [sách bìa cứng giá ở tiệm US$24, mua ở Sam's Club US$14, bán chạy như tôm tươi]. Từ lâu tôi đã có ý muốn [lạm] bàn về đề tài nầy với quý Thầy như ng chưa dám. Nay đọc được cuốn nầy thì như gặp bạn cố tri, nên khi rảnh sẽ lai rai cùng quý Thầy cho vui, nếu quý Thầy đồng ý.

Mar 2000 -N1-T1:

Thường khi bà xã đi tới mấy cái shopping center là tôi tấp vô các tiệm sách lớn đọc sách "cọp", có nhiều bàn ghế salon hẳn hòi, đám học trò đọc và lấy notes, ăn dầm nằm dề trong đó coi như là thư viện của trường vậy! Sách vở tài liệu về bệnh tim vô số, tôi tạm tóm tắt các điều còn nhớ như sau:

- If you don't attack your heart, your heart will attack you: Không nằm nếu ngồi được, không ngồi nếu đứng được, không đứng nếu đi được, không đi nếu chạy được,...

- Oxygen, oxygen and oxygen: Nhớ thường xuyên thở thật sâu, hít vô tới lúc không hít nổi nữa thì thở ra cho tới khi muốn đứt hơi đỏ mặt tía tai thì lại hít vô như trước. Đạo gia gọi là đem tiên thiên khí vô và trục tà khí ra.

Đọc lại bí kíp về dưỡng sinh của Thầy HVP trong bản tin THĐL mấy năm trước và... "thực hành"! Chánh phủ Mỹ [cơ quan Food & Drug Administration] vừa chính thức chấp nhận trả tiền trị bệnh tim qua cách ăn uống, thay cho giải phẫu, vừa ít tốn vừa an toàn và giữ được kết quả lâu dài [nếu... bệnh nhân chịu tiếp tục]. Tài liệu mới cho biết ăn nhiều bột cũng không tốt vì sẽ tăng chất mỡ Triglyceride trong máu, người ăn chay hay bị cái nầy.

- Fish oil & Aspirin: Nên uống mỗi ngày. Đau bao tử không nên uống Aspirin, người thường chỉ cần 1 viên mỗi ngày, để tránh hại nên chia làm hai, sáng 1/2 chiều 1/2 uống liền sau mỗi bữa ăn, nhớ nhai nhuyễn trước khi nuốt để tránh nồng độ quá cao khi thuốc tiếp xúc với bao tử.

- Nhớ 3 chữ F: Cho thân thể thì: Fish, Fruit, Fiber. Về tinh thần tâm linh khi ứng phó với cuộc đời: Fix, Forgive and Forget! Còn chữ F thứ tư, thỉnh thoảng FYI [ F... You Idiot] để xả bớt bực bội cũng không sao.

- Take it easy: Đây là "Trại cải tạo Long thành", mãn lớp rồi thì về với má đang đợi ở nhà. Tụi bây có giành giựt chỗ ngồi chỗ nằm, quên tình nghĩa ruột thịt, hùa với quản giáo ăn hiếp tao thì liệu mà trả lời với bả lúc trở về....

Apr 2000 -N1-T1:

Cái email nầy của Thầy CN giống như củ khoai "môn"...[xin chớ thêm chữ "lù"] làm ngứa cái lỗ... miệng, cho nên phải lắm mồm:

Những hiện tượng mà mình thấy, tiếp xúc với người, sự vật trong khoảng thời gian nào đó, có liên hệ tới vô số người vật, bề mặt lẫn bề trái từ bá thiên vạn kiếp, cho nên đánh giá người theo cái mình đã và đang thấy cũng tương tự như coi 2, 3 cái frames mà đánh giá hết cuộn movie dài vô tận.

Người dù xấu mấy rồi cũng thành Phật mà! Có điều là chừng nào? Cái nầy thì tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Tôi lại có cái hiểu hơi "xuyên tạc" về con người như sau: Mỗi người là một Như lai viên giác cảnh giới, muốn hiểu trọn vẹn [Viên Giác] thì trong Kinh có câu: 

Dĩ tư duy tâm trắc đạt Như Lai viên giác cảnh giới, như dĩ huỳnh hỏa nhiệt Tu Di sơn: Chung bất năng đắc.

[Xin sám hối vì cắt nghĩa "xuyên tạc" như sau: Lấy cái lỗ tai nghe chính "người nầy" nói, hay nghe người khác kể lại, hoặc mắt thấy trong khoảnh khắc nào đó mà đo lường đánh giá "toàn bộ con người nầy", cũng như lấy lửa đom đóm mà đốt núi Tu Di, rốt cuộc không bao giờ hiểu thấu hết.]

Nói nôm na đi làm về, bước vô nhà thấy cứt đái tùm lum, thúi rùm cả nhà thì sân si nổi lên rần rần. Nhưng coi tờ giấy ghi trên bàn là cả nhà đã vô nhà thương cùng với người bệnh đang nằm ở Phòng Cấp Cứu không biết sống thác ra sao, thì mình hiểu được "vì đâu nên nỗi" và cái sân si đó lập tức đổi thành đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn liền.

Nói như vậy không phải là khoái hưởi cứt, hốt cứt hoặc đổ bô, tuy nhiên nếu mình chưa đạt tới mức coi cả thế gian là MỘT, là anh em ruột thịt một nhà, người thì bịnh nầy, người bị bịnh kia, thì mình nên làm theo kiểu của Thầy CN:

"Thôi thì cũng giống như chơi với bạn, lựa những phần hợp nhau mà chơi, chỗ nào không hợp thì... "wa-ta-shi né"! Để tránh đổ vỡ, tránh hận thù, tránh hiềm khích, tránh "chiến tranh", và đạt đến "thân tâm thường lạc". Phật dạy như vậy!"

Apr 2000 -N1-T1:

Mới nhớ lại có coi video trích đoạn Đức Đại Lai Lạt Ma thuyết pháp về Từ Bi tại trường CU ở Boulder, có nói là thực hành compassion với chính mình và gia đình rồi tới hàng xóm, Ngài diễu là phải coi chừng để bỏ chạy nếu thằng cha neighbor hiểu lầm cái compassion của mình mà trả đũa lại, cả hội trường cười nghiêng ngửa. Tôi rất khoái tiếng cười và nét mặt lúc Ngài cười, dòn dã, rạng rỡ hồn nhiên y như là tiếng cười của trẻ con lúc vui đùa. Theo thăm dò thì dân Mỹ già trẻ bất kể tôn giáo đều thích lúc Ngài cười. 

Có mấy đại ban nhạc Rock, coi bộ xì ke ma túy cùng mình, khi được phỏng vấn cũng chịu tiếng cười hoan hỷ đó lắm. Họ đi trình diễn đóng góp rất lớn vào quỹ cứu người Tây Tạng tị nạn.

Apr 2000 -B1-N1:

Nghe HT kể lại chuyện xưa :

Chệnh lòng tôi nhớ Phú lâm,

Những ngày đen tối chửi thầm thằng ngu

Ngu ơi ngu hỡi là ngu

Đưa đường dẫn lối như mù đi đêm.

Đó là chuyện xưa. Còn chuyện nay (hôm nay, NASDAQ) là như vầy :

Thân nầy vốn chẳng bao nhiêu,

Thị trường chứng khoán có nhiều rủi ro,

Hôm nay vỡ mộng tò vò,

Ong nầy hết nhụy, bò hòn lại chua.

Apr 2000 -N1-T1:

Mình đến với một thân thể trần truồng, khi ra đi có thêm chút đỉnh quần áo tạm trong vài bữa trước khi xuống lỗ hoặc vô lò thiêu, sau đó thì cùng con trâu đen, trâu trắng hoặc không trâu mà về nhà xưa! Cái giấc mộng hằng đêm hay giấc mộng 7, 8 chục năm cũng đều là giấc chiêm bao. Nói dễ làm khó, cho nên xin nói ra đây cũng là để cảnh tỉnh chính bản thân tôi mà thôi.

Còn cái vụ: "khi về tui trị không lại" khiến nhớ lại chuyện hồi còn nhỏ ở dưới quê bảo đảm có thật :

Chuyện 1:

Ông "thầy" cầm cây roi đứng ở bờ bên kia con rạch, vừa thở hào hển vừa chõ miệng thách đố bà thầy đang ở bờ bên nầy: Mầy giỏi mầy qua đây? Mầy giỏi mầy qua đây! Bà thầy vừa nhảy ùm xuống rạch định lội qua, thì bên kia ông Thầy quăng cây roi, co giò chạy mất!

Chuyện 2:

Một ông thầy khác, bữa nọ trong nhà đóng kín cửa, con nít nghe cứ sau mấy tiếng ạch đụi là tiếng ổng hét lên: Mầy chết mầy chưa? Bà con lối xóm la lên Bữa nay thằng Hai nó đánh chết vợ nó rồi, coi chừng mắc nhơn mạng! Chừng dòm vô kẹt vách ván thấy Bà thầy ngồi trên bụng ông Thầy mà thoi lia chia. Cứ mỗi lần ông Thầy ăn thoi thì nghe ổng la: Mầy chết mầy chưa? Mầy chết mầy chưa?! Để phen nầy tao trị cho mầy biết tay tao!...

May 2000 - N1-T1:

Mới nhớ trong cuốn How To Know God, tác giả là Bác sĩ có kể một ông tới than bị mất sức trầm trọng, gần như không làm nổi việc gì nữa. Ông bác sĩ làm cuộc thử nghiệm toàn diện, không thấy điều chi bất thường, hỏi han thêm thì ra đây là tay xếp lớn về hưu nên mới biểu ông nầy ngồi yên nhắm mắt để đó. Sau 10 phút thì Bác sĩ biểu mở mắt ra rồi hỏi ông thấy sao? Cha nầy trả lời "thiệt là muốn phát khùng" và nhảy ra khỏi ghế! Bác sĩ mới nói đại ý là hồi nào tới giờ ông nầy sống trọn đời cực kỳ lăng xăng, bận rộn với ngoại cảnh, nay cái bận rộn căng thẳng đó không còn nữa nên đầu óc bị ... khủng hoảng! Sau đó tác giả chỉ cho ông ta bắt đầu cuộc sống về nội tâm, v.v...

Theo thống kê về đời sống của các tay xếp lớn lúc làm việc chuyên đối phó với các khủng hoảng, thì sau khi về hưu 5, 6 năm là trở về với cát bụi. Chợt nhớ tới lời ông Thầy F. nói trước đây: Làm giàu cho cố sát tưởng là tới già sẽ hưởng, mà có còn sức đâu để mà hưởng. Tâm thần thể xác suy sụp, rốt cuộc "Của Tào đổ Âm Ty", hai tay bắt chuồn chuồn rồi nhắm mắt đi luôn dắt theo "con trâu" hung bạo đen thui mà về Âm Cảnh. Bên Ấn Độ có truyền thống chia cuộc đời con người làm 4 giai đoạn: 20 năm đầu vui chơi, học hành; 20 năm kế: làm việc, lập gia đdình, phấn đấu với đời nhưng cũng bắt đầu hướng về nội tâm; 20 năm kế tiếp: nửa đời nửa đạo; và khoảng đời còn lại dành trọn cho tâm linh.

Xin tặng quý Thầy một đoạn trong bài thơ xưa theo thể văn Động Đình Hồ:

Đời hằng đổi, nước non không đổi

Giữ nhơn luân làm mối Đạo truyền

Mãng lo lộc cả cao quyền

Đem thân trần cấu gieo miền trầm luân

Biệt cành lá rụng đầy rừng

Con thuyền Bát Nhã lỡ chừng độ duyên....

May 2000 - H1-N1:

Cái nguy thiếu Stress của mấy tay làm việc căng thẳng bỗng nhiên ngừng ngang rất nguy hiểm, trong sở tôi làm có một tay về hưu được hai năm về trại ở quê ở thì bị xuất huyết não.Bác sĩ cũng nói là tại thiếu stress. Nên dạy cho chúng tập thiền.

Còn mấy tay làm bộ căng thẳng để hù đàn em thì vẫn sống lâu và trẻ mãi.

Sau khi Ngài Huệ Khả được Tổ Bồ đề đạt ma (Bodhidharma) nhận làm đệ tử mà lòng vẫn còn thao thức, tại sao tâm mãi lăng xăng trong lúc ngồi thiền. Một hôm đến trước Tổ Ngài bạch: "Bạch Hòa thượng, tâm con chẳng an, xin HT dạy con pháp an tâm". Tổ Đạt ma nhìn thẳng, bảo: "Đem tâm ra ta an cho". Ngài sững sốt quay lại tìm tâm, không thấy bóng dáng, bạch Tổ: "Con tìm tâm không được." Tổ bảo: "Ta an tâm cho ngươi rồi". Ngay đấy Ngài Huệ Khả biết được đường vào...

May 2000 - N1-H1:

Chính cái nỗi nhức nhối đó mà tui đành để cho ông bà già thà xa mình mà còn được gần gũi quê hương con cháu, bà con xóm giềng... Thôi thì tại số phần như vậy, biết sao bây giờ. Nỗi ước mong là sau khi ổn định công việc, sẽ về thăm quê nhà thường hơn, nhưng lại nghĩ tới lúc chia tay ai nấy rưng rưng mà thảm sầu trong dạ. Còn nếu đợi tới lúc về hưu để có thể về quê hương ở lâu đài thì e rằng quá muộn, như Thầy Tử Lộ hồi còn cơ hàn đội gạo nuôi mẹ, đến khi được làm quan thì mẹ đà khuất bóng, Thầy khóc than thống thiết ước rằng thà đội gạo cực khổ mà mẹ con còn hôm sớm có nhau, chớ nay mới bắt đầu được miếng đỉnh chung thì chỉ có một mình.

Có 2 câu được lưu truyền như sau:

Thọ dục tĩnh nhi phong bất tức

Tử dục dưỡng nhi thân bất tại

[Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng

Con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn.]

Jun 2000 - H1-T1:

Các thân hữu nào thích nhạc cũng phải nhớ tới cặp bài trùng Khánh Ly và Lệ Thu, song ca hai bè bài Tiếng sáo thiên thai do Phạm Duy phổ theo bài thơ Tống biệt của Tản Đà :

Êm êm ôi tiếng sáo tơ tình, xinh như bóng xiêm đình, trên không uốn thân hình...

Ai đã từng nghe đều thở dài... quá hay.

Căn cứ vào sách Thần tiên truyện, đời Hán, tiết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5) hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên thai tỉnh Chiết giang hái thuốc, gặp hai tiên nữ, kết duyên vợ chồng. Được nửa năm, hai chàng nhớ nhà đòi về. Hai nàng lưu lại không được, đưa tiễn xuống núi. Hai chàng về đến làng, chẳng còn ai nhận ra, chỉ còn người cháu bảy đời nói rằng có cụ tổ lâu đời vào núi hái thuốc không trở về. Hai chàng bơ vơ muốn trở lại Thiên thai nhưng không nhớ đường, sau biệt tích.

Một trong năm bài thơ của Tào Đường (Đường thi) đây là bài Thiên thai tống biệt :

Ân cần tương tống xuất thiên thai

Tiên cảnh na năng khước tái lai

Vân dịch ký quy tu cưỡng ẩm

Ngọc thư vô sự mạc tần khai

Hoa lưu động khẩu ưng trường tại

Thủy đáo nhân gian định bất hồi

Trù trướng khê đầu tòng thử biệt

Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài.

Tản Đà dịch :

... Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi

Trời đất từ nay xa cách mãi

Lá đào rơi rắc lối Thiên thai

Ngàn năm thơ thẩn ánh trăng soi.

Trong cuốn Thần tháp rùa của Vũ khắc Khoan có kể là, một hôm chàng họ Lưu (cỡ TH Sắc) dụ được cô tiên nữ xuống suối tắm. Trăm phần trăm, anh ta làm đủ cách mà cô kia không hiểu gì hết, cũng không nhột, lúc nào cũng "off ". Hai chàng đòi về.

Tác giả kết luận : Nơi Thiên đường chẳng có gì lý thú cả vì con người đã bị phân cực (nhuộm đỏ).

Jun 2000 - N1-H1:

Thầy CH làm tui nhớ lại lúc gần bỏ xứ ra đi, vợ chồng tui được mời tới nhà cặp họa sĩ Bé Ký & Hồ Thành Đức dự tiệc đãi một anh bạn của cặp họa sĩ nầy. Anh đó là bậc trí thức đã sống ở Pháp, rồi hồi hương về VN để xây dựng đất nước, giờ lại muốn tìm đường ra đi. Khi biết tụi tui sắp được đi Mỹ anh bèn vừa hát vừa đàn bài Thiên thai, kế đến ngâm thơ Tống biệt của Tản Đà, kể chuyện Lưu Thần Nguyễn Triệu mà ngụ ý đến hoàn cảnh của anh hiện nay: Vì lòng yêu mến quê hương nên trở về trần, nhưng trần gian XHCN thì... anh không thế nào hội nhập được nữa rồi. Tìm đường trở lại Thiên thai chỉ thấy bóng trăng ẩn hiện trong màn sương phủ đầu non... Bữa đó tôi thấy anh ấy rớt nước mắt và nhậu quắc cần câu.

Trở lại nhạc xưa, nhớ lại hồi 7, 8 tuổi học đờn mandolin, tập các bài của Văn Cao và Phạm Duy mà đã thấy nhạc và lời hay quá là hay: Văn Cao có Thiên thai thì Phạm Duy có Tiếng sáo Thiên thai [phổ theo ý thơ của Thế Lữ], Văn Cao có Trương Chi thì Phạm Duy có Khối Tình Trương Chi, đều là các tuyệt tác phẩm mà đến bây giờ mỗi khi xem đi xem lại video tôi đều thấy "xuất thần nhập diệu". Khoảng 1955-56 có phim Khối Tình Đến Thác Chưa Tan, Kỳ nữ Kim Cương đóng vai Mî Nương, Ngọc Nữ Trang Thiên Kim vai một thôn nữ có mối tình câm vì anh Trương Chi... Đoạn kết lúc Mî Nương rót trà vào chén ngọc thì bóng thuyền Trương Chi thổi sáo hiện lên kèm theo lời ca tiếng nhạc đệm văng vẳng bài Khối Tình Trương Chi của Phạm Duy, thì khán giả đều rơi nước mắt...

Mấy năm trước có đọc tin "Ngọc nữ" Trang Thiên Kim giờ đã là một Sư Bà tu ở một ngôi chùa nhỏ tại Thủ Đức, cuộc sống rất lam lũ đạm bạc:

Mùi Thiền đã bén muối dưa

Màu Thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng

Sự đời đã tắt lửa lòng

Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi

Aug 2000 - H1-T1:

Sau 45 năm trở lại làng cũ, nay thấy bài thơ của Lý Bạch hay hay nhờ các thầy dịch giúp :

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi

Hương âm vô cải minh mao tồi

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn khách tùng hà xứ lai?

Bỏ nhà lúc nhỏ lão trở về

Tiếng thì không đổi mặt mày sa

Lũ nhỏ cùng nhìn không biết được

Cười cười hỏi khách ở đâu qua!

Aug 2000 - N1-H1:

Saün đây xin nhắc lại bài thơ xưa còn nhớ lõm bõm:

Bất hướng cố hương cửu

Tường vi kỹ độ hoa

Bạch vân hoàn tự tán

Minh nguyệt lạc thùy gia?

Quê xưa xa cách bao xuân

Khóm tường vi đã mấy lần nở hoa

Mây xưa hẳn vẫn bay xa

Trăng xưa biết rụng xuống nhà ai nao?

Chợt nhớ đến 2 câu tả tâm trạng đồng bào miền Bắc nhớ đến quê cũ trong dịp Xuân về:

Hỡi ôi phương Bắc xa xôi ấy

Đào nở hay là đợi cố nhân?

BHNT1T2