Thơ Gởi Về Miệt Vườn

Thơ của Sáu Nhà Ðèn


Anh Năm ấp Tịnh Hưng thân mến,
Mấy cái thơ Xuân năm trước anh Năm gởi lời chúc Tết từ quê hương, tui có đem khoe với bà con Nhà Ðèn bên nầy, họ thấy được quá nên cho "chạy nhựt trình" để các bà con khác coi chơi. Rồi tui nghĩ bụng, mình cũng phải có mấy lời bàn để đáp lại anh Năm chớ. Ở Miệt Vườn hồi xưa đời sống thảnh thơi "trên cơm dưới cá" nhậu nhẹt lia chia. Hễ nhậu mà cứ làm thinh thì bị coi là "phá mồi" cho nên lần nầy tui phải mở cái cửa miệng nhào vô: "Tiền đáo tiền tọa, hậu đáo hậu tọa", gọi là đáp lại tấm lòng của anh Năm ở bên nhà.

Năm nay gia đình tui ăn cái Tết đầu tiên tại Cali rất thú vị. Mấy ngày cuối năm cũ và đầu năm mới chợ bông chợ Tết tưng bừng. Trong hội chợ có một ông bận áo dài lương, đội khăn đống ngồi xếp bằng bên chậu kiểng treo câu đối đỏ, tay thủ sẵn cây viết lông để làm cảnh chụp hình chung với khách qua đường nào muốn trở về tìm:

Người của muôn năm cũ,

Hồn ở đâu bây giờ?

Mấy chục cái loa phóng thanh từ các gian hàng quảng cáo ca kệ theo kiểu kêu lô tô: Bớ bà con ơi, mau tay thì còn, mà chậm tay thì ... cũng còn! Tiếp theo là tiếng cười ré lên khiến tui nhớ lúc anh Năm lên Sài gòn anh em mình cùng đi coi hội Tết tại chợ Bến Thành thuở xưa. Ðiều ngộ nghĩnh là có mấy cựu sĩ quan Biệt động quân, Quân Cảnh Việt và Mỹ quân phục chỉnh tề bên xe Jeep với súng trường súng máy đã lôi cuốn đám Mỹ gốc Việt, con nít ông già tới hỏi han và chụp hình chung. 

Trong nhóm bận đồ nhà binh đó có một bác sĩ quân y ở tù mút chỉ, vượt biên qua Mỹ học lại rồi mở phòng mạch tại khu nhà nghèo, giá cả rất là bình dân để giúp mọi người. Người Việt hay người Mễ, Mỹ đen gì không cần biết, nghèo không tiền mua thuốc thì ổng cho, không có bảo hiểm sức khỏe không tiền trả khám bệnh cũng không sao. Ông nầy được biết đến vì vụ má con một anh tù cải tạo vượt biên qua Mỹ. Hai má con sống rất hẩm hiu. Bữa nọ bà má vô nhà thương không biết do nhà thương bất cẩn ra sao mà bả chết, ông con là người chí hiếu quá thương mẹ, quẫn trí làm càng, xách súng bắn chết và bị thương mấy nhân viên nhà thương. Trong tù ông con gởi thơ ra nhờ bác sĩ tống táng bà má giùm và ông bác sĩ đã đứng ra lo liệu mọi sự . Phần ông bác sĩ thì phòng mạch chỉ mở cửa mấy giờ cốt để đủ sống qua ngày, thời gian còn lại dành chơi với các cựu chiến hữu của ông. Nhà ông ở trong khu bình dân lao động, đi xe cũ, ăn mặc xềnh xoàng. Bữa đi hội chợ tui nom theo ông một lát rồi nghĩ bụng có lẽ đây là một bậc Bồ Tát lâm phàm.

Tui còn nghe nói có một ông bác sĩ khác, thường xuyên theo con đi sinh hoạt Hướng đạo, tiệc tùng gì ổng cũng là người tới sớm lo liệu mọi việc, luôn luôn là người chót nhập tiệc và dọn dẹp ra về sau cùng. Trong túi xách ổng thường thủ sẵn ống nghe, thấy bà con nghèo bịnh hoạn cần khám liền là ổng móc đồ nghề ra làm ngay tại chỗ viết toa thuốc cho luôn, không lấy tiền. Một lần cắm trại cả tuần trên núi, tới chiều cầu tiêu công cộng thì thường dơ mà ngày hôm sau lại sạch bóc, ai cũng khen là công viên giữ gìn vệ sinh tốt quá. Tới chừng có người thắc mắc đi rình, té ra ông bác sĩ đợi tới thật khuya lúc mọi người yên giấc, thì một mình âm thầm đi chùi rửa các nhà vệ sinh sạch sẽ như ở nhà. Thiệt đúng là các bực "vô danh vô ngôn" :

Biết coi thế giới như nhà

Sống nên Chí Thánh, thác là Thần Tiên

Trở lại vụ ăn Tết, qua ngày Thứ bảy mùng bốn Tết lần đầu tiên trong đời tui tham gia đoàn "Tân Niên Thập Tự Hành Hương" đi đãnh lễ Phật và vãn cãnh tại 10 chùa. Từ một tự viện nghe nói là vĩ đại và đẹp nhứt ở Mỹ đến ngôi chùa nghèo xơ xác, theo tui có lẽ là nghèo nhứt thế gian. Chánh điện và hậu liêu cộng lại cỡ hơn 2 buồng ngủ mà thôi, mái thì lụp sụp hư hoại, vách ván xiêu vẹo tróc sơn loang lỗ. Ðiều ngậm ngùi là chùa thờ Ðức Ðại Nhật Như Lai Tỳ Lô Giá Na tượng trưng Thực Tại Tuyệt Ðối, Trí Huệ Bát Nhã Viên Mãn, thường được coi là cội nguồn Pháp Thân của tất cả Chư Phật và Pháp Giới Chúng Sanh. Thầy trụ trì là vị trí huệ hoằng thâm, bữa đó Thầy đi vắng. Phải chăng đây cũng là một vị Bồ Tát thị hiện ở cõi thế gian, vì pháp quên mình, như câu chuyện tui nghe kể khi có một đệ tử than: Sao chùa mình quá đổ nát thì ông Thầy nói "Vậy là con chưa thấy chùa của Thầy!"

Trong số chùa đoàn hành hương tới, các chùa người Tàu có bề thế nhứt, đứng đầu là Chùa Tây Lai cách chỗ Nhà Ðèn tui làm khoảng 6, 7 cây số. Lần đầu tiên xe hành hương leo đồi lên cổng Tam quan tui thấy giựt mình vì cơ ngơi lớn quá : Nào Tiền đường, Chánh điện, Hậu liêu, Nhà Bảo tàng, Học xá, Vườn Thập Bát La Hán, Quan Âm Phật Viện ..., tọa lạc trên một ngọn đồi rộng mấy mẫu ngó xuống phong cảnh thật tuyệt vời. Toàn bộ công trình nghe nói tới cỡ mấy trăm triệu đô la Mỹ! 

Cổng Tam Quan đồ sộ mặt trước đề mấy chữ Nho: "Phật Quang Sơn, Tây Lai Tự", mặt sau có 4 chữ: "Phật Nhựt Tăng Huy" chắc là trích trong lời nguyện:

Phật Nhựt Tăng Huy

Pháp Luân Thường Chuyễn

Phong Ðiều Võ Thuận

Quốc Thới Dân An...

Sau Tiền đường, đi qua một sân rộng là tới Chánh điện đề 4 chữ "Ðại Hùng Bửu Ðiện". Trên bàn thờ cao ngất chỉ có 3 tượng thiệt lớn: bên trái là Ðức Phật A Di Ðà, giữa là Ðức Phật Thích Ca, và bên mặt là Ðức Phật Dược Sư. Tui thấy hơi khác hơn chùa ở dướI quê thờ Tam Tôn, thay vì Ðức Phật Dược Sư thì thờ Ðức Phật Di Lặc để biểu hiện Tam Tôn là tất cả Chư Phật thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Ngó quanh toàn bộ trên các vách ở Chánh điện thì đúng là Bá thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật, mỗi tượng Phật cao cỡ một tấc đặt trong một cái "khánh thờ" có ngọn đèn nhỏ chiếu ở phía sau, tất cả chạm trổ rất khéo. Lần đầu tui thấy bàng hoàng, nghĩ bụng không biết bao nhiêu công đức mới thành tựu được như vậy.

Trên đường tới chùa khác, một ông bạn ngồi bên có nhận xét là ngay cả "quốc độ" đất Phật, ý nói cảnh chùa mà khi hiện ra sắc tướng thì cũng không biết bao nhiêu là "giai cấp", từ nghèo xơ xác cho đến giàu muôn ức triệu, nhưng rốt cuộc chỉ có tấm lòng là đáng kể mà thôi.

Trong lúc ngồi xe trở về, bà con thay phiên nhau ca giúp vui, có nhiều tài danh "ca rô kê " hát rất hay, tới phiên một ông thầy trẻ, ổng không biết ca nên kể chuyện cho quên đường xa:

Có thằng con của một ông thợ mộc đi rước ông thầy danh tiếng nọ tới coi mạch hốt thuốc cho ông già của nó. Không biết trật vuột ra sao mà mới sắc thang thuốc xong, ông già uống nước nhứt vô thì chết thẳng cẳng. Tôi nghiệp nhà có 2 cha con nay chỉ còn một mình quạnh hiu, bữa đưa đám ba nó thằng nhỏ khóc thảm thiết, nhảy xuống huyệt đòi chết theo dù ông thầy đã hết lời khuyên lơn. Sau đó nó vừa khóc vừa làm bài thơ. Bài thơ chữ Nho mắc mỏ nên tui không nhớ, đại ý than thở trách móc, tại ông thầy mà nó không bao giờ còn gặp lại ba của nó. Nghe một lần ông thầy đã rêm, biết lỗi nên làm thinh. Mà cơ khổ thằng nhỏ cứ đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, nghe mà nhức mình nhức mẩy nên ổng đáp lại, cũng bằng thơ: Ðại khái là tao đã biết lỗi mà mầy cứ trách hoài về vụ không còn gặp được ông già. Thôi thì theo tao nghĩ cái nước nhì có cũng còn "phế " lắm, mầy cứ uống tiếp thì cha con sẽ được đoàn tụ! .. Trên xe ai nấy cười xòa, quên hết nạn kẹt xe.

Về tới chùa gốc chỗ xuất phát lúc sáng sớm tinh sương mà giờ trời đà tối mịt, ai nấy đều đói bụng. Ông Thầy trụ trì bữa đó ở nhà không theo đoàn được vì phải tiếp các đoàn hành hương khác. Thầy là ngườI rất bình dân vui tánh, bổn đạo tớI chùa khoái tranh ãnh gì treo trên vách là ổng biểu gỡ cho luôn: Cái thân nầy Tao còn cho được huống gì mấy món đó. Có mấy ngườI nghèo mớI từ VN qua không hiểu trục trặc giấy tờ ra sao mà không có tiền bảo trợ, rồI bị bịnh chết, ổng cho luôn hòm và lo tống táng không cần biết họ đạo gì. BởI vậy bổn đạo coi bộ đông mà chùa vẫn lụp xụp vì ông Thầy cứ mãi lo "cúng dường" ngược lại cho bá tánh! Bữa đoàn đi hành hương ông Thầy rất châu đáo đã cho nấu mấy nồi cháo thiệt lớn để chờ các đệ tử về. Ðã vậy khi nghe tiếng các xe vừa tới là Ông Thầy chạy ra lùa cả trăm bổn đạo vô hết sân chùa, còn hăm he: Ðứa nào về là Tao xì bánh xe! Bụng đói meo khát nước, trời lại lạnh mà làm tô cháo thập cẩm nóng, bỏ thêm rau ghém, chút tương ớt nặn chút chanh thì đúng "cực lạc là đây". Ai nấy "độ trai " lia chia 2, 3 tô mà vẫn còn ngon, ra về lòng thơ thới hân hoan sau một ngày du Xuân hành hương thập tự.

Nói tớI ông Thầy trụ trì hăm xả bánh xe nầy, tui trực nhớ ông Thầy cũng rất vui tánh ở xóm mình. Ổng là Thượng Tọa lâu đờI mà anh em mình cứ quen kêu là chú Sáu như hồi mình còn nhỏ. Có lần ổng vừa nói vừa cười hắc hắc: "Hễ ai tới cúng dường mà nói là cúng Phật thì tao để lo cho chùa, phần tao phải tự lo. Còn hễ nóI là cúng Tam Bảo thì tao nghĩ có phần tao trong đó!" Trước ngày bỏ xứ ra đi tui có ghé thăm, nghe ổng nói: "Mầy thấy đó, mấy chục năm cửa chùa rộng mở ngày đêm, cánh cửa cái tao còn không gắn vô khuôn. Còn bây giờ tới thời buổi "Mình vì mọi ngườI", chùa có cửa nẻo đầy đủ mà mỗi tối tao phải ôm mấy tượng Phật mạ vàng vô mùng, để ngoài là ăn trộm "thỉnh" liền!

Tới đây tui thấy chắc cũng dài dòng lắm rồi nên xin ngừng viết, gia đình tui gởi lời thăm gia đình anh Năm và tất cả thân quyến bà con xóm giềng bên nhà năm mới mần ăn nhứt bổn vạn lợi, mạnh giỏi vui vẻ bình yên "Tứ thời an lạc, Tứ thời Xuân".

Sáu Nhà Ðèn