Những Người
 Nhớ Mãi Không Quên
Bài của Tôn Thất Uẩn

LTS: TH Tôn Thất Uẩn thuộc hàng "thân hữu chiếu trên cùng", năm nay đã đạt tới "thượng thọ bát tuần", nguyên là Trung tá trong Quân lực VNCH, nguyên là Thượng nghị sĩ của chính phủ VNCH. Anh Uẩn đã là một sinh viên quân nhân, tốt nghiệp kỹ sư điện, khóa 3 (1963), tại trường Cao đẳng Ðiện học Phú Thọ, Sài Gòn. Sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, hiện nay anh Uẩn cùng gia đình định cư tại Luân đôn, Anh quốc. Năm 1996, anh viết bài hồi ký sau đây đăng trên Tạp chí Tiếng Sông Hương, xuất bản tại Dallas, Texas, Hoa kỳ, số đặc biệt kỷ niệm 100 năm trường Quốc học (1896-1996). Ðược sự chấp thuận của anh, chúng tôi xin phổ biến lại trên bản tin THÐL này để các thân hữu "xem lại cuộn phim" về một phần quê hương đất nước mình trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ vừa qua.


Nhờ lộc Trời sống đến cái tuổi "cổ lai hi", tôi quen biết, giao du, tiếp xúc với gần đủ hạng người, đủ mọi giới, nhưng những lúc ngồi buồn nghĩ vẩn nghĩ vơ hoặc những đêm dài trằn trọc không tìm được giấc ngủ, sực nhớ đến những chuyện xa xưa, tôi thường liên tưởng đến những người có mối liên hệ với tôi, thân hay sơ, trong thời hoa niên ở cố đô Huế. 
Có người tìm lẽ sống trong việc đem lại niềm vui cho những người quanh mình bằng cách khai tâm, mở mang trí tuệ cho thế hệ đàn em hoặc cống hiến cho đời những tác phẩm văn chương nghệ thuật đặc sắc. Ngược lại, cũng có người, do quan niệm lệch lạc về nhân sinh và mục đích của cuộc sống, đã chạy theo một chủ nghĩa phi nhân và dã trực tiếp hay gián tiếp gây đau thương, tang tóc cho đồng bào, đối với họ, quan diểm "cái quan định luận" không áp dụng vì công hay tội của họ đã rành rành. Lại có những người, trước nhu cầu cấp bách của thời thế, đã hăng hái dấn thân, hoặc những người đã nhập cuộc vì dòng đời đưa đẩy, để rồi càng ngày bị lôi kéo càng sâu vào guồng máy của hệ thống đương thời, vì khi muốn thối lui thì đã quá chậm. Họ đành nhẫn nhục sống phần còn lại của cuộc đời mình trong sự chán chường và hối tiếc. Tôi không thể viết về tất cả những người tôi quen biết từ thuở ấy và những chuyện liên can đến họ vì thời gian đã làm nhạt nhòa ký ức. Tôi chỉ nói đến những người mà tôi còn nhớ mãi, những chuyện mà tôi vẫn ghi lòng. Nếu đôi khi tôi có nhắc đến những người tôi biết mà không quen, những chuyện mà tôi được nghe nhưng không mục kích thì đó chỉ là để điểm xuyết câu chuyện.

Tôi lớn lên trong sự bảo bọc, dạy dỗ của một đấng từ mẫu sớm gặp cảnh góa bụa nhưng đã can đảm ở vậy nuôi con trước viễn ảnh của một cuộc sống khó khăn, đầy dẫy chông gai sẽ chờ đợi mình. Qua sự giáo huấn của mẹ tôi, bằng lời nói, khi nghiêm khắc khi trìu mến, và nhất là do phong cách của mẹ tôi mà tôi noi gương, tôi đã học được những đức tính giúp tôi khắc phục những khó khăn trên đường đời và cố gắng xử thế theo phương châm "giàu sang không mê sa, nghèo hèn không đổi chí" (phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di) của người xưa.

Ðến khi vào trường tiểu học Paul Bert (tôi bắt đầu đi học hơi trễ vì theo ý muốn của thầy tôi, anh em tôi phải học chữ nho trước khi vào trường) tôi may mắn gặp được những thầy giáo thương học trò như con ruột, đặc biệt là các thầy Trương Tiếu Tỷ, Nguyễn Hữu Lư (thân phụ của hai anh Nguyễn Hữu Hanh và Nguyễn Hữu Minh), Tráng Cử và Nguyễn Hi Ðơn. Thầy Cử là trưởng nam của Kỳ ngoại hầu Cường Ðể; Thầy cũng là huynh trưởng hướng đạo nên ngoài việc dạy chữ, Thầy còn bầy ra những trò chơi tập cho học sinh có tinh thần tháo vát. Thầy lại có tài kể chuyện; qua những buổi kể chuyện của Thầy, tôi đã làm quen với Les Trois MousquetairesLe Comte de Mont-Cristo của Alexandre Dumas. Năm 1946 Thầy phải di tản ra Liên khu IV cùng với các công chức các nha, sở của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Trung bộ. Một thời gian sau đó, Thầy trở về Huế dạy học rồi về hưu, và nay đã mất. Thầy Nguyễn Hi Ðơn (bào đệ của Cha J.M. Thích, một vị linh mục được nhiều người mến phục và cũng là một nhân vật hữu danh của xứ Huế) là thầy dạy lớp Nhất, chuẩn bị cho học sinh đi thi Tiểu học. Tôi may mắn được Thầy đối xử đặc biệt, chỉ dạy từng li từng tí. Dù cuối năm đứng đầu lớp nhưng khi thi tuyển vào năm thứ nhất "cao đẳng tiểu học" trường Khải Ðịnh, tôi suýt bị đánh hỏng vì quá tự tin, không lưu tâm chuẩn bị dự thi. Thầy lo lắng như là chính Thầy đi thi, chạy đi chạy lại trông ngóng kết quả. Ðến khi biết tin tôi được "đậu vớt", Thầy liền đạp xe đến nhà báo tin mừng cho mẹ tôi hay. Trong khi đó tôi còn nhởn nhơ đá banh với mấy thằng bạn ở góc đường, không chút lo âu về tương lai của chính mình! Khi Việt minh cướp chính quyền, hình như Thầy bị họ bắt và đưa đi đâu mất tích từ đó.

Tôi nhập học năm thứ nhất trường Khải Ðịnh năm 1936 và thi đậu Tú tài II năm 1943. Trong đời học sinh, hình ảnh đẹp nhất tôi còn ghi nhớ là cảnh học sinh đi học lúc sáng sớm: từ An Hòa, Kim Long, Thành Nội và các phố Trần Hưng Ðạo, Ngã Giữa, Hàng Bè, Gia Hội sang; từ An Cựu, Bến Ngự về; từ Vĩ Dạ, Ðập Ðá, Hàng Me lên; từ Nam Giao, Bạch Hổ, Bầu Vá xuống; từng đoàn nữ sinh áo trắng, nam sinh áo đen lũ lượt đổ về các trường học. Có nhừng học sinh qua đò Thừa Phủ đến trường, họ ngồi dọc theo hai bên mạn đò, thường là nữ sinh một bên, nam sinh một bên, ít khi ngồi lẫn lộn. Các cô các cậu rất e lệ, không dám bắt chuyện với nhau, bạo dạn lắm cũng chỉ liếc trộm, nhưng rồi cũng có những mối tình chớm nở nhân những chuyến đò ngang ấy.

Ðời học sinh trong khung cảnh hiền hòa giản dị của cuộc sống ở Huế vào lúc đó trôi qua êm ả, không có những cám dỗ như thời bây giờ và đặc biệt là chưa có âm hưởng của những cuộc vận động phục quốc (về sau tôi mới biết là đã có rồi nhưng còn trong vòng bí mật). Cũng có những nỗi vui buồn gây ra bởi sự thành công hay thất bại trong việc học, hoặc đôi khi cũng có những giờ phút nhớ nhung một hình bóng yêu kiều nào đó hay nỗi sầu vẩn vơ của một mối tình thầm lặng.

Trong những năm học, không khí lớp học nhiều khi rộn rã lên nhờ những anh bạn có duyên chọc cười. Năm đệ tứ, anh Lê Du đã có lúc làm chúng tôi có muốn nhịn cười cũng không nhịn được. Một hôm, thầy Bửu Cân, trong lúc giảng bài bắt gặp anh đang nhai nhóp nhép. Thầy ngừng giảng, hỏi anh ta: "Quest ce que vous mangez là?" Anh đứng dậy, giơ cao "tang vật", đáp tỉnh bơ : "Du khoai khô, monsieur" Cả lớp cười vang; Thầy cũng cười xòa và miễn cho Du khỏi bị phạt "công-xin"(consigne). Ở năm thứ nhất ban tú tài, anh Trần Kiêm Tiềm, người An Hòa, lại là đối tượng cho anh em diễu cợt. Anh mê túc cầu đến độ đi học cũng mang giầy đá banh để sẵng sàng "ráp" vào nơi nào có đá banh dù là đá chơi hay tập dượt. Bạn bè đặt cho anh cái biệt hiệu "Ba đi ghệt", theo tên của một nhân vật có lẽ trong chuyện "Vàng và Máu" của Thế Lữ lúc nào cũng thích "diện" đôi ghệt như anh thích mang giầy đá banh. Cái biệt hiệu ấy dính liền với anh như hình với bóng đến mức thường được sử dụng thay cho tên anh, và có lần, đã được dùng để trêu vị giáo sư Anh văn của chúng tôi là Père Gagné, người Gia nã đại gốc Pháp. Trong một buổi học, một anh bạn hay bông lơn xin Cha chỉ cho biết chữ "badighet" nhấn ở âm nào. Cha khiêm tốn xin tra tự điển rồi sẽ trả lời sau. Vị linh mục dễ dãi, vui tính ấy chắc không hiểu tại sao trong lớp lại có những tiếng cười khúc khích tiếp sau câu trả lời của mình và dù có cố gắng tham khảo đến mấy chục cuốn tự điển, Cha cũng không thể nào tìm ra chữ "badighet" để biết âm nhấn ở chỗ nào. Anh Nguyễn Ðình Quảng, vốn dòng nho gia, học rất giỏi nhưng rất khiêm nhường và dễ mến, duy có cái bệnh thường bị ám ảnh là đôi bàn chân của mình khi nào cũng dơ bẩn. Trong lớp anh giành chỗ ngồi ở bàn cuối, sát vách ngăn giữa lớp học và cái hành lang chạy dài theo hàng cửa sổ nhìn ra vườn hoa. Trong giữa giờ học, nếu anh ta biến mất thì tức là anh đã lẩn ra sau bức vách ngăn để nhảy qua cửa sổ, tìm vòi nước rửa chân cho thật sạch rồi lại nhảy cửa sổ vào lớp tiếp tục học. Mỗi lần anh chợt biến chợt hiện là một dịp để cho anh em vui cười trước sự ngạc nhiên vô cùng tận của các giáo sư. Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp anh ra Bắc công tác, lúc đó tôi chỉ gặp anh có một lần ở Nghệ An, về sau mất hẳn liên lạc.

Trong số những bạn cùng lớp với tôi có những anh rất xuất sắc. Anh Phạm Quỵ đoạt giải nhất trong một cuộc thi tuyển toàn quốc (concours général) về Pháp văn. Các anh Ðặng Phúc Ðĩnh và Tôn Thất Ngữ đậu Tú tài I sau một năm học thay vì 2 năm như thường lệ. Anh Thái Văn Kiểm luôn luôn đứng đầu lớp về các môn Việt văn, Sử ký, Ðịa lý. Sau khi ra trường, dưới bút hiệu Việt Ðiểu, anh đã sớm nổi tiếng với tác phẩm "Ðất Việt Trời Nam". Trong thời gian ở hải ngoại, anh đã viết rất nhiều về văn chương, văn hóa Việt Nam bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, và có thêm một bút hiệu nữa là Hương Giang. Ðồng thời anh không ngừng nghiên cứu, sưu tầm để thi lấy bằng Tiến sĩ Ðông phương học và đã thành công mỹ mãn. Ngoài anh Kiểm ra còn có 2 người bạn học nữa, khi ra ngoài đời cũng đã có tên tuổi trên văn đàn Việt Nam, người nổi tiếng về thơ là Tế Hanh và người thành danh về ca nhạc là Minh Trang. Anh Nguyễn Khắc Hoạch một thời gian sau khi ra trường đã sang Pháp học thi Tiến sĩ văn chuơng và trước khi miền Nam rơi vào tay cọng sản, đã giữ chức khoa trưởng Ðại học Văn khoa thuộc Viện Ðại học Sài Gòn. Hai người khác cũng đã thành công trong lãnh vực học thuật là anh Hoàng Văn Tuệ và anh Nguyễn Văn Trương. Anh Tuệ sang Nga du học, trở thành nhà ngôn ngữ học có tiếng của miền Bắc. Anh là thân sinh của nhà văn "phản động" có hạng của Việt Nam hiện thời là Bảo Ninh, tác giả cuốn "Nỗi buồn chiến tranh". Anh Trương đi học ở Ðông Ðức, về nước làm giáo sư xã hội học ở Hà nội, nay đứng đầu ủy ban soạn thảo một bộ tự điển bách khoa Việt Nam. Một anh bạn khác cũng rất giỏi Pháp văn, anh Trần Văn Dĩnh, đã không chọn con đường văn chương chữ nghĩa mà lại thích chính trị. Anh bắt đầu sự nghiệp trong ngành ngoại giao với một chức vụ khá quan trọng ở tòa đại sứ Việt Nam tại Vạn Tượng. Nghe nói bây giờ anh là một "tenured professor" của một trường đại học Mỹ, dạy về môn chính trị học.

Một đặc điểm của trường Khải Ðịnh về thành phần học sinh thời ấy là đa số học sinh cao đẳng tiểu học là người Huế, nhưng lên đến ban tú tài I và II ngoài học sinh Huế ra còn có học sinh người Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Ðà Nẵng, Hội An, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Lý do là vì lúc đó chỉ có Huế mới có các lớp thi tú tài I và II Pháp. Trường Khải Ðịnh cũng có học sinh người Pháp và tuy là một trường nam, ban tú tài của trường lại có nữ sinh vì trường Ðồng Khánh lúc đó chưa có lớp thi tú tài. Các anh từ các tỉnh đến rất chăm học, nhất là các anh người Nghệ An và Hà Tĩnh. Phần lớn các anh đều đậu cao, nhưng người đậu đầu lớp toán của tôi là một anh người Quảng, anh Nguyễn Thiện Tụng. Anh ở Quảng ra Huế học, nhưng khác với các anh "học trò trong Quảng ra thi" trong ca dao, anh chỉ biết có mỗi một việc là học và cuối năm đã đậu thủ khoa. Sự hiện diện của một học sinh đến từ xứ Lào và một học sinh người miền Nam tạo nên một biệt lệ trong thành phần học sinh của trường. Anh Lê Phùng Thời là cựu học sinh của Lycée Sisovath ở Vạn Tượng, sau khi rời trường anh đi đâu một thời gian, đến khi gặp lại thì anh đang hoạt động chính trị trong đảng Ðại Việt. Anh phải "học tập cải tạo" mấy năm và sau khi được phóng thích anh sang Hoa kỳ. Anh Albert Phạm Ngọc Thảo, có lẽ vì chán học ở trường Pétrus Ký hay trường Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, nên ra Huế học để thay đổi không khí. Anh vào lớp toán học được vài hôm rồi chuyển sang lớp triết. Các bạn học cũ của anh ở Khải Ðịnh chắc rất ngạc nhiên khi nghe tên đại tá Phạm Ngọc Thảo, tỉnh trưởng tỉnh Bến tre dưới thời Tổng thống Ngô Ðình Diệm, sau bị hạ sát (không rõ bởi phe nào) rồi bị tiết lộ ra là một cán bộ cao cấp của cọng sản, chính là anh bạn Albert Phạm Ngọc Thảo, hiền lành, ít nói và đáng mến của chúng tôi thời đó!

Các bạn cũ của tôi, theo vận nước nổi trôi, nay tản mác khắp nơi, không biết ai mất ai còn. Mà dù có còn cũng không biết ở đâu mà liên lạc. Duy chỉ có hai anh tôi vẫn giữ được liên lạc: đó là anh Thái Văn Kiểm và Phạm Quỵ. Riêng anh Quỵ và tôi có mối thâm tình. Anh với tôi đã có lần trải qua những giây phút hồi hộp, lo âu mà mỗi lần nghĩ đến chúng tôi không khỏi ngạc nhiên trước sự liều lĩnh của chúng tôi vào lúc đó. Anh Quỵ không bao giờ từ chối giúp tôi trong những trường hợp khó khăn và cũng phần nào nhờ việc anh giúp tôi lần sau cùng, tôi đã thoát được cảnh đọa đầy, nhục nhã mà những người miền Nam có liên hệ với chế độ cũ đã phải trải qua. Xin cám ơn Trời Phật đã ban cho tôi một người bạn như anh.

Tôi sẽ là người vô tình, có thể nói là vong ân, nếu không nhắc đến một người bạn khác. Vào niên học 1940-41, một số nữ sinh Ðồng Khánh được nhận vào năm thứ nhất ban tú tài: đó là các chị Ngọc Anh (đã mất), Hạc (bà Ðặng Phúc Ðĩnh), Mai và Minh Trang (bà quả phụ Dương Thiệu Tước). Bắt đầu niên khóa 1942-43, sau khi tốt nghiệp tú tài I, Mai cũng như tôi đã chọn ban toán. Lúc đó cuộc đệ nhị thế chiến diễn ra ác liệt tại Âu châu, sự giao thông liên lạc giữa Pháp và Việt Nam bị gián đoạn. Sách giáo khoa tiếng Pháp không được mua mới thêm nên học sinh chúng tôi phải 2 người thuê một bộ sách thay phiên nhau sử dụng, dĩ nhiên là rất bất tiện. Ðến giữa năm, vì một lý do nào đó mà bạn bè trong lớp chỉ biết rất mù mờ, Mai thôi học vào tu viện. Trước khi từ giã bạn bè, Mai đã tự ý nhường cho tôi phần sách của mình, trong đó có những cuốn sách toán của Brachet & Dumarqué là những cuốn sách tối cần thiết cho học sinh ban toán. Nhờ vậy mà tôi mới có đủ bộ để tham khảo và làm bài tập, và trong phần thi viết kỳ thi tú tài II tôi được số điểm hiếm có là 27/30 về môn toán. Kể từ đó tôi không bao giờ được gặp Mai nữa. Nghe nói sau này, Mai là bề trên dòng các "sơ" Couvent des Oiseaux; đối với tôi, Mai vẫn luôn luôn là cô nữ sinh đoan trang, phúc hậu, thường thường buổi chiều sau khi tan học đã đi đò ngang về nhà cùng một chuyến với tôi và anh Hoàng Văn Tuệ. Tôi ân hận là không có dịp gặp lại để lần nữa cám ơn Mai và nói với Mai tôi hết sức quí trọng tình bạn của Mai.

Trong 7 năm học chúng tôi được các vị giáo sư Việt và Pháp, rất lành nghề, tận tâm dìu dắt. Về phía giáo sư người Việt, dạy toán, lý hoá có các thầy Nguyễn Dương Ðôn, Nguyễn Thúc Hào, Bửu Cân, Phạm Ðình Ái; Pháp văn, Việt văn có các thầy Ưng Quả, Nguyễn Lân, Lê Xuân Phương; sử địa có các thầy Nguyễn Thiệu Lâu, Lê Xuân Phương; và triết có thầy Nguyễn Huy Bảo. Dĩ nhiên còn có nhiều thầy khác nữa nhưng tôi không được theo học nên không nhắc ở đây.

"Mỗi thầy một vẻ", nhưng độc đáo nhất, theo ý kiến của đa số học sinh, phải nói là thầy Bửu Cân. Luôn luôn phục sức theo lối cổ truyền, áo dài khăn đóng. Ði đứng khoan thai, cử chỉ từ tốn. Và cũng do cái dáng điệu bệ vệ đài các của Thầy, lại thêm là người trong hoàng phái, Thầy được học trò tặng biệt danh "Mệ Cân". Vào lớp, Thầy viết lên bảng đề tài bài học hôm đó, nét chữ lớn và đậm, rõ ràng, ngay hàng thẳng lối, rồi bắt đầu giảng. Lời giảng gãy gọn, vắn tắt, không thừa không thiếu một chữ. Giảng xong Thầy hỏi: "Quest-ce qui a compris?" Cả lớp độ dăm đứa dơ tay lên. Thầy lại hỏi: "Quest-ce qui na pas compris?" Gần như hơn nửa lớp giơ tay lên. Thầy bảo: "Que ceux qui ne comprennent pas demandent à ceux qui comprennent." Thế là xong bài giảng. Lúc đó, chúng tôi không thể nào hiểu nổi ý nghĩa câu nói của Thầy. Mãi về sau, khi theo học khóa kỹ sư điện ở trường Cao đẳng Ðiện học Phú thọ cùng với những sinh viên trẻ hơn tôi độ 12 đến 15 tuổi, tôi và mấy anh bạn "sinh viên già" đã phải họp nhau thành tổ học tập để chỉ bảo cho nhau, lúc đó tôi mới hiểu cái thâm ý của Thầy là "học thầy không tầy học bạn". Một mẩu vấn đáp giữa Thầy, với tư cách giám khảo và một thí sinh trong kỳ thi "thành chung" đã trở thành một giai thoại được nhắc đi nhắc lại trong đám học sinh của Thầy. Thầy hỏi: "Comment fait-on pour guérir le đau bụng?" Thí sinh đáp: "Pour guérir le đau bụng, on emploie du nhị thiên đường." Không rõ Thầy cho thí sinh đó bao nhiêu điểm, nhưng chắc là điểm cao vì Thầy đã gặp một người đối thoại xứng đáng. Vào đầu năm 1975, ra Nha Trang tập sự tại một chi nhánh của Công ty Gió đá Viễn đông, tôi được anh trưởng chi nhánh cho biết là Thầy đã mất và tang lễ đã được cử hành vào sáng ngày hôm đó. Tối hôm ấy, tôi đã đến nhà Thầy điếu phúng trước linh vị của Thầy.

Thầy Nguyễn Dương Ðôn, qua lối giảng rõ ràng, khúc chiết của Thầy, đã dẫn dắt tôi vào thế giới toán học, trước đó tôi vẫn tưởng là một lãnh vực huyền bí, chỉ có những người thụ pháp (initié) mới hiểu nổi. Sau khi đã học với Thầy tôi mới thấy toán là một môn học mà ai cũng có thể học được, trái với quan niệm thường tình là chỉ những người "có khiếu" về toán mới học được môn này. Mà cũng chính vì thấy học toán có kết quả khả quan nên tôi đã chọn vào lớp toán sau khi đậu tú tài I.

Thầy Nguyễn Lân dạy Việt văn rất hấp dẫn. Nhờ Thầy học sinh được trau dồi thêm tiếng Việt và hiểu biết thêm về những áng văn tuyệt tác của nền văn học nước nhà. Thầy rời trường Khải Ðịnh vào khoảng năm 1946 để ra Bắc tiếp tục dạy học. Nghe nói Thầy đã được vinh danh là "nhà giáo mẫu mực" và cuốn phim "Nhà giáo mẫu mực" nói về Thầy đã được chiếu trên màn ảnh truyền hình trong nước.

Thầy Ưng Quả là một giáo sư có nhiều văn nghệ tính. Tính chất nghệ sĩ của Thầy được biểu lộ lúc Thầy dạy Việt văn, qua những giờ bình văn, ngâm thơ. Học sinh say sưa lắng nghe và khi hết giờ chúng tôi còn tiếc muốn ngồi lại năn nỉ Thầy giảng thêm.

Thầy Nguyễn Thiệu Lâu, với mái tóc lơ thơ và lối ăn mặc rất "tài tử", có một lối dạy sử địa khá đặc biệt. Dạy sử Thầy chỉ nhấn mạnh ở những điểm chính, khuyến khích học sinh tập nhận xét, suy luận, tránh lối "học vẹt". Về môn địa lý Thầy đã gây hứng thú với thuyết "dérive des continents" và thường dẫn học trò đi khảo sát địa chất ở mấy trái núi xung quanh Huế. Tiếc là chúng tôi chỉ học với Thầy có mỗi một năm, sau đó nghe đâu Thầy ra Hà Nội làm việc ở trường Viễn đông Bác cổ.

Thầy Phạm Ðình Ái, ngược lại, luôn luôn chững chạc, mẫu mực về phục sức, cử chỉ cũng như thái độ. Thầy giảng dạy rất rành rẽ, những bài giảng được thu gọn so với trong sách nhưng đầy đủ chi tiết và rất dễ hiểu, dễ nhớ. Năm 1946 Thầy di tản ra Liên khu IV, ở đó Thầy vừa phụ trách công việc giáo dục, vừa điều hành một công xưởng chế tạo thuốc nổ tại Chu Lễ, tỉnh Hà Tĩnh. Lúc đó kháng chiến Việt Nam còn phải tìm cách tự túc về đạn dược, chất nổ. Thầy đã nghĩ cách sản xuất được acid sulfurique để chế chất fulminate de mercure dùng trong các ngòi nổ. Thầy trở về ngành giáo dục sau đó (1949) cho đến khi được thay thế bởi một giám đốc giáo dục khác được đảng tín nhiệm hơn. Thầy và gia đình di chuyển ra Thanh Hóa và không bao lâu sau bỏ kháng chiến về Huế. Thầy lại giữ chức vụ Giám đốc Giáo dục Trung phần cho đến khi về hưu. Năm 1979 Thầy đắc cử vào Thượng nghị viện trong liên danh Bông sen. Tháng tư 1975, Sài Gòn thất thủ, các nghị sĩ, dân biểu, đảng viên đảng phái quốc gia, công chức, sĩ quan Quân lực VNCH và Cảnh sát Quốc gia đều bị đưa đi "học tập cải tạo". Theo lời Thầy nói với tôi, Thầy nghĩ là với tư cách một người đã được Hồ Chí Minh tuyên dương công trạng (về chế tạo thuốc nổ), Thầy chắc là khỏi phải "học tập", nhưng rồi Thầy cũng phải trình diện. Rốt cuộc, Thầy phải nhờ Nguyễn Xiển và Trần Hữu Dực can thiệp mới được trả tự do. Về sau Thầy được con cái bảo lãnh qua định cư ở Pháp, nhưng rồi lại trở về Việt Nam và mất ở quê nhà mấy tháng sau.

Về thầy Nguyễn Huy Bảo thì anh Phạm Quỵ đã nói đến nhiều trong tập TSH 95 tôi không có gì khác để thêm vào.

Năm 1943 tôi thi đậu tú tài II và đến tháng 9 năm đó tôi ra Hà Nội theo học ở phân khoa Khoa học trường Ðại học Hà Nội. Qua năm sau thấy mình không đủ điều kiện để tiếp tục học tại Hà Nội mà có muốn học tiếp ở Huế thì lại không có trường đại học để theo, tôi đã xin vào làm việc ở thư viện Bảo Ðại tại trường Quốc tử giám cũ. Thư viện này có khá nhiều sách tiếng Việt và tiếng Pháp đủ loại và đặc biệt là lưu trữ rất nhiều sớ tấu qua các triều đại nhà Nguyễn. Ðiều đáng tiếc là khi Việt minh cướp chính quyền, những tờ sớ vô giá ấy đã bị kẻ gian đem bán ở chợ làm giấy gói đồ hoặc để vấn thuốc lá nên bị thất thoát rất nhiều. Thật là một mất mát khá lớn cho những nhà sử học muốn nghiên cứu về thời đại ấy. Nhân viên làm việc gồm có những vị cử nhân, phó bảng, tinh thông hán học và một số thanh niên theo tây học như cùng với tôi, một đồng nghiệp, anh Phán (tôi không nhớ họ). Giám đốc thư viện là cụ phó bảng Nguyễn Ðình Ngân và cố vấn là ông Ngô Ðình Nhu. Ông Nhu là một người điềm đạm, ít nói, thỉnh thoảng ông dành một đôi lời giảng giải cho tôi và anh Phán biết công việc quản thủ thư viện và chỉ cho chúng tôi những sách nên đọc cho rộng kiến văn. Một đồng liêu khác vào bậc huynh trưởng là anh Bửu Kế (thúc phụ của Quế Hương trong nhóm Phượng Vĩ Houston), anh là soạn giả của nhiều tác phẩm văn học có giá trị. Vào các thập niên 60-70, anh đã tạo cho mình một địa vị xứng đáng trên văn đàn Việt Nam với tập truyện ngắn "Nếp nhà", những công trình biên khảo như phiên dịch "Mục lục châu bản triều Nguyễn", biên soạn "Tầm Nguyên tự điển", "Chuyện trong cung triều Nguyễn", và viết bài cho các tạp chí Ðại học, Bách khoa. Anh Kế đã mất ở Huế, sau năm 75.

Từ giữa năm 1944 đến đầu năm 45, tuy thiếu hẳn báo chí và không mấy ai có máy thu thanh để nghe tin tức, vẫn có những tin đồn về sự biến chuyển trên cục diện thế giới như cuộc đổ bộ của quân đội Ðồng minh lên Normandie, sự phản công của Hồng quân và những dấu hiệu về sự bại trận sắp tới của quân đội Nhật hoàng. Những tin đó, dù không thể kiểm chứng đúng hay sai, đã làm cho dân chúng Huế xôn xao, bồn chồn lo lắng chờ đợi một biến cố trọng đại tất sẽ xảy đến cho đất nước cũng như cho thành phố thân yêu của họ.

Chính trong thời gian đó, anh Võ Quang Hồ, một người bạn học mà tôi không gặp lại từ khi ra trường, đột ngột bắt liên lạc với tôi. Trong buổi họp mặt đầu tiên, anh đi ngay vào vấn đề. Theo anh, việc Ðức và Nhật thua trận sẽ dẫn đến hậu quả là người Pháp sẽ trở lại tái chiếm Ðông dương và nhân dân Việt Nam sẽ rơi vào vòng nô lệ như trước; vì vậy chúng ta phải kịp thời chuẩn bị kháng chiến chống Pháp, và trong công cuộc này thanh niên phải đi tiên phong. Anh nói đến Việt minh, một tổ chức yêu nước, và đến sức mạnh và thanh thế của họ. Nghe anh nói cũng phải và ngoài anh ra, chưa có người nào khác tiếp xúc với tôi, nên tôi đã vui vẻ nhận lời tham gia. Anh giao cho tôi một số truyền đơn Việt minh bảo tôi đi phân phát và căn dặn tôi cố gắng kết nạp thêm một số anh em khác. Thế là tôi rủ luôn mấy anh bạn thường hay giao du với tôi vào "hội"; cũng như tôi, các anh chả biết nếp tẻ gì về Việt minh, nhưng nghe nói đến chuyện "đánh Tây" là họ đồng ý ngay, không chút do dự. Chúng tôi hăng hái hoạt động (trong khi không được dự qua một khóa, hay ít nhất, một buổi huấn luyện nào), bất chấp mật thám Pháp và Kempetai (hiến binh) Nhật đang dòm ngó. Ôi, cái tuổi thanh niên bồng bột và nông nổi, thiệt dễ thương làm sao!

Ngày 9 tháng 3, 1945, Nhật đảo chánh Pháp. Cụ Trần Trọng Kim được vua Bảo Ðại mời lập chính phủ. Ông Phan Anh, giữ chức bộ trưởng bộ Thanh niên với sự phụ tá của ông Tạ Quang Bửu, ở chức vụ đặc ủy viên. Trường Thanh niên Tiền tuyến, một hình thức huấn luyện sĩ quan, được thành lập dưới sự chỉ huy của ông Phan Tử Lăng, một chuẩn úy (aspirant) trong quân đội Pháp. Ðồng thời những tổ chức thanh niên khác cũng được hình thành, đó là một môi trường thuận lợi cho Việt minh tuyên truyền, vận động.

Ngày 14.8.46, Nhật đầu hàng Ðồng minh vô điều kiện. Ngày 20.8 vua Bảo Ðại gửi điện văn cho các vị nguyên thủ quốc gia Ðồng minh yêu cầu trợ giúp Việt Nam khôi phục nền độc lập. Không nhận được phúc đáp và nghĩ rằng Ðồng minh đã ủng hộ Việt minh rồi, vua Bảo Ðại quyết định thoái vị và ngày 25.8 trao ấn kiếm cho hai đại diện Việt minh tại cửa Ngọ Môn.

Ðứng trong đám đông tụ tập trên bãi cỏ trước cửa Ngọ Môn, tôi theo dõi cuộc lễ từ đầu đến cuối. Lúc đó, tuy là người trong hoàng tộc, tôi không cảm thấy tiếc nuối trước sự việc nhà Nguyễn, sau 10 triều đại, đã không còn trị vì đất nước nữa. Trái lại, tôi thấy hoan hỉ trong lòng vì Việt minh, một tổ chức mà tôi đã ủng hộ vì cho rằng đó là một tổ chức yêu nước, đã giành được thắng lợi. Tôi không ngờ rằng quyết định trao quyền cho Việt minh của vua Bảo Ðại lại có những hậu quả tai hại nhường ấy cho xứ sở!

Trong không khí tưng bừng, sôi động tiếp theo sau, ngày 2-9-45, tại Huế, đoàn Giải phóng quân đã nhanh chóng hình thành cùng lúc với các đội tự vệ, những toán dân quân. Học sinh hai trường Ðồng Khánh và Khải Ðịnh được tổ chức thành Học sinh Cứu quốc. Các anh em trong nhóm tôi tình nguyện gia nhập Giải phóng quân. Nhiều người có địa vị trong xã hội cũng xin tòng ngũ, không chút do dự: cố nghị sĩ Trần Chánh Thành, lúc đó giữ chức chưởng lý tòa thượng thẩm Huế là một trong số đó. Chúng tôi trình diện nhập ngũ ở trường Khải Ðịnh, anh Thành và tôi được xếp vào cùng một trung đội (nếu tôi nhớ không lầm thì ít lâu sau, vì nhu cầu công vụ, anh Thành đã trở về nhiệm sở cũ). Một số sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến, đã trải qua một thời gian huấn luyện quân sự, được chỉ định làm trung đội trưởng. Lúc đó, chói mắt bởi hào quang bao quanh "thần tượng Việt minh", chúng tôi đâu có hay là họ không có nhiều cán bộ quân sự như họ đã từng ám chỉ mà phải nhờ đến bất cứ ai vào thời điểm đó. Một thượng sĩ trong quân đội Pháp được phong chức chỉ huy trưởng Giải phóng quân thành Nguyễn Tri Phương (Huế) vì không có ai cao cấp hơn.

Về phần tôi và một số các bạn đồng đội như hai anh em Phạm Ngọc Khanh và Phạm Ngọc Nhơn, Trần (?) Văn Minh, được chuyển đến một đơn vị có tên là ban Ðặc vụ quân sự. Tôi không nhớ rõ tôi được "điều" qua ban Ðặc vụ quân sự trong trường hợp nào. Có lẽ Ðặc vụ trưởng lúc đó, anh Nguyễn Thê Lương, là bạn học của tôi, muốn có một người cọng sự tin cậy nên đã "kéo" tôi theo. Dù sao đi nữa thì thời gian phục vụ tại đơn vị này cũng đáng ghi nhớ. Nhiệm vụ của tôi lúc đó là điều khiển một số bạn trẻ, phần lớn là sinh viên, học sinh, làm công tác thu thập tin tức hầu nắm vững tình hình an ninh trong khu vực thành phố Huế và phụ cận. Anh em hăng say làm việc ngày đêm, lâu lắm mới có dịp về thăm nhà. Tuy nhiên sau khi đã rời hàng ngũ giải phóng quân, mỗi khi kiểm lại thành tích nhỏ nhoi của chúng tôi trong thời gian tại ngũ, tôi lại băn khoăn tự hỏi là chúng tôi đã làm được gì cho Ðất Nước. Một ý nghĩ vẫn thường ám ảnh tôi là do thiếu kinh nghiệm về ngành tình báo, không biết chúng tôi có nghi oan cho ai và đã quấy nhiễu người vô tội nào không.

Ngoài nhiệm vụ công tác trong phạm vi Huế và vùng phụ cận, chúng tôi còn phải biết tình hình ở vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên. Ðó là nhiệm vụ của đội Canh phòng Duyên hải cũng gồm toàn những anh em trẻ. Trong đó có hai anh về sau được nhiều người chú ý đến. Một là anh Nguyễn Lâu, người đã có thời gian hợp tác với anh Tôn Thất Thiện ra tờ nhật báo Anh ngữ "Saigon Guardian". Anh thứ hai là Trần Ngọc Hiền (bào huynh của cựu dân biểu Trần Ngọc Châu), sau này là sĩ quan tình báo của quân đội miến Bắc hoạt động tại Sài Gòn cho đến lúc miền Nam thất trận. (Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC do hãng B. C. Productions thực hiện vào đầu năm nay, Hiền cho biết là khi được phái vào công tác ở miền Nam, y đã được Nguyễn Lâu và một thiếu tá quân đội VNCH che chở, cung cấp giấy tờ tùy thân cần thiết và giới thiệu với những người đầu mối liên lạc để lấy tin tức.)

Ngày 6.3.1946, Hồ Chí Minh ký hiệp định với Pháp chấp thuận cho quân đội Pháp trở lại miền Bắc và miền Trung, đổi lấy việc Pháp công nhận chính phủ Hồ Chí Minh. Ðược rảnh tay về phía Pháp, Hồ tập trung vào việc tiêu diệt các đối thủ chính trị của y với sự tiếp tay của Pháp. Những vụ bắt bớ, tra tấn, cầm tù và thủ tiêu đảng viên các đảng phái quốc gia diễn ra hàng ngày. Ðặc biệt, vụ án Ôn Như Hầu đã làm chấn động dư luận.

Trong số các nạn nhân có người bạn học của tôi là anh Hoài (Hoài mập), người Hà Tĩnh, bị giết trong cuộc đàn áp Việt Nam Quốc dân đảng năm 1946. Một anh bạn khác là anh Thiện cũng bị thủ tiêu trong thời gian đó, có lẽ cùng lúc với ông Ngô Ðình Khôi và người con của ông là Ngô Ðình Huân vì hình như anh là người thuộc tổ chức của ông Khôi. Một anh học lớp trên ở trường Khải Ðịnh, người Ðồng Hới (tôi không nhớ rõ tên), bị Việt minh sát hại, bỏ xác vào bao bố đem thả trôi sông. Ðó là vài vụ trong vô số vụ thủ tiêu người quốc gia.

Chính những hành động bắt bớ, giam cầm, thủ tiêu bao nhiêu người, trong số đó có những thanh niên đầy nhiệt huyết, chỉ có cái "tội" là hoạt động trong những tổ chức mà Việt minh coi là đối lập với họ, đã khiến tôi ý thức được rằng lời kêu gọi đoàn kết kháng Pháp của Việt minh chỉ là cái phương tiện để lấy lòng dân hầu đạt mục đích của họ là nắm chính quyền, và khi đã có quyền bính trong tay họ đã lộ rõ dã tâm độc chiếm quyền thống trị đất nước. Vì không muốn làm công cụ cho những con người giả nhân giả nghĩa và tàn bạo như vậy, tôi đã xin xuất ngũ và sau đó, một số bạn đồng ngũ của tôi cũng lần lượt rời khỏi quân đội để trở về đời sống dân sự.

Nhiều bạn học của tôi cũng như nhiều học sinh khác của trường Khải Ðịnh, học trước và sau tôi, ở lại trong quân ngũ. Người ta nghe nói nhiều đến chiến công của những Cao Văn Khánh và Nguyễn Kèn ở Liên khu V hoặc của một Nguyễn Sanh Thí ở mặt trận Thừa Thiên. Những anh như Nguyễn Thê Lương, Phan Hàm, Phan Hạo, Ðoàn Huyên, Phạm Ngọc Nhơn ... chắc cũng đã lập được nhiều công. Sau ngày Sài Gòn thất thủ, một số về Huế thăm bà con thân thích, những người quen biết các anh thấy họ mang quân hàm cấp tá. Ðến nay chắc các anh đều đã "phục viên". Cách đây hai năm, một anh bạn của con tôi ở Zurich, về Việt Nam công tác cho công ty của anh ta, đã gặp Nguyễn Sanh Thí ở Hà Nội. Anh Thí đã về hưu với cấp bậc đại tá, gia đình anh cư ngụ trong một căn nhà nhỏ hẹp, cũ kỹ ở một khu bàn cờ tối tăm. Trong câu chuyện giữa hai người, tên tôi được nhắc đến. Anh Thí nhắc lại những kỷ niệm trong đời học sinh của chúng tôi, không những thế anh biết khá nhiều về cuộc đời của tôi từ khi chúng tôi chia tay nhau lần sau cùng tại bến đò chợ Thượng, huyện Ðức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Câu nói của anh để kết thúc câu chuyện về tôi là "Ðời thằng nớ rứa mà sướng". Cuộc đời của một kẻ lưu vong kể ra chẳng có gì là vui, thế mà Thí cho là "sướng" thì tôi nghĩ rằng có lẽ anh nói về phương diện vật chất. Những câu chuyện "đầu đường đại tá vá xe, cuối đường thiếu tá bán chè đậu đen" cho phép chúng ta suy luận rằng hoàn cảnh của anh Thí cũng như các anh tá, tướng hồi hưu khác chắc là không mấy khả quan; hoặc, phải chăng câu nói của anh cũng có hàm ý nghĩa của sự dằn vặt, hối tiếc đã uổng phí cả cuộc đời phục vụ cho một chế độ phi nhân, một chủ nghĩa mà cả thế giới đều loại bỏ?

Có những thanh niên tuy không theo binh nghiệp nhưng vì lý tưởng đã ủng hộ và hoạt động cho Việt minh như Hoàng Văn Tuệ, Nguyễn Ðình Quảng... hoặc đã hăng hái "đi kháng chiến" như Lê Doãn Sằng, Nguyễn Quang... hoặc như các anh Phan Ðình Huyên (bào huynh của cố thiếu tướng Phan Ðình Soạn), Lê Quang Long, Hoàng Trọng Cơ, Cung Quang Chương ... đã phải di tản ra Liên khu IV để rồi phải tiếp tục làm việc trong một môi trường xa lạ, sống một nếp sống mà họ không quen thuộc. Trong số đó có người đã hy sinh vì tổ quốc như Nguyễn Quang - một thiếu niên tôi coi như em - bị bắn chết trong một cuộc bố ráp của quân đội Pháp ở vùng quê Thừa Thiên; hoặc như Lê Ðình Dũ, chết không toàn thây khi thử đạn bazooka do công binh xưởng kháng chiến quân chế tạo. Có những người bặt tin, không biết chết hay sống, có thể họ đã bỏ thây trong chốn lũng sâu rừng hay nơi đèo heo hút gió mà không ai hay ai biết. Cũng có người vì số mệnh hẩm hiu đã chết một cách tức tưởi: anh Khải (tôi không nhớ họ) lúc di tản ra dạy học ở Ðồng hới đã bị dân quân địa phương sát hại một cách dã man trong lúc anh dẫn học trò đi chơi ở một vùng quê; anh Hoàng Trọng Dương bị quân Pháp xử bắn khi chúng tấn công vào huyện Ba Ðồn tỉnh Quảng Bình dù rằng anh chẳng phải là kháng chiến hay du kích gì cả mà chỉ là một thầy giáo dạy học. Những người còn sống, nay tuổi đã sáu bảy mươi, trở về cố quận mà chẳng được gì hơn khi ra đi, ngoại trừ mấy cái bằng khen, một ít huy chương để "làm cảnh". Chẳng ai nhớ đến công lao của họ, đến sự tận tụy hy sinh của họ trong mấy thập kỷ qua và khi chết đi, chắc sẽ không có ai thương tiếc, tưởng nhớ đến họ.

Dù sao, sự hy sinh của họ không phải là uổng phí. Chính họ và những người cùng lứa tuổi ở khắp nơi trong nước đã góp công lao, mồ hôi nước mắt hay xương máu đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi cuối cùng, một thắng lợi mà đảng cọng sản Việt Nam đã cướp đoạt để làm của riêng mình. Với tôi, những người bạn cũ dù ở "bên này" hay "bên kia", mỗi khi nhớ đến, tôi vẫn thấy họ là những người đáng mến; họ đã làm đầy đủ bổn phận của những người trai thời loạn. Những người tuy phục vụ trong hàng ngũ xã hội chủ nghĩa cũng không có làm gì để cho người đời chê trách.

Chuyện đáng buồn là đã có những người sinh trưởng và kiếm sống ở Huế nhưng lại hướng về phía "bên kia" và hoạt động chống lại chế độ đã tạo điều kiện cho họ có địa vị trong xã hội, và kết quả là họ đã góp phần gây nên vô vàn đau thương cho nơi chôn nhau cắt rốn họ. Vào thập niên 50, ở Huế có các nhóm "khuynh tả" của bác sĩ Lê Khắc Quyến, các thầy giáo Dương Kỵ, Dương Vân, Lê Cảnh Ðạm, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (nhóm Tỳ Bà), kỹ sư Nguyễn Hữu Ðính. Bác sĩ Quyến lúc đó là chủ tịch Phong trào bảo vệ hòa bình và cơ quan ngôn luận của nhóm này là tạp chí "Thuận hoá" và sau là tờ "Lành mạnh". Chính quyền quốc gia, có lẽ vì cho họ là những chính khách xa-lông vô hại hoặc thấy cần có những nhóm đối lập để chứng minh tính cách dân chủ tự do của chế độ, nên cứ để yên cho họ tha hồ "múa may". Nhưng đôi khi chính quyền cũng đã tỏ ra cứng rắn đối với những người đi quá trớn; đó là trường hợp của Dương Kỵ, giáo sư sử địa trường Khải Ðịnh, tác giả tập "Việt sử khảo lược" viết theo quan điểm mác-xít. Nếu ông ta thích kiến giải cuộc tiến hóa của xã hội theo thuyết duy vật sử quan thì đó là quyền của ông, nhưng vì ông đã cùng bà vợ của ông hoạt động cho cọng sản nên nội các chiến tranh Nguyễn Cao Kỳ đã tạo điều kiện cho ông được sống trong "thiên đường" xã hội chủ nghĩa bằng cách đưa ông ra Bến Hải và mời ông qua bên kia cầu. Ðó cũng là trường hợp của bác sĩ Lê Khắc Quyến khi ông ta lại cầm đầu một tổ chức khác được thành lập vào khoảng năm 66-67 gọi là Hội đồng nhân dân cứu quốc, mà không nói thì ai cũng biết là một tổ chức thiên cộng. Bác sĩ Quyến đã bị bắt đưa vào Sài gòn giữ tại cục An ninh quân đội một thời gian, sau khi được phóng thích, ông trở về nghề cũ cho đến khi ông từ trần. 

Viện Ðại học Huế, với đầy đủ các phân khoa, đông đảo sinh viên và phương tiện ấn loát tối tân, còn là một trung tâm sinh hoạt văn hóa, xã hội và chính trị rất sôi động. Phần đông các sinh viên đại học, dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới, đều có khuynh hướng chối bỏ những gì hiện hữu họ cho là lỗi thời để chấp nhận những tư tưởng mà họ nghĩ là cấp tiến và, với năng động tính của tuổi trẻ, họ sẵn sàng tham gia những hoạt động chống cái mà người Anh, người Mỹ gọi là "The Establishment". Sinh viên đại học Huế cũng vậy, và họ đã là thành phần tiên phong trong các vụ chống đối chính quyền quân sự của các tướng Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu do các đoàn thể chính trị tổ chức. Nhân đó, một số sinh viên cọng sản như Nguyễn Ðắc Xuân, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Cát Tường... đã được lồng vào các tổ chức sinh viên để dẫn dắt, lèo lái hoạt động của các sinh viên đầy thiện chí nhưng thiếu kinh nghiệm đấu tranh, theo chiều hướng có lợi cho cọng sản. Nhóm này được sự trợ giúp của các cán bộ cọng sản như Phan Cảnh Kế, Lê Hữu Trí ... và sự đồng tình, khuyến khích của các "nhân sĩ" Lê Văn Hảo, Dương Tiềm, Nguyễn Ðóa... đã hoạt động với tất cả sự hăng say của tuổi thanh niên và lòng nhiệt thành của các tân tín đồ.

Một câu hỏi cần được đặt ra là sau gần 3 thập niên hoạt động, các nhóm thiên tả và những người cọng sản nằm vùng nói đến trên đây đã làm được gì đáng kể cho quê nhà của họ. Theo thiển ý của tôi, "công trạng" hiển hách nhất của họ là tích cực góp phần làm cho cố đô - đặc biệt là nội thành Huế - trở thành một "di tích lịch sử" đổ nát, hoang tàn và khiến cho ít nhất 3000 người Huế bị thảm tử trong biến cố Tết Mậu thân. Trong cuốn "Mặt thật" của Thành Tín, tác giả có nói là "... thấy dân không nổi dậy, lại còn bỏ chạy, rất ít người đón chào, phối hợp giúp đỡ bộ đội, nên bộ đội nhập thành phố liền có thành kiến với dân Huế". Như vậy có nghĩa là "bộ đội" chờ đợi dân chúng Huế hoan nghênh đón tiếp họ như theo báo cáo của tay sai ở địa phương, nhưng việc ấy đã không xảy ra (điều này chứng tỏ là, sau gần 30 năm hoạt động, cán bộ cọng sản và những nhóm thiên cọng địa phương đã không thể thuyết phục dân chúng tin tưởng ở tính cách "ưu việt" của chế độ cọng sản) khiến cho "bộ đội" có ác cảm với dân chúng Huế và đó là đầu mối của những cuộc tàn sát tập thể trong thời gian chúng chiếm đóng thành phố và lúc chúng rút lui. Mặt khác, tác giả nói rằng số người bị giữ không những gồm có các sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên cảnh sát, đảng viên các đảng phái quốc gia, cán bộ bình định nông thôn, công chức hành chánh tỉnh, quận, xã, mà còn có những người làm ăn khá giả, những người hoàng phái, v.v... cho nên mới lên đến hàng ngàn người. Nếu nhóm võ trang Nguyễn Ðắc Xuân có chút tình người mà tìm cách che chở phần nào cho dân chúng, đặc biệt là những người không dính líu gì đến chế độ cũ, nếu bọn khuyển ưng không tận tuỵ tâng công với quan thầy (theo lời kể lại thì hàng ngày chúng mang súng AK vào nhà dân lục soát và chỉ điểm cho "bộ đội" bắt người), có thể là con số người bị bắt và bị thảm sát không đến nỗi nhiều như vậy. Ai cũng nghĩ rằng với những thành tích "xuất sắc" như vậy, những cán bộ cọng sản nằm vùng và những người thân cộng hoặc hoạt động cho họ ắt sẽ được tưởng thưởng xứng đáng sau chiến thắng 75 (và chắc các đương sự cũng nghĩ như vậy), nhưng trên thực tế thì những người lớn tuổi chỉ được những chức vụ có tính cách bù nhìn, những người trẻ thì chỉ có vai trò rất thứ yếu. Nhóm Xuân, Tường, Phan rốt cuộc cũng hết được tín nhiệm, nay được xếp vào loại trí thức bất mãn.

Giờ đây trong bóng hoàng hôn của cuộc đời, nhìn lại quá khứ, tôi chỉ muốn giữ lại những kỷ niệm đẹp và quên đi những chuyện đau lòng. Tôi chỉ muốn ghi trong ký ức những âm thanh, màu sắc, hình ảnh quen thuộc của thời xa xưa nơi quê nhà: tiếng chuông Thiên Mụ, tiếng thông reo đỉnh Ngự, câu hò mái đẩy trên sông Hương, hình ảnh hoa phượng nở rộ trên sân trường Ðồng Khánh và Khải Ðịnh, cảnh trời biển bao la vùng Ðá Bạc, mặt trời lặn sau rặng núi Trường Sơn... Nhưng khổ nỗi, tôi không thể nào quên được tội ác gây nên bởi những nghịch tử của xứ Huế vốn dĩ nhân từ đôn hậu, cũng như không quên được nỗi khốn khổ của nguời dân lành ở cố hương. Như bao nhiêu người dân Huế khác, tôi mong rằng những con người hằng gây tai họa cho đồng bào rồi đây sẽ biết sám hối để cho dân chúng đỡ khổ đau và cho dân Huế tìm lại được nếp sống hiền hòa thuở thanh bình xưa.

Chỉ có lúc đó, tôi mới có thể gột rửa được hết những oán ghét buồn giận, giữ lòng được thanh thản để dọn mình đi vào cõi hư vô.

Tôn Thất Uẩn