Gặp Lại Các Bạn Già,

Ôn Lại Những Việc Xưa

Bài của Trần Trung Tính

Năm nay (2001) là năm tôi về quê nhà đầy niềm vui, kể như tạm coi là trọn vẹn, nhất là khi bọn tôi đã cố gắng hết sức để liên lạc cùng các bạn già ngày xưa cùng cam cọng khổ với các công tác thuộc về ngành điện lực. Ðược các bạn đồng thanh nhứt trí làm một đại hội thân hữu ÐLVN nội địa một lần cho vui vẻ, tại gia trang của ngài Sáu A tức A Lực, cũng là cậu 6 Gò Vấp. Thế là ngày 14-4-2001 đã đến và chúng bạn anh em được mời bằng cách chuyền tin qua người này người nọ, cũng đã tụ họp, nhưng quá khiêm tốn, chỉ khoảng 15 người. Bữa tiệc do gia chủ phu nhân và các con cháu của A Lực tự biên tự diễn nhưng rất là phong phú chu đáo phục vụ, có dịp cho cả đám mặc sức mà hàn huyên tán gẫu cho thỏa lòng mong đợi từ gần 1/4 thế kỷ nay mới có dịp gặp lại.
Câu chuyện xa xưa kể lại cho nhau nghe dòn tan không sao chấm dứt được, đâu đâu cũng là các kỷ niệm xưa, vui buồn, nguy nan, cực khổ đều có cả ... Không phải rượu vào lời ra mà đây là những câu chuyện có thật có sẵn tận đáy lòng chìm khuất bấy lâu nay, nay mới có dịp được bộc lộ, tuôn ra như thác tràn sóng vỗ, không sao kể xiết. Mãi đến khi trời tối mới có thể tạm ngăn được nỗi niềm tâm sự của các bạn già nay được một lần hội ngộ, tuy chưa được gọi là đầy đủ và thỏa mãn. Tạm chia tay lần này nhưng nhứt định hẹn lại một lần khác không xa sẽ cố gắng gặp nhau như thế này và sẽ cố gắng gom nhiều bạn hữu hơn nữa mới cam tâm. Những câu chuyện kể lại cho nhau nghe, nhắc lại chuyện xưa cũ đã qua, bạn bè ai nấy đều như đang sống lại trong những khoảng thời gian còn đang lo công tác đó vậy.

Riêng phần tôi, kể từ khi xuất ra khỏi ghế nhà trường kỹ thuật, trả nợ quân ngũ, tôi trở về làm việc ở Nha Hàng không Dân sự, ngành Teletype [Viễn ấn (ký) tự], sau đó nhảy qua ngành điện, nhập vào Quốc gia Trùng tu Ðiện lực cuộc [278 Hiền Vương], phòng Ðiện hóa nông thôn. Rồi vật đổi sao dời đưa đẩy cuộc đời tôi trong công việc về điện, hết Nha Kỹ thuật đến Nha Ðịa phương, rồi Trang bị, rồi Phối hợp Ðịa phương, cũng như "nằm vùng" hết phòng ban này tới phòng ban khác. Nhìn chung đều là đi công tác công trường liên tục, không ngơi nghỉ, kể từ khi miền Nam của mình còn đang "pha chè" nào nhà máy của Tây, của tư nhân khai thác, rồi của chính phủ do Bộ Công chánh chủ trì khi khai thác Ða Nhim, cho đến các giai đoạn thu mua, tân lập các trung tâm điện lực, thậm chí xuống đến chi điện lực, rồi dần dần xuống cả làng. 

Cuộc đời tôi đã lao vào đó, khi lo đồ án thiết kế theo chỉ thị cấp trên cũng như trực tiếp cùng các đại huynh, lúc lao vào các công trường đang hoạt động ỳ xèo khắp đó đây. Có lúc có những công tác quá khẩn cấp được lịnh tự biên tự diễn miễn sao hoàn tất mỹ mãn an toàn là kể như xong. Ða phần trong cuộc sống dính liền với điện lực hầu hết là công trường đường dây và thiết lập nhà máy điện hoặc trông coi các công trình do nhà thầu nhận lãnh trách nhiệm thực hiện theo khế ước, rồi sau đó kiểm tra, nghiệm thu công trình. Có thể trong khoảng thời gian phục vụ trong ngành điện kể như gần suốt cuộc đời của tôi [1965-81] đã phải khăn gói lên đường hành hiệp giang hồ có thể được xem như là một tay giang hồ đây đó trên mọi miền đất nước, qua bốn vùng chiến thuật, từ tỉnh thành đến quận hầu như đều có đặt chân đến, kể cả đảo Phú quốc [nhưng không có ra Côn sơn à nghe... sợ lắm!].

Với khoảng thời gian đã qua ấy, biết bao gian truân, nguy hiểm cận kề trong những chuỗi ngày công tác, mặc kệ chốn gian nguy nhứt cũng chẳng sờn lòng. Có lúc ngang qua vùng địch cũng bị bắn sẻ, nhưng đạn né mình như các chuyến công tác Trà Ôn, Trà Cú, Vĩnh Bình, Vĩnh Long hay Chương Thiện, hoặc Rừng Lá khi ra Hàm Tân, La Ghi. Ngoại trừ các vị đã an vị tại địa phương, nơi trụ trì cố định, hay các "đại gia" tháp tùng công tác để đến nghiệm thu hay bàn giao công trình lớn là không mấy lo âu cho đoạn đường nguy hiểm vì đã đi bằng ô tô trên lộ trình biết trước là an toàn, hoặc giả bằng phi cơ, v.v... chứ như bọn tôi là đi bằng phương tiện xe đò hay tự túc, ít khi nào sử dụng được công xa. Bản thân tôi thì cái máu giang hồ có sẵn, không bao giờ có ý nằm yên một chỗ cho an thân, vì còn đương độc thân tại chỗ cho nên hăng lắm.

Sau khi nhận lãnh công tác phải đi làm rồi, hồ sơ tài liệu ôm cho một đống, kèm sự vụ lịnh công tác trong đó có câu thòng "phương tiện di chuyển tự túc". Thế là một mình một ngựa (ngựa honda) vượt đường nhựa luôn đường đất đường cát để đến nơi phải đến. Tôi có thể tự hàolà trong suốt thời gian trách nhiệm đã qua tôi chưa bao giờ bị trở ngại công tác vì lý do vận chuyển cả, vì xe đò có thể vẫn bị trở ngại vì đường sá lúc ấy hay bị phá hoại mìn bẫy. Có khi bị lùa chung trong những chuyến đi bị VC chận bắt, tôi đã thoát khỏi bao lần như vậy ở khu Rừng Lá, trên đường số 7 từ Ban Mê Thuột lên Quảng Ðức (Gia Nghĩa) và một lần nữa giữa đường Chương Thiện - Phong Ðiền. Cái hiểm nguy thật vô số kể cho tôi cùng chúng bạn đã vượt qua. 

Nhắc đến khoảng thời gian ấy các bạn già của tôi ai ai cũng đã nghĩ lại mà chạnh lòng. Ai đã từng đi qua (bằng đường bộ, xe hơi, xe gắn máy) các vùng hỏa tuyến địa đầu như Quảng Trị, Hải Lăng, Thạch Hãn, hoặc An Lộc, Bình Long, Phước Long (nơi bạn già đồng môn với tôi đã đi làm Trưởng trung tâm là Lê Xuân Quang, người gốc miền Trung, đã bỏ thây không tìm được sau 1972), Châu Thành, khu tam biên đường lên Ban Mê Thuột hướng miền Ðông đất đỏ (xưa gọi là vùng Bà Rá bị đi đày), hoặc giả vào khu đồn điền cao su bạt ngàn của Quản Lợi, cái đồn điền cao su lớn nhứt của Tây tạo dựng trên miền Ðông từ thời Pháp thuộc nối liền qua tận đất Miên (Mi-mốt và Chúp). Nếu ai đã từng nghe qua đại lộ kinh hoàng nơi quốc lộ số 1 từ Quảng Trị vào Huế ghê như thế nào, nó tang tóc như thế nào và nguy hiểm đến dường nào, khi nghe qua hay thấy qua hình ảnh thì xin một lần tự đặt mình vào kẻ đã và đang đi công tác thực tiễn như chúng tôi, đã làm xong nhiệm vụ giao phó khi có lịnh lập đồ án cho đến khi xong công tác bàn giao thì đã lặn lội qua cái vùng hiểm nguy ấy bao nhiêu lần giỡn mặt với tử thần, tuy nay mình không còn là người chiến binh gan lì nữa mà chỉ là một nhân viên kỹ thuật công tác điện thôi.

Tất cả những người bạn cũng như tôi lúc bấy giờ chỉ tin vào số mạng thôi chứ mấy ai mà không sợ nguy nan bao giờ, nhưng chẳng lẽ ai cũng lo an toàn cho bản thân rồi công tác sẽ ra sao đây? Nào ai có biết cho cái kiếp tằm trả nợ dâu của chúng tôi lúc ấy...

Cũng qua bao dòng tâm sự tuôn tràn khi gặp lại nhau trong ngày họp mặt bỏ túi ấy, có đủ mặt cả nhóm đồng khổ nạn mà như vô tình dong ruổi để gặp lại tất cả và cùng ôn lại chuyện xưa, đó là chuyện một chuyến công tác khó quên và không bao giờ quên được trong suốt cuộc đời này của tôi và các bạn cùng cảnh ngộ... Ðó là các bạn già Nguyễn Văn Tấn, Trưởng công trường xây dựng đường dây, Ðàm Thành Hiếu, Trưởng toán công tác, Nguyễn Thanh Tòng, Trưởng ban cơ khí nhà máy công trường, và bản thân Trần Trung Tính, Giám sát công trường xây dựng lại toàn diện nhà máy và hệ thống điện cho Công trường sản xuất mủ cao su Quản Lợi thuộc tỉnh Bình Long. Câu chuyện như sau.

Sau ngày đứt phim 30-4-75 tan đàn rẽ nghé của miền Nam Việt Nam, tất cả trở thành nạn nhân, mới đầu còn nhẹ nhàng trong mấy tháng, nhân viên Nha Trang bị là kỹ thuật đầu não của Công ty Ðiện lực xưa, nay VC vào cũng vậy, rất cần thiết và quan trọng nên được tạm gọi là học tập đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa văn minh tiến bộ nhứt nhơn loại chỉ có một tuần trên sân thượng của tòa cao ốc và sinh hoạt cũng tạm bình thường tuy rất lo âu cho mọi người vì đã có nghe qua (rỉ tai) đường lối của đảng và nhà nước mới này trong khi đã qua một tuần gọi là học tập tập thể qua các loa miệng eo éo của tên cán bộ chính ủy MBÐ thuyết giảng nghe chói tai gai mắt mà miệng phải ngậm bồ hòn cho là ngọt, nín thở qua sông sau buổi làm thu hoạch ... trong khi đó khoảng thời gian sau 3 tháng thì lại thấy anh NT Tòng lò mò về Nha Trang bị trình diện ban quân quản điện lực và gom vô cùng ổ với tụi này dưới trướng của cán bộ hồi kết THC (quê ở Trà Ôn, Vĩnh Long, xưa là học trò tiểu học của ba tôi), có ông phó là NVK dân Củ Chi tập kết (sau là Ủy ban nhân dân Gò Vấp). Hai ông này cũng như ông trùm thay thế sư phụ TKK là ÐVT làm Giám đốc Nha Trang bị (vẫn tạm giữ tên cũ) và việc điều hành Nha tạm phân chia làm hai, một bên là đồ án thiết kế thi công, và một bên có tư cách như là đại diện cho công ty nhận lãnh công tác và bàn giao, tạm gọi một bên là A và bên kia là B (A làm B nhận). Bọn tôi nay lại lọt vào bên B tức là bên giao công tác và tiếp nhận sau khi bên A thi hành xong giao lại.

Lúc ấy bên A do một nhóm cán bộ hổ lốn điều hành, lúc đầu có PVR (sau làm trưởng ban đồ án), NVC (Sáu C.), công tác, LVÐ, trực tiếp các nhóm công tác đường dây và nhà máy.

Sau khoảng thời gian tôi cùng anh NT Tòng đi áp tải cái trục máy Pelton mới từ cảng Sài Gòn lên nhà máy Ða Nhim để lo thay cho máy phát điện số 2 bị hư trục, khi lên đó lại thấy toàn ban Ðiện lực cũđang im lặng như tờ trong phòng họp để lại nghe MBÐ thuyết giáo y như bài bản chửi rủa trên lầu Nha Trang bị. Xong công tác quay về Nha thì nhận được sự vụ lịnh kèm theo một mớ giấy giới thiệu lung tung đủ thứ để hôm sau lên đường công tác mới, địa điểm đồn điền cao su Quản Lợi (Bình Long), tháp tùng toán công tác xây dựng nhà máy và đường dây phục hồi hệ thống điện cho nhà máy sản xuất mủ cao su đã bị phá hủy sau cuộc chiến hè 72. Anh NT Tòng trước đó đã là Trưởng cơ khí của nhà máy Trà Nóc (2x33MW) cùng các anh NM Thuyết, VV Hoàng và bọn tôi, ND Niên, TÐ Úy lại lo nhóm máy phát điện Diesel 2100kW từ Chánh Hưng đem về để làm phụ thuộc cho 2x33MW, sau đó NV Hóa theo xuống điều hành, tiếp nối trước khi tôi phải đi kiểm soát 5 trạm biến điện 66/15kV ở các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long, Sa Ðéc, Rạch Giá.

Ngày lên đường công tác xuất phát tại Nha Trang bị, bên A do NV Tấn, Trưởng công trường, cùng ÐT Hiếu, Trưởng toán thi công, cùng một đoàn công xa đủ loại, đa phần vận tải từ cột trụ, dây điện và tất cả thiết bị cùng linh kiện trực thuộc về hệ thống nhà máy cũng như đường dây thật đầy đủ do theo lịnh xuất kho qua bảng chiết tính vật liệu của nhân viên đồ án thiết kế L Hùng lập nên. Ðồ án tái thiết hệ thống này đã do L Hùng lập sau mùa hè đỏ lửa 72. Lúc ấy đường lên miền Ðông khoảng khỏi Bình Dương chưa có xe đò chạy, và vùng Quản Lợi kể như bất khả xâm phạm, từ Bình Long đi vào đó khoảng 6 km thôi, vì sau cuộc chiến 72 lịnh lập lại hệ thống rất là khẩn thiết nên L Hùng phải sử dụng trực thăng thi hành công tác lập đồ án và cũng vì Quản Lợi đã thành bình địa nên khi lập bản đồ công tác nhứt định rất gay go và khó chính xác. Trong khi thi hành công tác lúc đó thì địch lúc nào cũng đang hiện diện quanh khu rừng cao su mịt mùng ấy.

Bấy giờ đã là tháng 8, đoàn xe công tác lũ lượt tiến lên, xe chỉ huy là chiếc 3CV Citroen (Ami 6) chạy cà tửng như con cóc nhảy, rồi đến xe đa dụng của anh TV Nghĩa lái (tôi và anh Tòng ngồi trên xe này) là xe vừa khoan lỗ vừa trồng trụ kéo dây luôn, gọi là line truck, sau đến là các xe tải cùng công nhân ngồi đầy ắp trên các platform cũng đầy đồ đạc và các túi hành trang cũng như cả thực phẩm đem theo theo tiêu chuẩn XHCN bấy giờ. Ðoàn xe và người đã vượt qua khoảng đường chưa đến 200 km từ ban sáng mãi đến chạng vạng tối mới đến nơi đã định. Trước mắt mọi người là một khu đổ nát âm u, trong khi bóng chiều đổ xuống quá nhanh sau chặng đường đầy nguy hiểm từ ngã ba rẽ từ An Lộc vào Quản Lợi, lịnh là xe sau phải luôn tuân hành chạy theo dấu xe trước và xe trước chỉ theo dấu cũ mà đi, nếu sơ suất là kể như toi mạng cả lũ trên xe, vì bom đạn thoát nòng chưa nổ đầy dẫy hai bên đường đi quanh co với muôn ngàn lỗ bom, đạn đại bác hòa lẫn với vô số xác xe quân sự đa phần là xe tăng, xe lội nước và súng đại bác sét rỉ hư hại.

Chúng tôi lấy giấy tờ liên lạc với các cán bộ có liên hệ trong giấy giới thiệu mang theo, tôi gặp ông "Mười Ch." là Giám đốc công trường nhà máy bấy giờ. Ông khoảng 50 tuổi, người gốc Củ Chi, tánh tình cởi mở theo bản tánh dân Nam bộ chánh gốc đã trực tiếp chỉ dẫn cho toán công tác nơi lập lán trại tại khu gia cư cũ của công nhân đồn điền nay đã đổ nát còn trơ lại vài vách xây bằng gạch ống. Nhìn chung khu vực này xưa là một khu chung cư của công nhân rất là tươm tất vì nhà nào cũng có đầy đủ nhà trên, nhà bếp, nhà vệ sinh v.v... tuy nay hoang tàn nhưng vẫn còn lại phần nền cũ còn căn bản rõ nét. 

Chúng tôi phân công, phân vị trí cho những nhóm công nhân đem theo tùy sở thích và ưa mến cá nhân để ở chung khoảng từ 4 đến 6 người một ngôi nhà đổ nát, và tự lo che lợp lại và quét dọn chỗ ở cũng như nơi sẽ làm nhà bếp ăn uống, tắm rửa ... Riêng bọn tôi mấy mạng gom chung một lều tạm và đem ghế bố ra để lo nghỉ ngơi sau cuộc hành trình không xa nhưng quá căng thẳng và mệt mỏi. Sau khi lo ăn uống qua loa với các món đã chuẩn bị để đến nơi là có ăn ngay, chúng tôi chui vô mùng để tránh muỗi như trấu, lỡ để bị cắn là kể như bị sốt rét ngay rất nguy hiểm, nằm trong mùng mà bàn công tác liên hệ cho ngày mai ra quân khởi công...

Ðến sáng hôm sau, sau một đêm dài mệt mỏi, lật bản đồ và cùng nhau (toán tiền quan sát trước khi thi công) đi xem vị trí nào làm chuẩn cho công tác, thì hỡi ơi, trong bản đồ là như vậy nhưng hiện thực lại không phải thế, đã thay đổi hoàn toàn không như xưa nữa khi đã thấy tất cả các khu được các công trường xây cất dựng lên các dãy nhà tôn cột kèo bằng sắt theo tiêu chuẩn Eiffel để làm nhà máy sản xuất mủ cao su, trong đó đã tân trang sửa chữa lại các máy móc thiết bị để trộn, lưu, cán mủ cao su và các nhà kho chứa hóa chất cho mủ cao su cùng các chai sắt chứa gas ammoniac để làm xúc tác mủ cao su không bị đông đặc ... Sự khó khăn ban đầu đã gặp ngay, đang lo âu nên đã quyết định gọi máy CB có sẵn trên xe line truckcủa anh Nghĩa về Nha Trang bị xin chỉ thị, và được Nha cho toàn quyền chúng tôi giải quyết và Nha sẽ yểm trợ tích cực nhu cầu nếu có thay đổi. Thế nhưng trong khoảng thời gian mất đến 3 ngày mới cắm xong các cọc định vị trí toàn bộ hệ thống điện trong khi tạm gọi là thở nhẹ nhõm phần khó trước mắt đã qua và cũng đồng thời việc lo lán trại chỗ ăn chốn ở cũng tạm ổn định, thầy thợ sẽ ra quân ngày mai để thi hành công tác.

Trong khi tất cả mọi người đã sẵn sàng cho ngày mai thì bên kia lán trại của công trường xây dựng nhà máy bỗng nhiên xôn xao khác thường, chạy qua xem động tịnh ra sao thì thêm một sự việc mở màn làm cả nhóm đều khiếp sợ, vì trước mắt mọi người là cả thảy có 7 xác người còn đang nằm trên các sạp bằng gỗ đậy mền kín đầu chân, hỏi ra cớ sự thì được biết họ vừa bị sốt rét cấp tính nên mất mạng rất nhanh. Khi có sự việc chỉ mới có 3 ngày đã đến đe dọa cả nhóm người mới đến đây, chúng tôi đi tìm các cán bộ của nhà máy và gặp ông Mười Ch. và đã được chỉ dẫn là đừng nên uống nước, dù đã đun sôi rồi để nguội cũng không được, và cố gắng đừng bao giờ ngủ trưa dù có mệt mỏi đi nữa, nhứt là phải nằm mùng tránh tuyệt đối muỗi cắn. 

Ngay ở Sài Gòn bấy giờ ăn uống đã cam go rồi, sau mấy tháng với VC nay đem thân xác lên cái xứ đi đày này ăn uống toàn là mấy bao bố (bao gạo cũ) khô mục của các loại cá biển do hợp tác xã bán lại và gạo mốc meo để kho lâu đời đóng dấu hiệu toàn chữ Tàu không thôi và các thùng nhựa nước mắm toàn muối Phan Thiết và mấy kí lô bột ngọt lên chốn thâm sơn cùng cốc này lại thêm cái khó khăn nữa là nguồn nước giếng có sẵn ở đây dòm xuống đầy xương người bên dưới, có khi không thấy nước nữa, còn giếng của nhà máy sản xuất mủ thì khi có khi không bơm nước được vì là giếng đóng không phải giếng đào như các cái cũ, máy bơm ba trợn khi bơm được khi không tùy hứng, thật trăm điều khó khăn, lưỡng đầu thọ nan. 

Nhưng khi đi xin ý kiến và chỉ thị của các cán bộ lãnh đạo nhà máy Quản Lợi về trại (vì hai bên trại cùng ở chung một khu giống như một xóm nhỏ vậy) thì lại thêm một tin té ngửa nữa, là bởi vì tất cả công nhân công trường điện đa phần là thanh niên mới xung phong vào ngành để tạm sống trong thời kỳ khó khăn ban đầu, khi mới vừa đến đã nghe bao đe dọa luôn chờ chực cái mạng sống vốn đã èo uột rồi, nay thấy ngay cái cảnh chết người quá dễ của sốt rét mà dân địa phương ở đây trông người nào người nấy hiện tại xanh như tàu lá chuối vậy, hình như ai cũng đã chứa sẵn bịnh sốt rét rồi cả. Vì vậy cho nên khi thấy cái cảnh vô cùng khó khăn hiện tại, bọn nhỏ hè nhau một lượt bỏ trại mang hành trang đem theo trốn chạy về Sài Gòn gần hết. Khi biết điều ấy xảy ra thì nhiều trại còn lèo tèo mấy ngoe chưa can đảm bỏ đi vì một mặt không dễ tìm xe về Sài Gòn, vì đường đi khó khăn nguy nan khôn lường, lại sợ bị bắt khi về Sài Gòn vì đa phần có gia đình cố định. 

Toán công tác chưa ra quân mà đã y như miền Nam mình bị đứt phim vậy, tự động tan rã. Nhìn lại mấy tên còn lại đa phần là đứng mũi chịu sào thì làm sao đây khi sự việc vừa xảy đến quá bất ngờ không đỡ kịp vì tụi nhỏ đã trốn về trong im lặng không báo trước một lời. Thế là ban lãnh đạo nay là "ban lãnh đạn" rồi, gọi máy về Sài Gòn ba trật ba vuột khó khăn vì nhiều đài liên lạc cùng tần số lô nhô nên quyết định khẩn cấp là biệt phái một tên về báo cáo rõ ràng và xin chỉ thị cấp tốc. Trong khi xin cán bộ của nhà máy Quản Lợi giúp đỡ sự việc nan giải như đã xảy ra và các nhu cầu cần thiết cho toán công tác phải có để sinh tồn, vì vậy Trưởng công trường chạy về lo việc quân và xin chi viện thuốc men để phòng chống sốt rét. Trên công trường được nhà máy đem vôi bột rải khắp nơi doanh trại để sát trùng. Và tất cả chỉ còn biết ngồi chờ tin tức mà lòng dạ bồn chồn âu lo không ngớt. Mãi đến mấy ngày sau thì Trưởng công trường trở lên trên một xe hàng đầy công nhân đào ngũ, tái ngũ trở lên với khuôn mặt tươi tỉnh vì đã có mớ bùa hộ thân là thuốc muỗi và thuốc ngừa sốt rét cũ của quân đội VNCH dùng lúc trước Chloriquine, viên đỏ gần bằng móng tay cái, ngày xưa còn đi lính 6 tháng mới uống một viên đề phòng khi hành quân và lúc nào cũng có trong ba lô cả, nó cũng là loại thuốc giải nạn hay nhứt khi có bạn nào không muốn sống trên cái cõi đời ô trọc này nữa, chỉ cần tối đa ba viên là miễn cứu chữa, đi một cách êm ả cuộc đời đáng ghét. Thế mà nhân viên công trường tất cả đều y lịnh cứ một tuần lễ là thầu một viên ngay. Uống chỉ hơn hai tháng là có mấy tên nghễnh lỗ tai ngay, nói một đàng làm một nẻo, có tên lở môi lở miệng, ghẻ chóc mọc luôn vì thuốc sinh nhiệt cao quá, nhưng sợ chết phải è ra nuốt đại.

Như vậy là công trường đã trễ nãi cả tuần rồi, tiến độ thi công bị chậm trễ theo kế hoạch giao phó công tác nhận lãnh, lại phải làm báo cáo gởi về kèm theo giải thích từ cái một. Thế rồi ngày khởi công cũng phải đến, ở càng lâu càng xanh mặt chớ có ích lợi chi đâu, rõ ràng đây là địa ngục trần gian hiện thực. Ra quân, xe và toán rải trụ lo phận sự, toán trồng trụ lo theo xe đa năng của anh Nghĩa làm phận sự, toán lập nhà máy cứ lo bổn phận đã ban mà làm việc. Tôi và anh Tòng cùng các anh Tấn, Hiếu luôn theo sát công trường, không dám lơ là sơ hở một chút nào cả, vì toàn diện khu vực nhà máy và cư xá cũ của Tây để lại nay là bình địa, gạch ngói tường vôi xe cộ hòa lẫn xác xe tăng bom đạn đủ thứ ngổn ngang. 

Ngày xưa nơi đây đã là một tiểu thành phố đầy văn minh, tiện nghi còn hơn cả ngoài Bình Long An Lộc nữa. Nơi đây dấu vết còn in rõ một phi trường Cessna ống dẫn xăng bằng thép không sét, có hệ thống và xe chữa lửa bồn xăng dầu đầy đủ. Có nhà thương lầu nhiều từng, có chợ búa có trường học hẳn hoi, có chùa Phật giáo, có nhà thờ Thiên Chúa, và cư xá cho công nhân đồn điền mà nay còn rõ ràng là nhà nào của ông cai, nhà nào là của dân thợ cạo mủ, v.v... cùng khắp rừng cao su và khu cơ sở ngày xưa nay đổ nát sau cuộc chiến 72, đâu đâu cũng là dấu vết của tử thần hay thảm họa vì những cái mặt nổi mà mắt mình nhìn thấy và những cái gì đó nó tiềm ẩn bên dưới mặt đất hay đâu đó cùng khắp nơi, chen lấn trong các thân xác chiến xa đa phần của cọng sản chỉ có các máy cày chạy bằng sên loại D9 của công binh cọng hòa xài nằm rải rác đó đây khi bị bom đạn bắn trúng, cùng các quả bom còn in rõ chữ CBU hay bom mang đầu bom bi trong thân nhưng vì lý do gì đó không nổ trên không mà đâm đầu xuống đất còn ló lên gần hai thước trên mặt đất màu xanh ô liu thấy rợn người khi nghĩ đến nếu nó nổ sẽ ra sao đây?

Dù là người có đạo Thiên Chúa như anh Nghĩa lái xe khoan lỗ trồng trụ, chúng tôi đều đồng ý mua một mớ bánh ở chợ chồm hổm thường nhóm mỗi sáng ở nền chợ cũ khi xưa nay loang lỗ bom đạn và vẫn còn nhiều đạn chưa nổ đây đó, nào bánh con ngựa con cá, nào nhang, để cứ đến mỗi vị trí lỗ trụ phải đào là anh Nghĩa xé một miếng lá chuối hay lá môn lá khoai để vào đó năm ba cái bánh và thắp ba cây nhang khấn nguyện. Chúng tôi đều luôn làm như vậy cho đến khi hoàn tất công tác. Lúc bấy giờ chúng tôi chỉ biết cầu nguyện và cúng lo hối lộ kẻ khuất mặt chết hoang đâu đó phù trợ vậy thôi, và khi đào lỗ, lưỡi khoan xoáy xuống đất và dùng đất đã khoan lên thì trong đó vô số là đầu đạn chưa nổ đủ thứ từ đại bác đến M79, bom bi ... thế mà nó đã nằm im bên dưới lớp đất màu đỏ của miền Ðông và ngay nơi phải khoan để dựng trụ điện mới chết chứ! Lúc đầu còn dè dặt, lâu dần đâm quen đâm liều cho nên đào đất lòi lên bao nhiêu lấy xẻng xúc bỏ sang bên ào ào, và cứ tự nhiên trồng trụ xuống và lấp đất lại để toán kéo dây tiếp tục làm việc cho xong công tác giao phó. Theo kinh nghiệm sẵn có của các anh Tòng và Tấn (hai anh đều là dân công binh cũ nên rất rành chất nổ và bom đạn), cái sự việc mà chúng tôi đã đương đầu trong công tác cũng là một sự thử thách cả tính mạng của tất cả trong việc làm ấy nhưng làm sao để tránh để né những gì mình không rõ và không có cách có phương tiện để dò xét trước như khi học ở quân trường, bởi vì họ muốn như thí mạng tụi này cũng chả có sao cả, thế là tụi này chỉ còn biết giao và cầu mong cái số mạng của mình tới đâu hay đó vậy thôi. 

Có một lần duy nhứt trong công tác đó đã xảy ra một tai nạn chết người do công tác trồng cột điện. Số là vị trí trụ phải khoan và trồng nằm gần một cái chòi cột tạm xiêu vẹo đủ loại che bởi mấy tấm tôn loang lỗ bom đạn, không một tấm nào còn tương đối tốt đẹp, đa phần rỉ sét và cháy nám cong queo của một ông già lúc đó cũng độ khoảng 50 hay 60 không rõ, vì dân sống còn sau cuộc chiến 72 đều già trước tuổi vì cảnh quốc phá gia vong, tan nhà nát cửa, chỉ còn lại một mình sống thui thủi với một con vượn màu vàng mặt đen mà ông ta coi như con đẻ, sống với ông, đi đâu cũng tò tò đi theo như con nít vậy. Ông ta sống nhờ bằng mấy gốc cây cà phê còn sống đâm chồi cho trái sau mấy trận bom đạn phạt đứt cành, hàng ngày bẻ trái chín lột vỏ phơi khô, đem bán cho quán độc nhứt của cô Hai dưới chợ chồm hổm. Sau khi toán trồng trụ trồng xong cây cột ấy, chúng tôi có ngồi cùng ông xem và nói chuyện cũng như nựng nịu con vượn dễ thương của ông, chờ xong công việc trồng và nén đất xong đi trồng tiếp vị trí khác, cách xa trung bình khoảng 70 m. Ðến khi trồng vị trí trụ thứ ba cách trụ gần nhà của ông ấy thì bỗng nghe một tiếng nổ long trời, nơi rừng cao su âm thanh vang dội, nhìn lại phía đã trồng trụ, chưa biết rõ nguồn cơn, chúng tôi quay trở lại thì ngôi chòi đã xẹp xuống vì chấn động và không thấy ông cụ ấy ở đâu cả, chỉ thấy con vượn mặt buồn thiu ngồi khóc ở bên lều đã sập, và khi nhìn kỹ xung quanh đấy mới thấy vướng vít các mảnh thịt, mảnh áo quần, vốn đã không lành lặn gì nay đã tan xác muôn mảnh. Dấu máu loang ngọn cây cành lá, cả mảnh vụn ruột gan trên các nhánh cây xung quanh nơi nổ ấy. 

Thế là công trường tự động dừng lại, lo tiếp tay vào việc tìm kiếm lại phần nào các mảnh thịt xương đã vung vãi khắp nơi để đào một cái hố nhỏ tạm gọi là huyệt, lót lá và những tấm ni lông cũ rách làm hòm chôn các cái gì còn kiếm tìm được, gọi là một nấm mộ cho ông. Và thế là cả xóm (nôm na là những gia đình đã qua cơn biến động 72 còn sống sót, đa số chỉ một mình không nơi nương tựa, phải đành bám sống nơi đây lây lất trong các cái gọi là nhà nhưng chưa được đến cấp gọi là lều nữa là khác, đa số làm bằng tạp nhạp lượm được gì cất nấy) chung lại lo cho ông, và cô Hai chủ quán đành rước con vượn đáng yêu về nuôi. Nhưng con vượn ấy đã vượt tình cảm quá loài người, vì ai năn nỉ cách gì đi nữa nó cũng không ăn không uống dù là sữa và nước, nó cứ khóc và khóc mãi đến mấy hôm sau thì thấy nó nằm chết trên nấm mộ đất của ông già. Thế là lại thêm một nấm mộ nữa kế bên ông. Khi viết lại những dòng chữ này, cái câu chuyện đau đớn này mà tôi và các bạn đã có được chứng kiến không sao ngăn được ngấn lệ khi nghĩ đến cái hình ảnh vừa thấy đó rồi mất đó, với cái tình cảm vô biên của một loài thú như vậy, loài người đã mấy ai có được như vậy và vượt được hơn con vượn ấy!

Và cũng trong chuyến công tác đầy tử khí này mà bọn chúng tôi, gồm Tòng, Hiếu, Nghĩa và tôi, thông thường làm việc liên tục, ăn cơm trưa xong là làm việc ngay, chiều mặt trời mau tắt nắng ở khu rừng cao su râm lá cho đến khi nào việc làm tạm gọi là hơi rảnh rỗi đôi chút thì mới nghỉ trưa sớm và chiều làm việc ít giờ đi để dưỡng quân. Có một hôm trưa hè oi ả, suốt dọc hai bên đường của khu nhà máy sản xuất mủ cao su Tây xưa trồng rất nhiều cây điệp Tây (cây phượng), hoa đã nở rộ tuy thân xác bị bao miểng bom đạn băm vằm loang lỗ gãy ngọn gãy cành, tét thân thê thảm, nhưng khi tỉnh là lá cũng xanh, hoa trổ đỏ rực cả hai bên đường rơi rụng thật chẳng khác gì xác pháo Tết, lại thêm vào hạ ve sầu kêu inh ỏi mọi nơi, thật vui tai. 

Trưa hè có khác, ở nơi đây vì gió rừng luôn lạnh lẽo, khí núi như đe dọa mọi người mọi vật, chúng tôi 4 đứa đâu dám ngủ trưa, dù có rảnh thời gian đi nữa, nhưng những giờ như vậy rảnh rỗi ban trưa làm gì cho qua thời gian nhàn rỗi như thế, cho nên cả nhóm hè nhau đi xuống phố chợ (nói cho oai vậy chứ chỉ có mấy cái mái che tạm bợ chung quanh khu nền chợ cũ đã tan hoang) để xuống quán cô Hai uống cà phê trưa cho đỡ buồn. Từ khu lán trại đóng quân đến khu phố chợ ấy dài khoảng độ gần 1 km đường qua lại trong các khu nhà máy sản xuất rồi qua các đoạn đường trống trơn của đồn điền mà xưa kia là những con đường chánh của nơi đây, hai bên có cất các ngôi nhà đẹp đẽ theo kiểu nhà bánh ít của Tây, nay bom đạn san bằng đổ nát và chỉ còn lại những đống gạch ngói đè bẹp những gì trong nhà kể cả người, nay vẫn còn trơ xương bên trong nếu lưu ý xem và bên trên các thứ ấy là vô số dây leo loại duy nhứt và nhiều nhứt đó là dây sắn (củ sắn) mà người miền Bắc gọi là củ đậu, Nam gọi là củ sắn, để xào thịt ăn, hoặc nóng nực lột vỏ nhai cho đỡ khát nước ở ngoài công trường. Mục đích Tây họ cho trồng cây sắn dây là để nó có khả năng tận diệt loại cỏ tranh (loại lấy rễ nấu nước uống cho mát và lá lợp nhà), và dọc hai bên đường đều đầy dẫy dây sắn bò phủ lên xanh rợp để che đậy dấu vết đau thương đổ nát bên dưới do chiến tranh gây nên, dọc trên đường còn trơ lại vài xác xe ủi đất loại D9 (máy ủi loại lớn mạnh) công binh VNCH dùng rất nhiều hiệu Caterpillar Mỹ. 

Chúng tôi đi loanh quanh trong các dãy nhà trại ra đến khoảng đường trống ấy chỉ còn đến cái ngã ba rẽ trái là xuống chợ. Nơi góc đó có một cái xe D9 bị bom rơi trúng phòng lái nổ nên bung ra mà dây sên đều còn nguyên vẹn, chúng tôi bốn người khi cách xe khoảng chừng độ 100 m trên đường trống trơn không một bóng người vào trưa hè như thế, thì bỗng thấy một thằng bé khoảng 12 hay 13 tuổi ốm yếu, mặc quần dài ống cao ống thấp, trên mặc một áo len màu đỏ chói băng qua đường và thong thả leo lên máy ủi đất. Tụi tôi đến nơi, anh Nghĩa bảo "Ê, mày có bằng lái xe không mà leo lên lái xe hả?" Tụi tôi cũng vừa đùa vui vừa cười, và anh Tòng bảo thằng này trời nóng như vầy mà nó mặc áo ấm đỏ bằng len, "bộ không nóng hả mậy?", còn Hiếu thì bảo có lẽ thằng này leo lên xe chắc muốn chôm hay gỡ cái gì đó, cho nên bốn tên mới đứng lại gọi nó, bảo xuống đây biểu, gọi hoài không thấy trả lời, anh Nghĩa tức quá leo lên xe xem sao, nhưng khi leo lên lại không thấy ai cả, chỉ có lỗ bom khổng lồ phá bung xe thôi, tuyệt đối không có ai và cả bọn không tin vội leo lên xe kiếm phụ và y như vậy nhìn từ trên xe xuống chung quanh khu đó vẫn im lặng như tờ, xa tạm một khoảng cũng chẳng gặp hay thấy một ai cả. 

Loay hoay kiếm mãi cũng chẳng thấy từ trên xe đến chung quanh xe đều bặt vô âm tín, thế là cả nhóm lầm bầm bỏ đi xuống quán uống cà phê mà không quên chuyện đó, cứ nói với nhau không lẽ thằng này biết biến hay sao vì cả bốn tên đều nhìn thấy từ xa cho đến gần trong khi trưa hè khoảng 12 giờ, đến khi các khách trong quán trông tụi này cười và cô Hai chủ quán hỏi thăm tụi này là có phải đã thấy cái thằng nhỏ mặc áo đỏ quần xăn ống cao ống thấp ở khoảng đường đó hay không thì chúng tôi nói là đúng như vậy, nhưng cũng còn rán gượng là bốn đứa vây kiếm mà nó trốn biệt mới là hay chớ. Khi đó mọi người mới cho biết ngọn nguồn là vùng này ai còn sống đều gặp nó cả, mà nó thì đã mất từ hè 72, cùng gia đình nó tại ngôi nhà đối diện với xác xe ủi đất đó. Ðến đây tụi này mới hiểu ra câu chuyện, thế là bọn mình gặp ma ban ngày rồi. Tất cả mọi người ở đây không ai lạ cái cảnh gặp ma ban ngày, còn ban đêm thì sao? Thiên hạ lại bảo rằng còn nhiều hơn nữa và vô số kia, nếu ai đi đêm đều có thể gặp và có khi đến viếng luôn người đang ở tại chỗ mình ở mà nếu mình không biết rõ cũng kể như gặp người cùng xóm không biết mặt hỏi thăm vậy thôi. Vì họ lý giải các oan hồn ở nơi đây đầy dẫy nhưng các người hiện lên ban ngày ít hơn ban đêm do một đẳng cấp linh thiêng sao đó mình không rõ, cho nên tụi tôi tin rằng sự cúng vái cầu xin có thể có người cõi âm phù trợ cho tai qua nạn khỏi trong toàn chuyến công tác đầy cam go và chết chóc ấy. Tin hay không tùy theo đối tượng của cá nhân và tôn giáo, nhưng tôi dám bảo đảm với tất cả thân hữu là sự thật một ngàn phần trăm, vì tôi và các chứng nhân đã hội ngộ để nhắc lại chuyện xa xưa này và hiện vẫn còn tồn tại ở Việt Nam.

Vào một ngày nghỉ chúa nhựt, không biết làm gì cho hết ngày giờ cho nên tôi rủ anh Tòng đi chơi đó đây cho biết. Thế là hai tên lội ngược ra An Lộc dọc theo đường xe chạy ngoằn ngoèo từ trong rừng cao su Quản Lợi ra đến thị xã An Lộc, khoảng chừng 6 km đường nhựa xưa nhưng nay loang lỗ bom đạn hư nát, nay được bồi dưỡng bằng đất đá do các nhóm thanh niên nam nữ xung phong công chùa bị chiêu dụ phục dịch cho cách mạng và cũng nghe đâu qua công tác vá đường này cũng hao nhiều thanh niên nam nữ rồi đó. Ði trên đường tuyệt đối đi theo dấu xe cũ, không nên dại dột tìm đường mới để đi, đồng nghĩa với tìm đường tử như không vậy. Tuy thế chứ nếu đi bộ theo dấu cũ cũng phải lanh chân lẹ mắt để né tránh đạp thêm một lần nữa trên các trái đạn đa phần là M79 thoát nòng đầu tuy bị xe cán dẹp lép mà vẫn còn ghi sọc của đường khương tuyến của nòng súng phóng đi. Vào thành phố đầu ngã ba bên mặt là đi tiếp lên Bình Phước, hay Phước Thành gì đó khi xưa mà lúc đó là Phước Long, trên ấy nghe nói có trại Bà Rá để nhốt trẻ bụi đời mất dạy hồi thời Tây sao đó không mấy rõ cho lắm, nhưng chung qui là vùng sơn lam chướng khí ăn uống cái chi cũng đều bị chói nước hay chướng nước, sau đó cái bụng phình lên, da dẻ vàng xanh, bủng xè, sống như cái xác có bầu biết đi cà lơ vậy thôi. 

Tụi tôi đi tham quan thành phố trong điêu tàn đổ nát khắp nơi, khi tẻ về phía trái hướng về Sài Gòn để lần mò đến các khu đổ nát bình địa không còn một cái gì gọi là nhà lầu còn lại cả, chỉ gạch ngói tôn đổ nát. Nơi tiểu khu còn một cái bảng bị bom đạn dày xéo tơi bời, còn thấy chữ "Tiểu khu An Lộc", mới biết đây là khu Tỉnh trưởng ở và chiến đấu, quan sát kỹ thì thấy phía dưới các đống gạch đá đổ nát có các lỗ châu mai, các bao cát chất thành công sự phòng thủ còn rõ nét và các nòng súng bị hư gãy, rỉ sét vương vất khắp nơi, phía ngoài sân mặt trước của công sự ấy là rất nhiều xác xe tăng VC nằm dí đầu súng vô hướng ấy giống như đàn cua sắp hàng vây phục miệng hang, nhưng hầu như tất cả nòng súng đại bác trên xe nếu còn nằm trên pháo tháp hầu như bị tình trạng giống như nhau cả vì bị bể nòng nổ toe ra như cọng hành chẻ đầu ngâm nước vậy, trong khi bên trong xe tăng và các vị trí trên pháo tháp đã bị mở tung nắp ra, nhìn vào thấy ngay cảnh giựt mình kinh sợ vì hiện còn đầy đủ các thành viên của xa đoàn, đâu ngồi đó, nay chi là bộ xương mặc quân phục màu ô liu mục nát có cái đầu nằm phía dưới sàn xe mà chân tên nào cũng đã được đeo một sợi lòi tói (dây xích để neo ghe tàu) loại nhỏ khóa vào chân bằng khóa bằng gang có in chữ Tàu bị rỉ sét cả còn đầu kia đã dính dưới sàn xe. 

Ðối diện bên kia đường trước tiểu khu là công viên nơi có tất cả 60 mộ phần của các chiến sĩ Biệt cách Dù 81 đã hi sinh khi đến giải tỏa An Lộc và các chiến xa bị hạ tại đây đều do các anh ấy chơi bằng lựu đạn và chất nổ cá nhân, loại đặc biệt cho các Biệt cách dùng. Các mồ chôn tạm bợ nhưng thứ tự ngay hàng có bia bằng gỗ thùng đạn các súng XM18 còn cắm trước mộ đã sét cứng và tấm bảng bằng gỗ thùng đem đóng dài viết hàng chữ "An Lộc địa sử ghi chiến tích, Biệt cách Dù vị quốc vong thân" còn đó, nhưng sau này bị san bằng do VC bắt tù cải tạo lên dọn dẹp ủi láng cóng.

Trong thời gian bọn này nằm vạ vì công tác ở Quản Lợi, có sạc bình điện và cho mượn đèn xe hơi để cho các toán bảo vệ nhà máy xách súng đi săn thú về chia cho các đội công nhân gọi là có thêm bồi dưỡng với các bao cá khô meo mốc, sau khi đã được đặt xong một máy Caterpillar 400 kW đem từ Gò Công lên để chạy cho sản xuất cao su và chờ cái nhóm ngoài Bắc đang mang vào một bộ máy phát điện mới nghe theo báo cáo là loại máy "hiện đại" nhứt đó, nhưng đến khi đến nơi tụi này bật ngửa ra vì đoàn xe gồm hai xe móc hậu (platform) 18 bánh của Nga cùng một commando car chở xếp theo, trên đó chở toàn bộ một máy phát điện cao to nhưng khi đặt vào nền xong, gỡ các bao bì thì chỉ thấy công suất máy chỉ vỏn vẹn 175 kVA của Ðông Ðức sản xuất năm 1974 mới toanh, to lớn hơn Cater 400 quá hai lần, đặc biệt khi vận hành hãy còn công nhân cứ thỉnh thoảng leo lên thang chạy vòng trên đầu máy cầm bình dầu nhỏ nhỏ bơm bơm gần giống như các giàn máy xưa ở Cần Thơcủa Tây để lại và các con trâu già Singer ở Long Xuyên, hơn nữa cái gì nó cũng bự nhưng công suất nhỏ và tốc độ máy chậm nữa, nên khi đã nối ráp bảng điều khiển khổng lồ của nó đứng chật cả nhà máy kế bên cái bảng của Cater 400 bề ngang chỉ có một thước, cao 1 thước 8, và không có cách gì hòa hơi cùng nó được khi cần công suất tổng cọng cao hơn 400 kW, vì thế đành chạy riêng rẽ, cho nên lắm lúc khi các máy sản xuất đã hoạt động nhiều, tội nghiệp cái Cater 400 làm việc "quá tải" chạy ống thoát khạc ra lửa. 

Anh Tòng có xin đề nghị tăng cường sau đó khi đã tập huấn và giao lại cho nhà máy tự điều hành lấy và chúng tôi được quay về bổn quán (mừng húm vì còn nguyên vẹn). Và nghe đâu sau đó không lâu cũng có toán bảo trì cơ hay điện gì đó lên Quản Lợi sửa chữa máy Cater 400 dường như bị quá tải nên bị hư hay cháy sao đó, và việc có tăng cường máy móc chi không đó là chuyện sau này chúng tôi tạm được yên thân để nhận lãnh công tác mớithuộc miền Trung từ khoảng trạm 66 kV Cam Ranh chạy ra Nha Trang rồi Ninh Hòa Hòn Khói trực thuộc Nha Trang (thuộc Công ty Ðiện lực miền Trung lúc đó). Giám đốc Phú Khánh là ông cán bộ NVP dân Nam cũng khá dễ chịu bấy giờ, khi ấy ÐV Mỹ bị kẹt ở Nha Trang và sau đó móc nối TT Cang chạy về Rạch Giá "quy mã", đến giờ bặt vô âm tín tuy lâu lâu có lộ danh cà trầy cà trật, không biết nay ra sao nữa?

Xin tạm chấm dứt chuyện dài ở đây vì còn rất dài nữa trong công tác xa xưa, kể thêm sợ làm chán lòng thân hữu.

Trần Trung Tính