Chuyện Di Tản Năm 1975

Và Cơ Hội Của Nước Mỹ

Bài của Trương Lệ Chi

(cựu phu nhân Hoàng Ðại Bá)


"Thế sự thăng trầm quân mạc vấn!"
Ðã 33 năm qua rồi hôm nay tôi mới có dịpnói lên sự tri ân của tôi đối với các anh trong Ðiện lực Việt Nam trước năm 1975.

Anh Hoàng Ðại Bá mất đi đã để lại cho tôi một gánh trách nhiệm quá nặng. Khi anh vừa nhắm mắt trong tay tôi không còn lấy một đồng, anh Nguyễn Hữu Phúc (cùng làm trong Hệ thống Phối trí Ðiện năng với anh Bá) phải lấy "quỹ đen" của cơ quan cho tôi mượn tạm để đặt cọc tiền quan tài. Khổ quá, không tiền, không nghề nghiệp (lúc đó tôi còn là sinh viên trường Dược), lại đang có thai, cọng thêm 3 đứa nữa hãy còn quá nhỏ.

Tôi cám ơn tất cả các anh trong Ðiện lực bấy giờ đã tận tình giúp đỡ tôi, nhất là về mặt tinh thần. Anh chị Chánh (tôi quên mất họ của anh) thường xuyên đến an ủi và giúp đỡ tôi mọi mặt. Tôi còn nhớ ông Lê Khắc Huề đã đến phúng điếu hai lần, có lẽ ông biết được sự túng thiếu của tôi, và các anh đã lo ráo riết để xin cho anh Bá được chôn vào nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi. Anh Hồ Văn Phong đã đem tôi vào làm tạm tại Trạm Biến điện Thủ Ðức, và còn nhiều anh khác nữa. Lúc bấy giờ tôi không biết phải làm gì để đủ tiền nuôi các con ăn họcđến nơi đến chốn, và tương lai mình sẽ ra sao !

Ðến đầu năm 1974, tôi gặp lại một người bạn, chồng chị là bạn thân của anh Bá khi hai anh còn học ở Quốc học Huế. Chị cho tôi biết có chương trình những gia đình người Mỹ họ nhận các trẻ mồ côi về làm con nuôi, chị đích thân đưa tôi đến những cơ quan từ thiện này. Tôi được biết hai cơ quan là "FCVN" (Friends of Children of Vietnam) và "Welcome Home". Khi đến đó, họ đã cho tôi xem những tấm hình các gia đình Mỹ nhận các trẻ em mồ côi tại VN và họ cho tôi biết "nếu các con tôi được nhận thì tôi vẫn thường xuyên được liên lạc với chúng nó và đúng 18 tuổi chúng nó có quyền chọn nơi nào chúng muốn sống". Như vậy tôi có thể biết tin tức các con và sau này chúng có thể về với tôi được. Với suy nghĩ thô thiển của tôi lúc bấy giờ, tôi liều lĩnh quyết định gởi các con vào hai cơ quan trên. Tôi bắt đầu làm đơn. Khi thủ tục giấy tờ đang xúc tiến thì tình hình đất nước mình lúc bấy giờ hãy còn sáng sủa lắm, từ Quảng Trị vào đến Sài Gòn rất bình yên. 

Ðến tháng 8 năm 1974, cả hai cơ quan đều cho tôi biết họ chỉ nhận hai đứa nhỏ, còn hai đứa lớn đã quá 10 tuổi, họ không nhận. Thật ra trong thâm tâm tôi, tôi chỉ muốn gởi hai đứa lớn, chúng còn biết cách liên lạc về gia đình, hai đứa kia còn quá nhỏ tôi không muốn xa lìa chúng. Lúc bấy giờ tình hình đất nước bắt đầu sôi động, từ Bến Hải vào Quảng Trị, Huế, Thừa Thiên. Tôi quyết định gởi hai đứa nhỏ vào cơ quan FCVN. Như vậy bên cơ quan Welcome Home vẫn còn hai chỗ trống, tôi đã lấy khai sanh của đứa 7 tuổi cho đứa 11 tuổi đi. Tôi không còn cách gì để tráo khai sanh cho đứa 12 tuổi nữa được, vì khai sanh kia là con gái.

Thời gian này tình hình chiến sự thật xáo trộn, những người từ Ðà Nẵng ùn ùn vào Sài Gòn để lánh nạn cọng sản. Có lẽ người Mỹ họ biết trước những gì sẽ xảy ra, nghĩa là miền Nam bị bỏ rơi và Sài Gòn bỏ ngỏ. Thế là họ không cho tôi vào thăm các con nữa, có thể họ nghĩ rằng tôi nhớ các con, tôi vào bắt chúng lại sẽ làm cho sự việc rắc rối thêm. Chúng đi rồi, căn nhà trở nên vắng vẻ lạ lùng. Ðã bao lần tôi muốn đổi ý định, muốn vào trung tâm để xin các con lại. Thôi thì chúng không có tương lai cũng được, đói khổ cũng được, miễn có mẹ có con. Các con tôi đi rồi tôi mới cảm nhận được tình mẫu tử của tôi cho chúng nó nặng sâu như thế nào.

Kế đến được tin chuyến bay rớt vào ngày 15 tháng 3 năm 1975, tôi như người mất hồn. Tôi không biết các con tôi có trong chuyến bay đó không! Ðến bây giờ tôi không thể hình dung được nỗi khủng hoảng tinh thần của tôi lúc đó. Tất cả trời đất sụp đổ trước mắt tôi, bao nhiêu hy vọng đã biến thành tuyệt vọng. Ðã vậy còn thêm sự xỉ vả bên gia đình chồng và bạn bè của anh Bá. Họ bảo tôi đem con bỏ chợ, một số còn cho rằng tôi đem con bán cho Mỹ để lấy tiền. Sau chuyến bay rớt đó, tôi được người quen làm việc trong trung tâm FCVN cho biết là chúng nó chưa đi. Còn đứa ở Welcome Home thì sao ? Tôi vẫn chưa hoàn hồn. Mãi sau này tôi mới biết đứa 11 tuổi rời khỏi VN trong chuyến bay cuối cùng của các trẻ mồ côi, ngày 28 tháng 4 năm 1975.

Tôi viết đến đây nước mắt tôi đã ràn rụa, một quá khứ quá hãi hùng. Các gia đình tôi được biết trong hoàn cảnh và điều kiện như tôi, họ đều thất lạc và mất hết con. (Sau này nếu có dịp tôi sẽ tường thuật cơ may nào tôi đã tìm lại được hết các con. Khi chúng đến Mỹ, họ đã thay đổi họ tên các con tôi cũng như không cho biết các con tôi đến đâu và ở đâu.)

Mãi đến năm 1986 tôi gặp được một cựu sĩ quan QLVNCH. Anh này đã bị cọng sản giam cầm 8 năm, khi được trả tự do về thì vợ anh đã đi lấy chồng khác. Thế là chúng tôi kết hôn, và chính phủ Mỹ đã chấp thuận cho chúng tôi đến Mỹ theo diện HO năm 1990. Sau 16 năm trường tôi gặp lại các con tôi. Những đứa trẻ này lớn lên ở Mỹ, chúng nó không còn nhớ lấy một tiếng Việt, còn tôi với vốn sinh ngữ quá nghèo nàn không đủ từ để diễn tả những xúc động của mình. Chỉ còn biết khóc và khóc, không còn hoàn cảnh nào éo le hơn của mẹ con tôi.

Khi 3 đứa nó đến Mỹ thì được hai gia đình Mỹ nhận ở hai tiểu bang khác nhau. Riêng đứa con trai lớn của tôi, Hoàng Ðại Hải, phải trải qua một cuộc hành trình đầy gian khổ, nhưng với ý chí mãnh liệt, cháu đã đến được đất nước tự do, lúc bấy giờ cháu đã 26 tuổi. Khi còn ở VN cháu chưa học hết ban trung học, nhưng chỉ có 7 năm sau cháu đã tốt nghệp Bác sĩ Nha khoa, hiện có phòng mạch ở Tacoma, WA.

Cháu trai khi rời khỏi VN lúc 11 tuổi, Hoàng Ðại Hanh, sau khi đến Mỹ được 4 năm thì gia đình nuôi cháu đã dời sang Thụy sĩ. Năm cháu 20 tuổi cháu đã lấy được mảnh bằng Kỹ sư điện. Cháu đã cố gắng đi làm, gom góp dành dụm tiền gởi về cho mẹ ở VN để tìm đường cho anh nó vượt biên. Sau đó cháu đỗ thêm bằng MBA, hiện cháu đang làm cho một công ty Mỹ ở Thụy sĩ.

Ðứa con gái thứ ba của tôi, Hoàng Thị Minh Khuê, khi đi mới đầy 9 tuổi, cháu cũng đã đỗ bằng MBA và hiện đang là một cấp chỉ huy của Credit Suisse First Boston Corporation tại New York

Cháu trai út, Hoàng Ðại Huy, khi đi cháu được 7 tuổi, nay cũng đã trở thành Bác sĩ chuyên về Radiology tại một bệnh viện ở vùng San Francisco.

Phần tôi, qua bao gian khổ, tôi đã đến Mỹ với phần thưởng tinh thần thật to tát. Tôi thật sung sướng khi thấy các con tôi đã thành thân và thành nhân, không đứa nào hư hỏng. Tôi viết bài này để đại gia đình điện lực chia xẻ với tôi những phần thưởng này, và tôi rất vui và hãnh diện khi nghĩ rằng anh Bá bên kia thế giới đã phù hộ cho các con, và bây giờ đang mỉm cười với sự thành công của các con mình.

Trương Lệ Chi