Một Chuyến Âu Du

Ký sự của Song Nguyễn

Chiếc phi cơ của hãng TWA từ từ đáp xuống phi trường De Gaulle, tôi ngồi cạnh cửa sổ ngó xuống đất, ngạc nhiên thấy hàng đoàn xe hơi chạy xuyên qua phía dưới phi đạo. Vậy là có xa lộ xây ngầm dưới phi trường (hoặc là phi trường xây bên trên xa lộ ?). Âu cũng là kiểu xây cất lạ của nước Pháp. 
Ra khỏi máy bay sau 9 tiếng đồng hồ ngồi bó gối trong chuyến bay xuyên qua Ðại tây dương, ba bố con tôi theo đoàn hành khách đi qua dẫy cầu thang cuốn. Thang cuốn này cũng khác lạ, không phẳng mà đi lên dốc xuống dốc, và được bao bọc bởi một vòm kiếng, không biết để làm gì vì đang ởtrong nhà! 

Ra khỏi thang, chúng tôi đi qua hệ thống kiểm soát nhập khẩu khá dễ dàng của nước Pháp, ông "tây đoan" chỉ dở Visa mỗi người, đóng dấu là xong, rồi theo đoàn hành khách ra ngoài. Vừa ra khỏi cổng, ba bố con đang lớ ngớ trong đoàn người nói tiếng tây xì xồ, rất là bối rối, thì đã thấy anh NN Quế vẫy tay đón chào. Mừng húm, bạn ta, "thân hữu điện lực" đây rồi ! 

Gặp nhau tay bắt mặt mừng, vỗ vai: "mấy chục năm rồi nhỉ, già mà còn đi chơi được là mừng rồi" (chỉ tôi); "cậu còn gân guốc lắm" (chỉ Quế). Tôi vừa giới thiệu hai đứa con để chào "ton ton" Quế, anh Quế đã nói liên tiếp: "tớ với cậu có ba cái đồng: đồng trường, đồng nghiệp, và lại ... đồng hương; tớ cũng ở vùng Hòa Hưng, hồi đó cậu ở trong con hẻm góc đường Hòa Hưng và đường Lê Văn Duyệt, đầu hẻm có tiệm phở Mỹ Tiên, HGT thì ở cư xá công chức phía trong đường Hòa Hưng". Tôi phục anh Quế có trí nhớ tốt! Hồi trước 75, tụi tôi thường liên lạc điện thoại, anh Quế lúc đầu làm việc ở Phối trí Chợ Quán, sau đổi lên nhà máy biến điện Thủ Ðức.

Anh Quế kéo tôi vào tiệm cà phê ở phi trường, anh bồi quán là người Việt ra chào lấy order, rồi anh Quế hỏi địa chỉ khách sạn tôi đã giữ phòng, dở bản đồ nghiên cứu, tìmđường lái xe cho dễ. Phi trường De Gaulle ở phía Ðông Bắc, đi về Paris bằng xa lộ rộng rãi, tới phạm vi thành phố thì vào xa lộ vòng đai, tiếng tây gọi là périphérique, đi về phía nam rồi vào Paris theo "cửa nước Ý" (porte dItalie). Về sau tôi mới biết là Paris có rất nhiều cửa vào (tương tự nhưcửa ô ở Hà Nội). Vào tới quận 13 tôi thấy cảnh vật có vẻ quen thuộc, đường phố tương tự như những đường phố ở Hà Nội hay Sài Gòn mình đã đi qua: lòng đường nhỏ, xe cộ chạy tấp nập, chật cứng; nhưng vỉa hè bằng gạch rộng rãi, có nhiều chỗ trồng cây mát mẻ. Nhà cửa thì năm bẩy từng, tầng dưới mặt tiền đường để làm cửa tiệm buôn bán, các tầng trên là văn phòng hoặc nhà ở. Con đường Choisy có khách sạn tôi mướn nằm giữa khu phố Tầu (và Việt), có rất nhiều các tiệm ăn, tiệm thực phẩm, tiệm bán đồ kỷ niệm ...

Vào khách sạn, tôi gặp thiên hạ nói vừa tiếng Tầu vừa tiếng Việt, đưa giấy tờ và nhận phòng ở lầu ba. Khách sạn có thang máy, nhỏ xíu nhưng ... chạy được; phòng cũng nhỏ nhưng sạch sẽ, có giường riêng cho mỗi người, trong phòng có phòng tắm, điện thoại và TV đàng hoàng. Sau khi nhận phòng, anh Quế rủ đi ăn phở. Tiệm phở trong khu thương xá Việt Nam ở đường Ivry, ngay bên cạnh đường Choisy. Trong khu thương xá tôi thấy có tiệm băng nhạc Thúy Nga Paris, có lẽ đây là cơ sở chính sản xuất các băng nhạc Paris By Night, khi đi ngang nhìn vào tôi thấy bà chủ tiệm nhan sắc cũng mặn mà nhưng hình vóc thì rất "đồ sộ".

Ăn phở xong anh Quế từ giã, trước khi về anh Quế còn dẫn tôi đi mua thẻ gọi điện thoại, lại không quên mách cho tôi các tiệm ăn khá ở khu này nhưPhở Thu, phở Bida, tiệm Hùng Vương, v.v...

Buổi tối hôm đó tôi điện thoại cho PH Bình, anh Bình hẹn tôi "đến 10 giờ tớ ghé thăm cậu". Dân Paris thức khuya thật. Về sau này tôi được biết các thói quen về giờ giấc khác, thí dụ như các tiệm ăn đóng cửa sau giờ ăn trưa, đến khoảng bẩy giờ tối mới mở cửa lại, tám chín giờ khách mới bắt đầu tới, bữa ăn tối thường kéo dài hai ba tiếng đồng hồ đến nửa đêm là thường. Sau này tôi lại còn biết thêm về sự thức khuya của dân Pháp khi đi chơi trên đại lộ Champs Élysées. Trên con đường được mệnh danh là thanh lịch nhất thế giới này, người ta (đa số là du khách) đi lại suốt đêm, các cửa hiệu bán áo quần, nước hoa ... thì mở cửa đến 2 giờ đêm, còn các quán cà phê thì mở cửa đến 5 giờ sáng!

Mười giờ tối thường ở Mỹ đã ít ra đường, nhưng đường phố ở quận 13 vẫn tấp nập. Anh Bình tới tìm tôi ở khách sạn rồi tụi tôi kéo nhau ra tiệm ăn Việt Nam gần đó nói chuyện. Thấy anh Bình áo quần bảnh bao như ... Parisien, nét mặt lại sáng sủa, trẻ trung, tôi hỏi: "cậu làm cách nào mà sau hơn 25 năm tớ trông cậu vẫn trẻ và khỏe mạnh như xưa?" anh Bình cho biết mấy năm nay anh theo học được môn khí công của một ông võ sư Việt Nam, nên nhờ vậy sức khỏe tăng tiến. Anh còn cho biết trước đây anh đã về hưu nhưng từ khi luyện khí công thấy khỏe ra, ở nhà cuồng cẳng không chịu nổi nên phải đi làm. Thế là sau anh HVP, trong nhóm THÐL lại có thêm anh Bình cũng tìm ra môn luyện tập sức khỏe rất hiệu nghiệm. Ngồi hàn huyên tới gần nửa đêm thì anh Bình phải về để sáng đi làm, trước khi về anh còn chỉ bố con tôi cách đi metro để chúng tôi đi chơi Paris.

Hai ngày sau, anh chị Bình và anh Quế chở tôi lại thăm thầy Khắn. Nhà thầy cũng ở quận 13, từ khách sạn tôi ở anh Bình lái xe vòng vòng một lát là tới. Lên nhà chào thầy và cô, tôi thấy thầy vẫn còn rắn rỏi, hỏi thăm sức khỏe, thầy nói "tôi đã 77 tuổi rồi đo!" Nhớ độ nào khi còn ở Sài Gòn, tụi tôi đi đánh tennis ở sân Chợ Quán thường được xem thầy đấu với ông NV Sáng. Ông Sáng có lối đánh banh rất đẹp và chắc chắn, thường ngang ngửa với thầy vài hiệp đầu, nhưng lại bị thua vào các hiệp sau vì lối đánh bền bỉ dai sức của thầy Khắn, chúng tôi thường nói rỡn là ông Sáng thua vì "nước mau sôi". Lại có điều đáng phục nữa là thầy và cô đã lớn tuổi như vậy mà năm nào cũng đi sang Phi Luật Tân thăm gia đình người con trai. Hôm đó thầy Khắn kéo mọi người đi ăn sea food tại một tiệm nằm ở ngoại ô Paris, cạnh một khu chợ bán đồ biển mà phải những tay "thổ công" Paris như thầy Khắn mới biết. Chúng tôi được thưởng thức các món tôm cá cua sò tươi cùng món súp bouillabaisse chính cống Pháp thật đặc sắc. Bữa ăn kéo dài tới khuya, tôi được dịp cùng thầy Khắn, anh chị Bình, anh Quế hàn huyên các chuyện từ thời trước 75 ở quê nhà tới các chuyện thời mới di cư tị nạn cho tới bây giờ. Ðêm đó thầy lái xe chở ba bố con tôi về tận khách sạn rồi mới từ giã. 

Cuối tuần, tôi và hai cháu được anh NQ Hữu từ Bỉ lái xe qua đón về Bỉ chơi với các bạn. Con trai anh Hữu là cháu Huy làm việc ở Paris nên anh đến Paris từ chiều thứ sáu, sáng thứ bẩy đến khách sạn đón chúng tôi. Kể từ lần từ giã hồi tháng 4-75 tại văn phòng khu Nam đến nay là hơn 26 năm, tôi gặp lại anh Hữu thật mừng. Hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, tụi tôi chắc hẳn là phải già, nhưng trông NQ Hữu vẫn còn phong độ, lại có vẻ tiên phong đạo cốt với chòm râu mép và mái tóc điểm sương. Anh vẫn có lối nói chuyện dí dỏm như xưa, và vẫn còn dáng nghệ sĩ, đi đâu cũng đeo túi xách đựng máy chụp hình. Chỉ khác là bây giờ anh chụp hình bằng máy digital, nhờ vậy ba bố con tôi khi về được anh Hữu thu vào CD bộ hình chụp ở Paris, BrusselsAmsterdam thật đẹp. Anh Hữu đi cùng con trai thứ hai là cháu Huy, cháu đã tốt nghiệp bên Bỉ nhưng hiện đang làm việc ở Paris. Cháu Huy thật giỏi và siêng năng, còn rất trẻ mà đã lập một hãng riêng làm cố vấn về điện toán nên cháu rất bận rộn. Trước khi đi, bố con tôi được anh Hữu và cháu Huy kéo sang thương xá Việt Nam gần đó ăn phở, rồi nhân còn sớm lái xe chở ba bố con tôi đi một vòng Paris. Cháu Huy biết rất nhiều về thành phố này, đưa chúng tôi đi thăm khu đại học Sorbonne, thăm điện Panthéon có con lắc Foucault (nhà bác học này đặt ra để chứng minh trái đất quay), rồi theo yêu cầu của các con tôi, cháu Huy đã dẫn chúng tôi đi coi đường hầm cạnh sông Seine nơi xẩy ra tai nạn xe hơi làm chết công chúa Diana. Con gái tôi rất thích, bèn được bác Hữu chụp cho tấm hình cháu ngồi tại đài kỷ niệm công chúa Diana trên đường hầm, rồi tối đó xin bác Hữu cho dùng computer gửi tấm hình theo email về cho các bạn bên Mỹ. Sau đó cháu Huy lên metro về nhà ở Paris, nhường chiếc xe BMW mới tinh của cháu cho bố chở bạn về Bỉ. Trước khi lên đường, anh Hữucòn ghé nhà của vợ chồng cô em gái chị Hữu lấy đồ. Nhà cô em chị Hữu ở vùng ngoại ô Paris, nhà cất theo kiểu villa, cũng có vườn chung quanh rộng rãi như các nhà bên Mỹ. 

Brussels cách Paris khoảng gần 300 cây số, đường xa lộ rất tốt, xe chạy khoảng ba tiếng đồng hồ tới nơi. Trên đường, anh Hữu chỉ cho tôi thấy phong cảnh đồng quê miền bắc nước Pháp thật đẹp, chúng tôi đi qua những cánh đồng xanh tươi, những làng Pháp có những ngôi nhà ngói đỏ, làng nào cũng có ngôi nhà thờ có mái nhọn và cây thánh giá vượt cao lên. Khi vượt ranh giới Pháp Bỉ, tôi không thấy trạm kiểm soát, và dấu mốc ở biên giới hai nước cũng rất nhỏ, anh Hữu nói Âu châu có khuynh hướng xóa bỏ biên giới! Tuy vậy qua tới Bỉ cũng thấy phong cảnh có điểm khác biệt. Anh Hữu nói dân Bỉ có vẻ "khờ" hơn dân Pháp, chắc ý anh nói thật thà chất phác hơn. Nước Bỉ nhỏ, dân số khoảng 10 triệu, theo chế độ quân chủ lập hiến, nhưng vua và hoàng gia Bỉ ít được báo chí nhắc tới, chắc vua Bỉ cũng hiền lành như dân xứ này nên không có gì để báo chí khai thác. Tuy là nước nhỏ nhưng Bỉ có địa vị rất quan trọng ở Âu châu. Về phương diện chính trị, Bỉ được coi như thủ đô của Âu châu vì tổ chức Liên hiệp Âu châu đặt trụ sở ở Brussels. Trong phạm vi quân sự, Brussels cũng là nơi Bộ tư lệnh của khối Minh ước Bắc Ðại tây dương (NATO)! Hóa ra Bỉ quốc tuy là nước bé, nhưng là bé hạt tiêu.

Tuy vậy, trong nội bộ nước Bỉ có vấn đề về ngôn ngữ rất trầm trọng. Dân Bỉ một nửa nói tiếng Pháp, nửa nói tiếng Hòa Lan, hai sắc dân này không ưa nhau. Anh Hữu kể câu chuyện vui là dân Bỉ nói tiếng Pháp tới vùng nói tiếng Hòa Lan mà hỏi chuyện bằng tiếng Pháp thì thường không được trả lời. Nhưng người ngoại quốc (tỉ dụ như dân Việt Nam) nói tiếng Pháp thì không sao vì cho là dân ngoại quốc có thể tha thứ được! Anh Hữu còn nói là các bảng số xe ở Bỉ đều không ghi địa phương xuất xứ để phòng người bỉ gốc Pháp đi đến khu vực nói tiếng Hòa Lan (và ngược lại) không bị phá xe. Sau này khi gặp anh Thới, tôi còn được nghe anh kể là ở sở làm, trong các buổi họp mà có nhân viên nói tiếng Pháp họp chung với nhân viên nói tiếng Hòa Lan thì không bên nào chịu bên nào, bèn quay ra nói tiếng Anh !

(Brussels, Belgium, 6/2001: Ba bố con TH NT Cảnh, 

các TH NK Thới & NQ Hữu)

Chúng tôi tới nhà anh NK Thới, anh chị Thới và các bạn đã chờ sẵn, lại còn có cả thế hệ thứ hai rất là đông đảo. Ngoài anh chị Thới, anh chị Hữu, còn có anh chị Huỳnh Vân ở Liège cách Brussels cả trăm cây số, và anh chị Lê Vĩnh Quyên. Các cháu thuộc thếhệ thứ hai thì tôi không nhớ hết, chỉ biết hai đứa con tôi, Nam (David) và Vân (Susie), thì tha hồ có bạn mà nói chuyện bằng tiếng Việt lai Mỹ và tiếng Anh. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, hỏi thăm nhau rối rít, tình "thân hữu điện lực" đậm đà thắm thiết. Anh Thới bạn cùng khóa với tôi, nhớ hồi nào còn đi học, tụi tôi đang ở tuổi hai mươi, nay đã trên lục tuần cả rồi! Anh Thới tóc đã hoa râm nhưng còn giữ được dáng khỏe mạnh của thời trước. Gia đình anh Thới đến Bỉ đã lâu, hình như anh là người đầu tiên trong nhóm anh em ÐL tới Bỉ, hiện làm cho hãng xe hơi Volvo ở Brussels. Các con anh chị đã lớn, học hành thành đạt cả, có người đã có vợ có con. Anh Lê Vĩnh Quyên làm việc cho hãng xe điện của thành phố, anh chị Quyên ăn chay trường mà rất khỏe mạnh, làm việc nhiều, vui vẻ. Anh chị Huỳnh Vân lái xe từLiège cách Brussels cả trăm cây số tới dự buổi họp mặt, rồi đêm đó lại về ngay Liège.

Bữa đó thật vui, tôi đi gần nửa vòng trái đất được gặp các bạn bên Bỉ thật là "tha hương ngộ cố tri", tình cảm thật nồng nàn, bao nhiêu năm mới gặp nói sao cho hết chuyện. Chuyện Việt Nam, chuyện Âu châu, chuyện bên Mỹ. Chị Thới và các chị ở Bỉ thật hiếu khách, cho ba bố con tôi ăn những món ăn Bỉ và Việt Nam thật ngon. Ăn uống xong dường như cũng đến nửa đêm, tôi về nhà anh chị Hữu ngủ trước, còn hai đứa con tôi được các cháu bên Bỉ chở đi thăm thành phố ban đêm đến khuya mới về. Nhà anh chị Hữu, cháu Huy đang ở Paris, ở nhà chỉ có cháu Hoàng con trai lớn anh chị đã đi làm và cháu gái út đang chuẩn bị lên đại học. 

Sáng hôm sau ngủ dậy anh chị Hữu đã chuẩn bị món ăn sáng đặc thù ở Âu châu là bánh mì và các món thịt nguội: ba tê, jambon rất ngon. Anh Hữu chuẩn bị xe cộ, sang đón anh Thới, đưa ba bố con tôi sang thăm thành phố Armsterdam của Hòa Lan. Bỉ và Hòa Lan liền nhau mà khí hậu và phong cảnh khác hẳn. Hòa Lan đất thấp, khí hậu ẩm ướt. Chúng tôi qua đó một ngày thấy mưa lai rai hoài. Thành phố Armsterdam có rất nhiều kinh đào, nghe nói vì đất thấp nên phải đào kinh để thoát nước, chúng tôi đi bộ chơi qua những cây cầu nhỏ bắc qua những con kinh, phong cảnh rất hữu tình. Anh Hữu chụp được mấy tấm hình phong cảnh buổi chiều trên các con kinh thật đẹp. Anh hỏi con gái tôi có biết về Anne Frank không, con gái tôi nói hồi ở trung học có học và đọc The Diary of Anne Frank, bèn dẫn chúng tôi tới thăm căn nhà của gia đình cô bé Do Thái này cư ngụ. Căn nhà thuộc khu phố yên tĩnh, có các từng "attic" bí mật đằng sau khu văn phòng được chủ nhân người Hòa Lan giấu cho gia đình Anne Frank trú ngụ trước khi bị Quốc Xã Ðức bắt, nay còn giữ làm viện bảo tàng nhỏ cho du khách vào thăm. Các con tôi được vào chiếc giường ngủ của cô bé Anne Frank, phòng ăn của cả gia đình, chỗ cô bé ngồi viết nhật ký... rất lấy làm cảm kích, sau này khi về Mỹ rất hãnh diện kể chuyện được đến thăm căn nhà của Anne Frank cho bạn bè.

Thành phố Amsterdam còn có những nhà cao ốc kiến trúc theo kiểu riêng, sơn nhiều mầu sắc, trông đẹp mắt nhưng nhã nhặn, không quá lòe loẹt. Chúng tôi thấy dân Hòa Lan dùng rất nhiều xe đạp, những chiếc xe đạp đa số mầu đen, giản dị và cũ kỹ, để di chuyển. Rất nhiều khu phố xây dọc theo các con kinh, đường rất nhỏ nhưng chỉ có xe đạp, ít xe hơi nên cũng có vẻ yên tĩnh. Anh Hữu dẫn tôi đi qua khu Á Ðông, tôi thấy có rất nhiều tiệm ăn Tầu và Thái Lan. Không thấy có tiệm Việt Nam nào, nhưng tôi có đi qua một văn phòng có bảng đề bằng tiếng Hòa Lan, bên cạnh có chữ Việt "Sở Du Lịch". Ði ngang một khu phố, anh chỉ một dẫy nhà nằm phía xa, nói khu đó có các "cửa kính" nổi tiếng tôi có muốn đi xem không, rất tiếc là có các cháu nên tôi dù rất muốn nhưng đành "hẹn một dịp khác"! Ði bộ đến tối, mỏi chân và đói bụng, anh Hữu và anh Thới dẫn đi ăn mì vịt ở tiệm Tầu tên là New King rất ngon. 

Mải chơi ở Hòa Lan chúng tôi về đến Brussels thì đã nửa khuya, đưa anh Thới về nhà, chào từ giã vì mai anh phải đi làm sớm. Buổi trưa hôm sau, các anh chị lại còn tiệc tiễn đưa ba bố con tôi trước khi về Pháp. Chị Hữu làm các món ăn Việt Nam rất ngon, các chị Thới, chị Quyên qua, rồi anh Quyên đi làm cũng ghé về; có cả anh Hùng, anh chị Hữu làm việc ở trường đại học cũng về chơi. Anh Thới thì bận đi làm nhưng cũng không quên gọi điện thoại từ sở về nhà anh Hữu để từ giã. Ăn xong, các chị còn gửi mấy món quà, trong đó có gói chocolat nổi tiếng của Bỉ để đem về cho bà xã ở nhà. Các chị thật chu đáo, sau này đem quà về cho bà xã, bả cảm động và rất tiếc đã không đi được chuyến này!

Ba bố con tôidự định đi xe lửa từ Brussels về Paris để được hưởng thú đi xe lửa tốc hành của Âu châu nhưng anh chị Hữu không cho, lấy cớ phải sang Paris đưa giấy tờ cho cháu Huy, anh Hữu lại chở ba bố con tôi trả về khách sạn tại quận 13. Trước khi về, anh Hữu còn chở chúng tôi đi một vòng coi thành phố Brussels, đi thăm khu vực nổi tiếng của thành phố là "Grand Place". Khu này là một công trường vuông vắn, bốn chung quanh là các tòa cao ốc rất đẹp, ở một góc công trường có bức tượng "chú bé đứng đái" rất nổi tiếng, được rất nhiều du khách coi. Anh Hữu còn dẫn tôi đi tìm tượng "cô bé gái ngồi đái", tượng này đặt ở một chỗ kín đáo hơn, anh Hữu cho rằng "tượng này tục quá nên phải dấu đi".

Về đến Paris đã chiều tối, anh Hữu trả ba bố con tôi về khách sạn rồi từ giã về nhà cháu Hoàng ngủ đến hôm sau lại lái xe về Bỉ. Thế là anh Hữu đã bận với ba bố con tôi 5 ngày, lái xe liên tiếp cho chúng tôi đi chơi ba nước Âu châu. Các anh chị em bên Bỉ đã bận rộn đón ba bố con tôi trong ba ngày, cho ba bố con tôi những cảm tình tha thiết.

Về đến Paris, ba bố con tôi trong tuần còn lại đi thăm khắp nơi trong thành phố. Chúng tôi tới nhà thờ Notre Dame de Paris thăm phong cảnh huyền bí thời Trung cổ mà tôi đã mê khi coi cuốn phim quay theo chuyện của Victor Hugo; đi thăm viện bảo tàng Louvre để được nhìn tận mắt bức pho tượng Venus de Milo, bức tranh Mona Lisa; thăm nhà thờ Sacré Coeur nằm trên đỉnh đồi nhìn xuống Paris; thăm tháp Eiffel, các quán sách cũ bên bờ sông Seine; lại còn được đi thăm khu Saint Germains Des Prés, công trường Saint Michel, con đường Saint Germain, đi qua những quán cà phê nổi tiếng Les Deux MargotsCafé Flores nơiJean Paul Sartre, Albert Camus ... thường lui tới. Có ngày, chúng tôi còn "mò" vào nghĩa trang Père Lachaise thăm mộ của các danh nhân như nhạc sĩ Chopin, nhà thơ Appollinaire, nhà văn Marcel Proust, nhà văn Alphonse Daudet, nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine, nhà viết kịch Molière, nhà văn Honoré de Balzac ...

Sau hai tuần lễ đi chơi, tôi hy vọng các con tôi học hỏi ít nhiều về các thành phố Âu châu. Khi về nhà, tôi hỏi bọn chúng nghĩ gì về chuyến đi, chờ đợi chúng sẽ có những nhận xét về nước Pháp, nước Bỉ ... Các con tôi ngẫm nghĩ một lát rồi không trả lời thẳng câu tôi hỏi mà hỏi tôi ngược lại: "tại sao ở đâu bố cũng có nhiều bạn, mà bạn bố sao tốt thế?". 

Tôi chưng hửng, nghĩ mãi mới tìm được câu trả lời: "vì bố là một thân hữu điện lực, các bạn bố là các Thân hữu Ðiện lực đấy con ạ!". Thì ra các con tôi đã học được điều quan trọng hơn tôi tưởng.

Song Nguyễn

(Minnesota, tháng 9 2001)