Ði Ngược Dòng Lịch Sử

Ký sự của Thủy Trường


Ngày 15 tháng 5, 2001, hai chúng tôi rời Bỉ Quốc lúc 11,25 giờ đi Amsterdam (Hòa Lan) bằng máy bay KLM, rồi từ đây bay một mạch 11 tiếng tới Thượng Hải. Phi trường Pu Dong vừa xây xong, rộng thênh thang, đi mỏi cả chân, nhưng phải ít ra 10 năm nữa mới sử dụng hết các tiện nghi nầy. Cả nhà ông Cương, ông Thiên ra phi trường đón chúng tôi, rồi ngồi xe thêm hai giờ nữa mới về tới Vô Tích (Giang Tô), một địa danh thường được nhắc đến trong truyện Kiều mà cũng là sanh quán của nàng Tây Thi nước Việt. Nhà ông Thiên là một ngôi nhà mẫu khá giả ở giữa đồng quê có ba gian rộng, gian hai bên dành làm phòng ngủ cho ông bà nội, gia chủ, dâu rể... 
Chúng tôi chỉ mới quen biết với ông Thiên mà rõ là lòng hiếu khách hiếm có. Ở đây có hai ngày mà ông mướn đầu bếp mỗi bữa cung cấp mười tám hai mươi món cao lương mỹ vị, nào rắn, cua đinh, tôm cá gà thật tươi... ngoài ra còn có một bà bạn theo cầm khách, chuốc rượu. Cứ gắp vài đũa, cả nhà thay phiên nhau mời "can-pê". Ðây cũng là một dịp để chúng tôi viếng cơ xưởng sản xuất cách điện cho các máy biến thế nho, cơ sở còn làm thủ công nhưng đã bán ra nhiều tỉnh. Nhà ở giữa ruộng, vừa gặt hái xong, bây giờ chờ mưa xuống thì họ trồng rau cải dọc theo bờ ruộng để phụ thêm sản xuất. Nghe nói hiện nay giá lúa xuống quá thấp, nên hầu hết sẽ chuyển qua làm công nhân kỹ nghệ.
Hôm sau chúng tôi viếng tượng Phật Linh Sơn ở Vô Tích, tượng cao cỡ 30 mét nằm dưới chân một ngọn núi.Tượng vừa dựng xong cách nay chỉ 2 năm, cũng nằm trong chính sách xây dựng Phật tích để thu hút ngoại tệ chớ không nhằm phát triển Phật giáo trên đất Tàu vì hiện nay chỉ còn thế hệ xưa còn tin Trời Phật chứ trên 60 năm theo chủ nghĩa duy vật số đông bây giờ chỉ còn biết lo làm giàu và hưởng thụ.
Ðời sống nông thôn có cái khác, đại gia đình quây quần trong một mái nhà, ông bà nội, gia chủ, con cái dâu rể, cháu chít tất cả đều vui vẻ đề huề, không lời to tiếng lớn. Cơm khách nhìn lại chỉ có đàn ông dùng trước, đàn bà lúi húi lo phục vu, ăn sau. Hàng xóm mà lạng quạng qua trúng giờ cơm là "a lê hấp" thêm cái chén đôi đũa nhào vào "can-pê" ngay. Cô hàng xóm đi làm đêm về trễ, cũng nhập cuộc tự lấy tô múc cháo ăn sáng vui vẻ một cách rất tự nhiên!

Ngày 18, chúng tôi tạm biệt gia đình ông Thiên, ra Vô Tích để sáng sớm hôm sau đi Thượng Hải lấy máy bay tới Côn Minh (Vân Nam). Trước chuyến đi xa, ông Cương có mời một số bạn học cũ họp ở nhà ông, họ xí xô xí xào, mầy mầy tao tao giống như đám THÐL 10 năm họp lại khàn cả tiếng!

Ði kỳ nầy tháp tùng có cả ông Vũ, bạn học của ông Cương ở Hàng Châu cùng đi, ông nầy trước đây là đảng viên cao cấp đảng CS Tàu, nay hưu trí hết tin đảng. Ông từng té gãy xương chậu, đi xít xụi, nhưng leo núi khỏe như vượn, ông bập bẹ được tiếng Anh.

Sau ba giờ bay với máy bay Boeing 737 của China Eastern Airlines, nhờ có người quen, chúng tôi được giới thiệu vào ở khách sạn 4 sao của Hải quan.Viếng nhà của bà quả phụ Mã, bạn ông Cương, chúng tôi ăn cơm tối ở nhà hàng Giao Viên của sắc tộc Tày, thực đơn đặc biệt, họ còn trình diễn thời trang và các điệu vũ dân tộc thật độc đáo.

Các hãng hàng không đang ế nhệ, cứ mỗi ngày cho đám lâu la đi phát phiếu quảng cáo xuống giá và biếu luôn các chuyến du lịch bằng xe buýt các vùng lân cận, do đó mà chúng tôi trúng số đi viếng Thạch Lâm, giữa một vùng đồi trọc, đất đỏ, bỗng nổi lên một rừng núi đá lổm chổm, hình thù kỳ dị. Du khách Tàu đông đến nỗi chỉ đi nhích nhích, giống như một đàn kiến kéo mồi trong một hốc đá, không cách nào tìm ra được chỗ trống để chụp hình quay phim.

Ngày 25, chúng tôi đội mưa leo núi lên tới đỉnh Long Môn để xem cho kỳ được cảnh chùa dựng trên vách núi, thật ngoạn mục! Mưa tạnh, chúng tôi lấy cable car qua xem làng sắc tộc thiểu số bên kia núi, mỗi sắc tộc có một làng xây dựng theo mẫu địa phương với các tháp, cầu, đền...

Chiều, xem triển lãm hoa ở Côn Minh, những gì còn lại của cuộc triển lãm quốc tế 2000, khu trưng bày chiếm chu vi cỡ Disneyworld, nay chỉ còn lại các gian hàngTrung Quốc, môi sinh, một vài quốc gia, làng Thượng chiếm phía phải của lối vào.

Trên xe buýt về Côn Minh, ông bạn Vũ ngủ quên bị trộm rạch túi, may nhờ có "đeo tượng Phật", nên tai qua nạn khỏi, từ đó ông ta tin tưởng đeo miết tượng Phật trong người! 

Tối, ông Cương dẫn cho ăn thổ sản của Vân Nam, lẩu là một chảo đựng to năm tấc để ở giữa bàn, thực khách chỉ việc nhúng vào đủ thứ nào là lươn nhỏ, cá, tôm, mục, đậu hũ, rau câu, rau cải, tàu ô, rau muống, cải vún, cải bẹ xanh... xong chấm vào trong dầu. Ngon tuyệt nhờ thức ăn tươi không bị đông lạnh nhạt nhẽo.

Ngày 22, chúng tôi đi Ðại Lý, cách Côn Minh 400 cây số, giáp ranh với Tây Tạng. Ðại Lý là thành trì của Ðoàn Nam Ðế chống lại triều đình trung ương cả mấy trăm năm. Sắc tộc Bai đã lập ra Vương quốc Nam Giao, Nam Ðại Lý chống lại nhà Ðường và chỉ thần phục trung ương từ thế kỷ thứ mười.

Chúng tôi đi xem ngay Chùa ba ngôi, Tháp cao của sắc tộc Thái, sau hết là đi du thuyền trên hồ Nhĩ Hài xem các chùa hai bên hồ.

Hôm sau, chúng tôi đi Lý Giang bằng buýt theo phái đoàn du lịch xem chùa Phật, Naxi là sắc tộc chiếm đa sô dân vùng nầy. Kiến trúc khác biệt với kiến trúc người Hoa lục, nhà thường bằng đất, mái vảnh lên hai bên. Sau đó xem Hắc Long Ðầm với vài ngôi chùa lịch sử.

Ðặc biệt nhứt của Lý Giang là phố cổ, nhiều lạch nước trong vắt lượn quanh một khu phố cổ, nhà toàn bằng gỗ xưa cả mấy trăm năm. Ở đây, dân Naxi còn giữ được những sắc thái cổ truyền, sắc phục, tập tục, kiến trúc cổ xưa nên thu hút rất nhiều khách ngoại quốc, các anh ngồi phì phà thuốc lá ngay trên vỉa hè, trước tách trà Long Ðỉnh, nghe tiếng suối reo róc rách hồn như vào cõi Thiên Thai..

Hai ngày để trở về Ðại Lý và Côn Minh.

Chúng tôi được mời dùng cơm Vân Nam ở nhà con của bạn ông Cương, da heo dầy xào lạc, bắp non xào bánh trán sữa dê, phó mát dê, thịt bò kho... Gia chủ là chủ vườn sản xuất hoa, khá giả, nhà chưng bày y như ở Âu Mỹ, sàn lót céramique, bàn ghế tân thời, bếp vitro ceramique..

Ngày 28 tháng 6, chúng tôi rời Côn Minh đi Thành Ðô bằng xe lửa, phong cảnh thật đẹp khi xe gần đến Nga Mi Sơn, thác nước, ghềnh đá, đồi cao thật hùng vĩ! Chúng tôi xuống ga Nga Mi, gặp ngay Bà Vũ từ Hàng Châu tới nhập bọn viếng núi Lạc Sơn, một tựơng Phật nằm khoảng 40 m và một tượng khác cao khoảng 50 m, ngoài còn một số tượng khắc trong vách núi. Muốn thấy cái vĩ đại của tượng Phật cao 71 m, thì phải xuống thuyền ra sông nhìn vào bờ. Tượng được nhà sư Hải Tông cho tạc năm 713 trên cửa sông giữa hai nhánh DaduMin nơi có nhiều xoáy nước làm đắm thuyền bè, Phật Tổ đã linh thiêng trấn áp, dân thuyền chài nhờ vậy sống yên lành.

Tờ mờ sáng, cả bọn thức dậy khăn gói theo đoàn lữ hành leo lên Nga Mi Sơn, thực ra tới đỉnh Nga Mi, nào thấy đâu bóng dáng các ni cô của Chu Chỉ Nhược, mà chỉ có hai cái chùa cổ thật to, muốn lên phải đi một đoạn toa cáp, leo một đoạn 600 m muốn "hộc xì dầu" mới xem được cảnh chùa. Hai chúng tôi được may mắn chứng kiến được hào quang muôn màu tỏa ra trong hốc núi cạnh chùa Phật, có lẽ do kết tủa của ánh sáng mặt trời với sương lam thành một vòng tròn ngũ sắc, trước đây nhiều người cuồng tín thấy hào quang nhảy xuống thung lũng ôm lấy để mong sớm được về Niết Bàn.

Lên chùa Xinqing xưa 1600 năm phải chịu khó ngồi lên cáng do hai người khiêng, đường dốc đứng, mình thì áy náy bất nhẫn, nhưng họ cứ vui vẻ đi thoăn thoắt vì đây là dịp để họ kiếm được năm mười Yuan (gần một đô rưỡi).

Thành Ðô có thể là thành phố ô nhiễm nhất nước sau Bắc kinh. Từ cao nhìn xuống thấy như một cái bầu khói trùm phủ cả chục cây số, như vậy mà trong đó cả mấy triệu người ăn ở sinh họat một cách vui vẻ. 

Chiều 30/5 chúng tôi viếng đền thờ Ðỗ Phủ có tượng, bia đá khắc lại các vần thơ nổi tiếng của bực thiên tài. Thật ra lúc sinh tiền, nhà thơ sống thanh nhàn trong một túp lều tranh đổ nát, còn các dinh thự, hoa viên, đền thờ chỉ được các đời vua Tống Minh... ngưỡng mộ tô điểm thôi!

9,00 giờ hôm sau, chúng tôi theo đoàn du ngoạn đi Cửu Trại Câu (Jiuzhaigou) cách Thành Ðô 400 km về Tây Bắc. Ðường đi ngoằn ngoèo, hướng dẫn viên bày đủ thứ trò như hát các bài nổi tiếng, đố vui, kể chuyện tiếu lâm. Họ cười ào ào thân mật tự nhiên như trong một đại gia đình, hai đứa tôi có biết ất giáp gì đâu cũng cười hùn cho vui! Gần đến nơi, sát biên giới Tây Tạng, phong cảnh càng nên thơ. Nhà kiến trúc theo kiểu Tây Tạng toàn bằng gỗ mọc cheo leo trên các đồi trọc dọc theo các triền núi thoai thoải, đồng cỏ bao la, xa xa đàn bò, đàn ngựa gặm cỏ, thác nước cao rơi xuống các ghềnh đá như trong các tranh thủy mạc...

Cửu Trại Câu là tên của một thôn xóm gồm chín trang trại nằm dọc theo một ngọn suối trải rộng ngang khoảng 500 mét, suốt 7 km đường dốc. Cả chục chuyến buýt con thoi đưa đón khách lên xuống từng trạm tùy thích. Trên cao là một cái hồ lớn, hồ Thiên Nga, rồi một thác nước hùng vĩ vắt ngang 300 m bề ngang, rồi nước chảy lờ đờ qua ghềnh đá hốc núi, rồi lại ầm ầm rơi vào vực sâu.Tùy ánh sáng và cũng tùy màu lá cây mà nước trong thay đổi màu, lắng động thấy tận đáy, ẩn hiện hình dáng một con rồng nằm, nên còn được gọi là Phục Long Ðầm. Nước còn chia ra nhiều thác nước nhỏ trước khi hợp lại thành một dòng sông uốn khúc giữa hai bờ lau sậy và dọc theo bờ muôn ngàn cây lệquyên (Azalées) trổ hoa rực rỡ.

Khu thắng cảnh Hoàng Long nằm trên đỉnh núi 4500 m, người lên phải mua bình dưỡng khí phụ, nếu không sẽ bị khó chịu. Nước chảy từ trên cao xuống cả trăm vỏ sò xanh vàng trắng, khoảng năm mét đường kính, từ trong vỏ sò nước tràn xuống vỏ sò dưới, rồi xuống cái dưới nữa, kế tiếp như vậy suốt năm cây số. Từ đỉnh cao nhìn xuống thấy các vỏ sò đó giống như vảy một con rồng vàng uốn khúc, do đó mà có tên là khu Hoàng Long. Núi cao, không khí trong lành, khỏe người ra, nhưng lúc trở về Thành Ðô, tôi bị ho kinh khủng. ỞTrung Quốc không cóbác sĩ tư nên tôi đibác sĩ ở một bệnh viện Quân y nổi tiếng. Bác sĩkhám hàng loạt. Tất cả bệnh nhân đều đứng chung quanh bàn chòng chọc nhìn khám nghiệm, thỉnh thoảng cho vài lời bình phẩm. Bác sĩ cho đi thử máu ngay, chỉ 3 phút sau có ngay kết quả, rồi cho uống ngay trụ sinh, may thay trời đổ mưa hôm sau, không khí đỡ ô nhiễm, lại hết ho ngay. Tôi mới biết là bị dị ứng, nên không cần uống thuốc gì nữa.

Ngày nay, nơi nào cũng có cả trăm cơ quan tổ chức du ngoạn họ có xe buýt riêng chở du khách, dùng loa để giải thích thắng cảnh, dẫn vào các khách sạn quen thuộc và nhứt là không quên ghé nửa giờ vào các tiệm đá quí, thuốc cây cỏ địa phương, tơ lụa, trà...

Lại vượt 400 km đường đèo trở về Thành Ðô, liền đi viếng ngay đền Khổng Minh. Ðối với ngườiTrung Quốc, Khổng Minh là biểu tượng cho trí thông minh của kẻ sĩ. Xuyên qua cổng lớn rồi tiền điện, mới vào được chính điện, có đủ các tượng của Khổng Minh và Lưu, Quang, Trương, cùng các hậu duệ, cả lịch sử thời Tam Quốc được ghi lại trên các bia đá kể lại tài dụng binh như thần của Gia Cát. Ði xuyên dãy nhà phía tay mặt để đến mộ của Lưu Huyền Ðức, một mô đất to, trước có mộ bia đề hậu duệ Hán Cao Tổ.

Nhờ có người trên xe trở về Thành Ðô giới thiệu nên chúng tôi biết được nhà hàng độc đáo Old Mama, từ ngưỡng cửa, thực khách ngẩn ngơ trước hai tấm vách khổng lồ chạm trổ cổ thành Thành Ðô. Vào trong thì như khách sạn 5 sao, kiến trúc tân kỳ có vài nét ẩn hiện của Phù Tang. Nhân viên phục vụ mặc màu nâu, mỗi bàn trung bình có 3 người phục vụ, châm trà, đem thức ăn tới, bày thức ăn ra bàn... Lẩu thì cũng giống như ở Côn Minh nhưng lẩu hình vuông chôn ngay trong mặt bàn, chén dĩa thi bằng sứ, nhỏ nhắn thật thanh tao lịch sự.

Khu thương mãi Thành Ðô trù phú không kém Bắc Kinh, tiệm buôn, cao ốc như Macy cứ san sát vào nhau, buôn bán như thác chảy, tấp nập nhứt khi màn đêm xuống... Thành phố thật sạch, 10 giờ đêm mà vẫn còn có người nhặt rác, trật tự viên luồn bắt mấy anh khạc nhổ bậy. Một điều lạ nữa đối với Âu châu là trong thành phố hay các thắng cảnh cứ vài mươi bước là có ngay một nhà vệ sinh công cộng, sạch sẽ thì còn xét lại nhưng nhờ vậy mà đi bậy là điều tối kỵ.

Ðồ kỷ niệm đày ấp valise, chúng tôi phải để nửa ngày để gói ghém gởi xe lửa về Vô Tích để nhẹ bớt khi lên xuống các cầu thang các ga xe lửa.

Từ Thành Ðô đi Tây An mất chín tiếng xe lửa. Dân ở đây cao lớn hơn dân phía Nam, kiến trúc cũng khác hẳn hơn Tứ Xuyên, Côn Minh, nhà toàn bằng gạch nung, có nhiều nhà do việc khô hạn kéo dài, họ chôn nguyên căn nhà trong lòng đất, chỉ để cửa ló ra ngoài...

Có thể so sánh bảo tàng viện Tây An với Smithsonian ở DC, kiến trúc nửa xưa, nửa nay, nơi đây góp nhặt không biết bao nhiêu cổ vật sắp xếp lớp lang theo đời Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, Tam Quốc, Kim, Tấn, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh...

Vừa nhai tỏi muối, xé bánh mì Tây Tạng bỏ vào tô nước lèo, chúng tôi ăn tối món đặc sản của Thiểm Tây, vừa ngắm ra đền Trống lớn và đền Trống nhỏ của Tây An. Thành phố nằm trong khuôn viên của Trường An xưa, mỗi phương địa dư là một cửa thành rộng 11 m ngang, ngoài có hố sâu che chở, hồi tưởng lại khi xưa, muốn đạt thành Trường An, An Lộc Sơn phải hy sinh hàng vạn nhân mạng mới vào được thấy mặt người đẹp Dương Quý Phi.

Binh Mã Dõng là tên Tàu đặt cho 6000 tượng bằng đất nung, cao bằng người thật, đã được Tần Thủy Hoàng cho chôn vùi dưới lòng đất cách Tây An 30 cây số. Di vật vẫn còn để dưới các đường hầm, nằm trong các công sự , một nông dân đào cuốc đã vô tình phơi bày một tượng mà vua Tần có ý định đem theo về bên kia thế giới, biểu tượng cho sự hữu thường của đời Tần.

Cơm trưa xong, nóng chang chang, chúng tôi qua đường viếng vườn Ngự Uyển của Ðường Minh Hoàng trong đó có hồ tắm của Dương Quý Phi do một ngọn suối nước nóng sưởi ấm lòng giá băng của Hoàng Hậu, chờ mong anh chàng An Lộc Sơn về dưng trái vải từ biên cương. Cũng nơi đây có một căn nhà lịch sử, nơi Tưởng Giới Thạch bi loạn tướng Giang Học Lương bắt năm 1936, xong được thả sau đó.

Trời nắng tháo mồ hôi hột mà ông bạn Cương lại hỏi ba xồn bốn sực, để cả bọn lọt vào một ngôi chùa Hồi giáo nhỏ nhưng tĩnh mịch và nên thơ. Sau đó, cả bọn mới vào tới ngôi chùa Hồi chính, kiến trúc tương tự như kiến trúc Trung Quốc. Giống như dân cư ở quanh vùng, các sư có phong tục tập quán giống như Hồi nhưng lại nói tiếng Tàu. Hai bên phố, đường ra từ cổng chùa, đầy các hàng quán bán đủ các hàng kỷ niệm nào là tượng Phật, hũ, lọ, tiền xưa, ấn đủ loại...

Hôm sau chúng tôi mướn một xe nhỏ viếng mộ của Vĩnh Thai (YongTai), cháu của Võ Tắc Thiên, không có gì đặc biệt ngoài việc mộ được đặt dưới hầm sâu hun hút, âm u rợn người.

Cách đó năm dặm, là mộ của Võ Tắc Thiên, một nhân vật nhiều tranh luận, một vì vua dâm đãng hay một nữ vương có thiên tài? Có điều đám tang của bà, cả ngàn dân phu phải di chuyển quan tài cả trăm cây số từ Trường An về đây mà ly rượu không đổ. Một bên là tượng các linh vật, một bên là tượng các cận thần được dựng suốt hai bên đường đá vào mộ.

Ngày thứ tư ở Tây An dành để xem chùa các Ngỗng Trời, từ ngoài vào phải qua nhiều điện, rồi ở giữa là cái tháp 9 từng, phía sau là chính điện có một tượng Phật to thếp vàng, nhiều tranh nổi hai bên vách kể lại đời đức Phật.

Ngày 10.6.01, lấy xe lửa đi Lạc Dương (Hồ Nam) cách Tây An 8 giờ xe lửa. Trên xe chúng tôi có dịp chuyện trò với một gia đình bác sĩ ở Thành Ðô có con học ở Ðức và một cô sinh viên sắp tốt nghiệp trường ngọai ngữ tên Jia Ling.

Du khách tới Lạc Dương chỉ có mục đích đến hang động Long Môn xem cho được các tượng Phật khổng lồ khắc trong núi đá. Nằm trên bờ phía Tây sông Di Hoà, nguyên thủy nhà Ngụy cho tạc ở đây 100.000 tượng lớn nhỏ, nhưng đến nay chỉ còn vài trăm tượng vì trộm đạo phá phách và nhứt là cách mạng văn hoá đã qua đây.

Chùa Thiếu Lâm tọa lạc trên núi Thiếu Thất cách Trịnh Châu 80 km giữa đường Trịnh Châu - Lạc Dương, cũng đồ sộ như các chùa khác, nhưng đặc biệt chùa còn mang nhiều di tích lịch sử, nhiều bia đá ghi lại bút tích của vua Ðường, vua Minh, vua Thanh... và đây cũng là cái nôi của các cuộc nổi dậy mà các nhà sư luôn luôn đứng về phía chính nghĩa. Trước cổng chùa, hàng trăm môn sinh diễn hành đi đến sân tập cách đó hai cây số. Ðối diện với chùa có một đại sảnh chứa 108 vị La Hán, bằng người thật, mỗi người một vẻ, không vị nào giống vị nào. Một rừng bảo tháp lớn nhỏ, nơi để di hài các bậc phương trượng, chỉ cách chùa 500 mét.

Lạc Dương là thủ đô nhà Ngụy, là nơi lịch sử ghi lại sự tranh hùng giữa Tần Thúc Bảo - Giảo Kim với Ðơn Hùng Tín là một vùng đất lớt (loess). Cả ngàn dân vùng nầy đã sống trong các hang động đào trong lòng đất, chỉ có mặt tiền là thấy mặt trời, thường ở giữa có một lỗ vuông để hứng nước mưa, vách và trần đều bằng đất lớt.

Ngày 13.6, nằm xe lửa 24 tiếng mới đến Thượng Hải, phải chịu hai ngày mưa dầm, đến chiều, con ông Cương chở cho xem Phố Ðông, khu tài chính mới của Thượng Hải, viếng nhà chọc trời Thanh Mão (Jing Mao), nhân dịp có họp thượng đỉnh Giang Trạch Dân - Poutine. Tới hôm sau, mưa tạnh, chúng tôi có dịp viếng khu thương mại trên đường Nam Kinh, suốt con đường khang trang, phố phường tấp nập, đèn đuốc sáng choang, không thấy một cọng rác vì có cọng nào là có người nhặt ngay bỏ vào thùng rác inox bóng lộn. Tiệm khá sang, trang hoàng tân kỳ nhưng hàng hoá lại rẻ, chỉ bằng một phần ba giá ở Pháp, Bỉ.

9,30 giờ sáng, chúng tôi đi Hàng Châu, vượt 200 km theo lời mời của ông bà Vũ vì cách nay 5 năm, chúng tôi đã có dịp viếng hầu hết các thắng cảnh ở Hàng Châu. Ông Vũ hướng dẫn chúng tôi xem vườn trà Long Ðỉnh; giá trà khoảng 150 $US/kg, pha chế rất cầu kỳ. Nước phải lấy từ một cái giếng nước trong đặc biệt, nước đầu lượt sơ bỏ, chỉ lấy các nước dảo sau. Chén trà còn được hâm nóng cho ấm, cầm chén trà phải cong tay lại, và uống thì phải biết nhấp nhấp cho vị trà thấm vào cổ để lại hậu ngọt mát đậm đà.

Cách phố chính khoảng 5 km, có một biệt thự thu hút nhiều khách vãng lai, đó là nhà của phú hộ Wu Yue Xian. Nhà toàn bằng gỗ quý, có nhiều gian, cho bà chính, bà thứ, con cái, nô tỳ, bếp, vườn hoa, sân khấu. Không biết vì lý do thiếu đất hay lý do phải kín cổng cao tường của người Tàu mà hầu hết các đền nhà của Trung Quốc đều nằm trong khuôn viên giới hạn, có tường bao quanh trong lúc các dinh thự, các lâu đài ở Âu Mỹ, thường có nhiều khoảng trống, có tầm nhìn xa hơn.

Ngày 17, đi buýt rời Hàng Châu đi Ninh Ba (Ningbo), thành phố với nhiều bãi cỏ xanh, nhìn ra biển, đối diện với Phổ Ðà Sơn.

Sáng hôm sau, đi tàu hỏa tốc vượt biển đến Phổ Ðà sơn, lên núi viếng một số chùa. Tới tượng Quan Âm cao 30 m, đang hoay quay chụp hình, cả đoàn mấy trăm người bị cảnh sát lùa xuống núi, hai bên đường nhiều sư sải chấp tay lâm râm niệm Phật. Hỏi ra mới biết Ðức Ban Thiền Lạt Ma không hiểu sao đáng lẽ đang ở Ấn Ðộ, lại thoát ra đây nên cảnh sát lùa du khách để cách ly với vị Lạt Ma.

Phổ Ðà Sơn nổi tiếng một trong năm ngọn núi linh thiêng của đạo Phật nhờ các chùa rất to nhưng đẹp có bờ biển yên tịnh, nhờ các cảnh nên thơ của con đường râm mát, đường nhỏ san sát các tiệm bán hải sản. Từ Nam chí Bắc đi bộ không mất hai giờ, Bắc có một ngôi chùa to đi lên bằng toa cáp, xuống bằng đường bộ ngang một ngôi chùa khác cũng to không kém.

Chiều, trở về Ninh Ba, xem thư viện xưa trên 400 năm, viếng một khu phố xưa, rất đặc biệt Tàu, đồ đạc để loạn xạ, quần áo ngổn ngang, có lẽ khu nầy còn sót lại không thì cũng chờ ngày bị san bằng để cất cao ốc như các khu khác.

Hôm sau trở về Hàng Châu, được ông Vũ hướng dẫn xem Liên Hoa Viên, chủ đề là hoa sen đủ loại đủ màu sắc được xếp đặt thật hòa hợp với thiên nhiên. Ðối diện con đường quanh Tây Hồ là đền Nhạc Phi, danh tướng đời Tống (thế kỷ XII) trong một khung thành màu đỏ, nơi có tượng to của Nhạc Phi và vợ chồng Tần Cối đang quỳ chịu tội.

Ngày 21, rời Hàng Châu trở về Vô Tích qua ngã Thượng Hải để sáng hôm sau xem Chu Trang (cách Tô Châu 70 km). Ðây là một khu nhà cổ xưa, giống như Lý Giang với đường lát đá tảng, cầu vòng đá cẩn hoa. Du khách ngoại quốc, hàng chục ngàn khách từ Thượng Hải đội mưa để xem các du thuyền chở khách với cô lái đò ngân nga gõ nhịp hát giọng Hồ Quảng. Trong các đường nhỏ xinh xinh, các quán lều bán nước giải khát, tiệm bán đồ kỷ niệm, xưởng thủ công cổ truyền, tạo nên một khung cảnh cổ xưa nên thơ, ít thấy trong thời đại Internet nầy.

Hôm sau, bão lại rơi vùng Thượng Hải, tới 11,00 giờ thì cả bọn phóng qua Tô Châu (cách 80 km) xem Ðồi Lão Hổ, nơi chôn Hồ Lộ, người xây dựng Tô Châu, trên có một cái tháp chín tầng nghiêng như tháp Pise và một bãi cò cả ngàn con trắng phau bay lượn trên cây.

Hai ngày chót lại trở lại nhà ông Thiên, lại chuốc rượu, cá, thịt, cua đinh, rắn, vịt Tứ Xuyên. Rể của ông còn hướng dẫn cho xem một cảnh chùa xưa 500 năm rất nên thơ.

Bốn giờ sáng 27.06.2001, hai chiếc Santana chở cả đoàn đi Thượng Hải ra phi trường Pu Dong. Bịn rịn chia tay, hẹn ngày tái ngộ!

Lên máy bay, hồi tưởng lại một tháng rưỡi rong chơi xuyên ngang nước Tàu, chúng tôi có cơ hội viếng nhiều thắng cảnh liệt hạng như Cửu Trại Câu, Hoàng Long, Phổ Ðà Sơn, đi ngược dòng lịch sử qua Ðại Lý, Lý Giang, Lạc Dương, Chu Trang, đền Ðỗ Phủ, Khổng Minh, Nhạc Phi, mộ Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên, vườn Ngự Uyển Ðường Minh Hoàng. Ðâu đâu cũng thấy lại những di vật của người xưa cả ngàn năm, hình ảnh sống động của lịch sử, những vết tích xưa còn lại của một thời đại huy hoàng. 

Bất giác miên man chạnh lòng hồi tưởng lại quê hương bé nhỏ ở phương Nam thường hay hùng cứ chống lại sức ép từ phương Bắc, chúng tôi thấy chuyến đi còn thiếu vẻ thơ mộng của lũy tre xanh ở đầu làng, hình ảnh cô thôn nữ duyên dáng với chiếc nón lá chèo thuyền trên sông, cảnh bờ đê có các mục đồng nghêu ngao vắt vẻo trên lưng trâu, rặng dừa xào xạc trước gió, mưa rơi tí tách trên tàu lá chuối. Ôi quê hương Việt nam ta ơi! Dầu cách xa ngàn dặm, ta vẫn bùi ngùi nhớ mãi đến hình ảnh quê hương bé nhỏ mộc mạc nhưng không kém phần mỹ miều của ta và tự nhủ sẽ gặp lại quê hương trong một ngày nắng đẹp rực rỡ!


Thủy Trường

(Kỷ niệm chuyến Ðông du lần thứ hai - Hè 2001)