Những Tháng Năm Ngắn Ngủi Ở Ðiện Lực

Ký ức của Lê Minh Cứ


Nhân dịp dự buổi họp mặt "bỏ túi" THÐL tại nhà anh Hoàng Mạnh Cần (Canada) năm 2000 vừa qua, tôi gặp lại hai người quen biết cũ. Một là anh Lâm Dân Trường, người bạn học cùng lớp hồi trung học, và người nữa là anh Hồ Văn Phong, con người không thấy già, là xếp cũ của tôi ở Nhà máy Biến điện Thủ Ðức, sau này đổi là Sài Gòn.Cũng dịp này tôi được biết ông Trần Ngọc Oành, xếp lớn của tôi lúc bấy giờ, bị tai nạn tử vong lúc vượt biên. Bàng hoàng thương tiếc ông, người mà tôi quí mến và kính trọng, và đã có ít nhiều kỷ niệm lúc tôi mới vào Ðiện lực.
Vì biết trước là sẽ có mặt anh Phong nên tôi có đem mấy tấm hình đám cưới vợ chồng tôi, có sự tham dự của đông đủ anh em làm việc ở nhà máy mà bây giờ có nhiều người đã ra đi vĩnh viễn, để cùng anh Phong nhớ lại những kỷ niệm năm nào.
Khi chương trình thủy điện Ða Nhim được hình thành (do bồi thường chiến tranh của Nhựt Bổn) tôi được tuyển dụng làm điều hành viên (opérateur) cho Trạm Biến điện Thủ Ðức (danh xưng lúc bấy giờ). Lớp học Nhựt ngữ được khai giảng liền sau đó cho những người vừa được tuyển để chuẩn bị đi Nhựt. Thời đó mà đặng tuyển vào chương trình thủy điện Ða Nhim thì cầm chắc được hoãn dịch mà mọi thanh niên đều ao ước. Ngoài đồng lương khấm khá có phụ cấp công trường, và sau này thay thế bằng phụ cấp nguy hiểm, đặng đi Nhựt Bổn và sau này lại có nhà ở, thì quả là may mắn hơn nhiều người.

Nói đi Nhựt để học (voyage détudes) là sai, mà nói tập sự cũng trật. Chẳng qua là qua đó để thấy cái tiến bộ, cách thức điều hành, thấu rõ cái lối làm việc của người Nhựt mà thôi.

Ngày "tựu trường" khóa tiếng Nhựt tại cơ sở Ða Nhim đường Pasteur, gần Bộ Công chánh, tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông bà Oành ngồi ở ghế "học trò", được giới thiệu là Giám đốc Chương trình Thủy điện Ða Nhim. Bà Oành rất vui vẻ. Vào giờ ra chơi bà nói chuyện với mọi người, đặc biệt quan tâm hỏi han "ông già" Tố, người cùng toán đi Nhựt với tôi, và cũng làm việc tại nhà máy biến điện Sài Gòn ngay từ khi người Nhựt đầu tiên đến. Ông bà Oành không tham dự hết khóa Nhựt ngữ này. Bà thầy là người Nhựt chính cống, nói tiếng Pháp. Nghe nói chồng bà là người Nhựt làm việc ở Tòa Ðại sứ Nhựt tại Pháp, chồng chết. 

Ðược biết ở Nhựt tiếng Pháp không thông dụng, mà biết thân phận không giỏi tiếng Mỹ, bởi lẽ lúc còn đi học sinh ngữ thứ hai mà tôi chọn là Việt ngữ, do đó mà tôi rán học tiếng Nhựt để sau này còn làm chung với người Nhựt. Cũng may, cô bạn gái (sau này là nội tướng) của tôi có quen biết với bà thầy Kiriyama, nên ba chúng tôi thường gặp nhau, đi chung. Lúc thì đi ăn, đi xem đại nhạc hội, lúc thì họp mặt ăn uống tại nhà bạn gái hay đến chơi ở nhà bà thầy, ở gần đài phát thanh Pháp Á. Do thực tập nhiều nên khi mãn khóa, với vốn liếng Nhựt ngữ, tôi có thể mạnh dạn ăn nói dễ dàng khi đại diện cả toán sống mấy tháng ở Nhựt, gồm các anh Tố, Dương, Danh và Ðạt, và sau này theo dõi, học hỏi không khó khăn khi làm việc chung với các chuyên viên Nhựt Bổn.

Ðến Tokyo, chỗ ở đầu tiên của toán là Asia Center. Nhờ có đại diện hãng Nippon Koei là ông Churei nói tiếng Pháp hướng dẫn lúc đầu. Tôi còn nhớ một việc mà mãi khâm phục người Nhựt. Số là, lúc mới đến, việc đầu tiên là đến trình diệnTòa Ðại sứ Việt Nam ở Tokyo. Lúc rời Asia Center, anh Tố vẫn còn cầm passeport trong tay, đến Tòa Ðại sứ, xong đến thăm hãng Fuji Denki là hãng có cung cấp trang bị cho nhà máy biến điện, rồi đi ăn. Phương tiện tắc xi, xe điện mấy bận, rồi anh Tố cho hay là mất passeport, và không biết mất tại đâu và lúc nào. Ông Churei liên lạc bằng điện thoại ngay trên xe điện và nói không có ở Tòa Ðại sứ, không có ở khách sạn. Tối về, ghé lấy chìa khóa thì cô tiếp viên trao cho anh Tố một cái bao thơ trong đó có passeport và số tiền còn nguyên vẹn. Không biết họ tìm bằng cách nào! Chỉ biết là anh Tố mặt mày không còn bí xị nữa. Anh xác nhận là lúc đưa chìa khóa, và khi ăn sáng xong rồi ra khỏi khách sạn, passeport vẫn còn trong tay.

(Sài Gòn, 1962: Những người quay rõ mặt ra, từ trái: Ông TN Oành, anh HV Phong, anh chị Ðỗ Trọng Phúc. Người khuất sau lưng ông Oành là anh Nguyễn Phan Anh. Trong những người quay lưng ra, có các anh Nguyễn Xuân Giễm, Nguyễn Ðình Bá, Ðinh Văn Thọ, ...)

Khoảng thời gian ở Nhựt, ông Oành có đến thăm hỏi chúng tôi hai lần, có anh Thái Kế Khoa tháp tùng. Sau này, không nhớ vào lúc nào, tôi có đến ăn cơm ở nhà ông bà Oành cùng một số anh em. Dịp này bà Oành có hỏi tôi "Ông thích nhân vật nào trong Paul et Virginie?" Tôi rất ngạc nhiên, và trong phút chốc tôi nhớ ra lúc học tiếng Nhựt, lúc thực tập, bà thầy có bảo tôi kể tên một truyện mà tôi đã đọc qua, Paul et Virginie, mà bà Oành đã nghe và còn nhớ để nhắc lại với tôi.

Trong thời gian làm việc học hỏi với người Nhựt, ông Oành thường xuyên đến trạm biến điện xem diễn tiến công trình, lúc nào cũng hỏi han chúng tôi và rất hài lòng thấy chúng tôi làm việc như người Nhựt. Nhờ xuất phát trong "lò đào tạo" của người Nhựt, đến nước ngoài, mấy lần tôi "đuổi hãng", xin chỗ nào cũng "qua cầu" ... ("đuổi hãng" vì có hãng khác lương khá hơn và có vẻ bảo đảm việc làm lâu dài hơn).

Mỗi ngày đi xe lam ba bánh đến trạm biến điện. Một vài người Nhựt đã có mặt, đo đạc tính toán, trong lúc phần kiến trúc nhà máy cũng chưa xong. Trưa thì toán chúng tôi đều dùng cơm ở quán anh chị Bảy, dựng quán bán cơm chỗ mấy cái transfo hiện nay. Người Nhựt thì có xe đưa về quán trọ ở Thủ Ðức. Lần lượt các dụng cụ thiết bị chở từ Nhựt đến và cũng là lúc chúng tôi bắt đầu "khổ hạnh". Làm việc như người Nhựt, không câu giờ, không kén chọn công việc. Kỹ sư Nhựt, xếp Nhựt, cũng tháo thùng, khiêng đồ đạc. Tuần nào hầu như ông Oành cũng lên xem xét tiến triển công tác xây nhà máy và hoạt động của nhà thầu Nhựt Bổn. Không bao lâu thì việc xây cất cư xá trạm biến điện bắt đầu và chúng tôi cũng là những người "xi" nhà trước tiên theo đẳng cấp của mỗi người.

Mới ra đời mà được đào tạo theo lối Nhựt nên từ hồi đến Canada (có giấy giới thiệu của Nippon Koei mà tôi đã xin lúc người Nhựt về nước) đến lúc về hưu, tôi đã hai lần "đuổi hãng", và hãng cuối cùng làm trên 15 năm, vẫn có tiếng là làm việc ngon lành. 

Nhờ vốn Nhựt ngữ, tôi theo dõi công việc với người Nhựt và trước khi bàn giao nhà máy thì tôi được đề cử sang ban bảo trì thay thế anh M. như dự trù, sang làm điều hành viên thay tôi, làm với anh Phúc, còn tôi trở về anh Phong.

Mọi cơ hành của nhà máy điều khiển bởi dòng điện một chiều do một phòng chứa bình batteries cung cấp. Một kỷ niệm lúc sạc điện cho phòng batteries: ông Sudo yêu cầu ông Thơm cho tôi cùng với hai chuyên viên Nhựt phụ trách công tác này. Làm ngày lẫn đêm, cơm nước người Nhựt cung cấp và tôi còn nhớ sau này tôi có dịp thuyết trình diễn tiến, cách thức sạc, theo dõi cùng bảo trì với tất cả anh em điều hành nhà máy, có cả chị Mai, cùng lúc bổ túc cho anh Ðạt (nhỏ) trong việc thuyết trình cách lọc dầu cho các máy transfo.

Hai ngày sau, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhận cái bao thư tiền của ông Sudo trao, nói là tiền phụ trội làm thêm cho công tác sạc bình. Lúc đó tôi đâu có biết và đâu có lãnh tiền phụ trội bao giờ. Ông Sudo còn nói "ông biết cả việc bảo trì, thay thế bình hư, ý thức an toàn, ... sau này ông có thể đảm trách?" Ðể kỷ niệm món tiền không tưởng là có, tôi đi mua chiếc xe đẩy cho đứa con đầu lòng để đẩy đi vòng cư xá chơi.

Tôi vẫn còn nhớ trước ngày thuyết trình, anh Ðinh Văn Thọ có nói với tôi "mai tôi sẽ hỏi anh về batteries đó". Tôi lấy cuốn Physique ra, đọc lại phần nói về batteries . Hôm sau, trước khi thuyết trình đề tài chính, tôi nói qua các cơ cấu bình điện, tại sao có điện một chiều, v.v..., trả bài rõ ràng. Cám ơn anh Thọ, hôm đó chứng tỏ "thuyết trình viên" hiểu biết lý thuyết không tệ về batteries, trả bài y chang trong sách, tây ta lẫn lộn, ...

(Còn tiếp)

Lê Minh Cứ