Những Năm Bẩy Mươi

Hồi ký của Song Nguyễn

Phần thứ hai : Những ngày Biến động

Sáng 11 tháng 3 năm 1975 vừa đến sở làm ở Nha Tiếp vận, số 4 Nguyễn Siêu, tôi gặp T Khiết mặt lo âu, anh nói nhanh: “Mất Ban mê thuột rồi!”.  Chiều hôm trước tôi bận công chuyện đêm mới về đến nhà, đi ngủ ngay không kịp nghe tin tức, nên không biết tin quan trọng này. Tôi nghe tin, lặng người. Từ hồi đầu năm, tôi nhớ là ngày 5 tháng 1, 1975, VC chiếm Phước long, chiến sự trở nên trầm trọng mặc dù hai bên đang ở giai đoạn ngừng chiến chiếu theo hiệp định Paris. Tuy nhiên, Phước long chỉ là một tỉnh nhỏ mới thiết lập, trong khi Ban mê thuột là một thành phố quan trọng ở vùng Cao nguyên. Tôi cảm thấy sự trầm trọng của biến cố này.
Ngày hôm ấy và cả ngày hôm sau, ở Điện lực cũng như dân chúng tại Sài gòn không ngớt bàn tán, lo âu. Tình hình chính trị có dấu hiệu bất ổn, chính phủ không thấy nói gì đến kế hoạch tái chiếm tỉnh bị mất, cũng không có hành động nào để trấn an dân chúng. Những ngày tiếp theo, tình hình tồi tệ hơn. Thay vì phản công chiếm lại Ban mê thuột, hay có một hành động tích cực nào khác, chính phủ VNCH lại rút bỏ Pleiku, thủ phủ miền cao nguyên, nơi đóng bộ tư lệnh quân đoàn 2 và vùng 2 chiến thuật. Cả một quân đoàn rút đi vội vã theo con đường nhỏ đi về Nha trang, binh sĩ mang theo gia đình rồi dân chúng ùn ùn kéo theo làm thành một đám đông hỗn loạn. Đại tá Biệt động quân Phạm Văn Tất chỉ huy cuộc rút binh, không kiểm soát được đám đông khiến xẩy nhiều vụ binh lính cướp bóc dân chúng, một sự kiện chưa từng có từ trước đến nay ở miền Nam VN.

Chúng tôi ở Sài gòn không hay biết gì, đến khi đọc trên báo Chính Luận bài phóng sự của ký giả Nguyễn Tú nói về cuộc rút binh bi thảm với những sự kiện kinh hoàng mới biết. Chính phủ thì vẫn yên lặng, cho đến khi dân chúng xôn xao quá TT Thiệu mới tuyên bố, trong bài diễn văn ông bào chữa cho cuộc rút binh, là “không cố thủ Pleiku” và đưa ra từ ngữ mới: "tái phối trí lực lượng".

Trước những biến cố dồn dập, tôi và các bạn hàng ngày họp nhau bàn tán xôn sao. Ban đầu chúng tôi cố tin vào những dư luận trấn an như: chia đất, chia vùng ... rồi kẻ đoán thế này, người đoán thế nọ, rất hoang mang lo lắng. Dần dần, tới những ngày cuối tháng 3 thì tình hình càng tồi tệ. Chính phủ  không còn đưa ra tin tức quân sự nữa, dân chúng phải bắt các đài ngoại quốc như BBC, VOA nghe tin tức. Tình hình càng ngày càng suy đồi, gần như mỗi ngày lại mất một tỉnh. Đến khi mất Huế, Đà nẵng, vị tướng lãnh rất được kính trọng là tướng Ngô Quang Trưởng được tầu Hải quân đưa về Sài gòn, ngất xỉu trên tầu. Rồi Quảng ngãi, Nha trang, Tuy hòa ... từ từ mất mà không có giao tranh. Đếán khi Đà lạt mất tôi được biết qua những tin tức của những người dân từ ø Đà lạt chạy về.  

Tình hình thay đổi hàng ngày, tuy vẫn đi làm, nói chuyện vui vẻ với bạn bè, nhưng tôi cảm thấy là đã đi dần đến chỗ tuyệt vọng. Tôi gọi điện thoại cho người bạn trước là “vua xuống đường”, hiện đang là dân biểu quốc hội. Thường ngày, anh ta là người nồng nhiệt, tự tin; hôm đó cũng tỏ vẻ buồn rầu lo lắng, trả lời ỉu xìu : “mình thua chứ không phải chia đất gì hết “! 

Khoảng giữa tháng 4 , tôi được anh NQ Thiều gọi vào trao cho sự vụ lệnh đi công tác tại đảo Phú quốc để liên lạc và quan sát hải cảng hầu đưa máy phát điện Diesel ra Phú quốc, chạy theo yêu cầu của cơ quan phụ trách về người tỵ nạn. Lúc ấy đảo Phú quốc có rất nhiều người tỵ nạn, đa số là dân chúng chạy loạn từ miền trung và cao nguyên được tầu hải quân đưa ra tạm trú ở đây.

Tôi lãnh sự vụ lệnh nhưng kiếm khắp nơi không có phương tiện nào đi Phúù quốc. Tìm mua vé Air VN không được, tôi đi xin các phương tiện của quân đội thì chỗ nào cũng bận rộn không nơi nào cho. Tôi cứ loay hoay đi xin phương tiện, đi công tác, mỗi ngày vào sở trình diện một lát rồi lại đi. Ở Điện lực lúc này mọi người đã bi quan, ai cũng thấy rõ miền Nam sắp mất nên nhiều người bàn tán chuyện ra đi. Nhà tôi ở gần trong khu Đệ Nhất khách sạn gần phi trường TSN, chính mắt tôi thấy những cuộc di tản người, đa số các gia đình nhân viên sở Mỹ. Những người được di tản đến chỗ hẹn, vội vã leo lên xe bus chạy thẳng vào phi trường. 

Sau cùng, tôi gọi người bạn thân, vợ chồng anh đang làm cho một công ty hải sản ở miền Tây. Khi tôi gọi, bạn tôi còn lo ... đi bắt tôm để về đông lạnh xuất cảng, và cho rằng tình hình chưa đến nỗi nào. Vài ngày sau, vợ chồng anh ta về Sài gòn, anh đi một vòng hỏi thăm tin tức mới công nhận là tình hình tuyệt vọng và quyết định tìm kế hoạch di tản. Tụi tôi kết hợp nhóm anh em thân thiết, tính lập kế hoạch đưa anh em xuống miền tây, khi biến động thì kéo nhau xuống tầu đi luôn. Nhưng sau, trong nhóm có người kiếm được phương tiện của người Mỹ bốc đi, nên tôi được nhập vào đi luôn.   

Sáng sớm ngày 27 tháng 4, 75, tôi nhớ là ngày chủ nhật, nhóm chúng tôi tới điểm hẹn tại một cơ sở Hoa kỳ góc đường Hiền Vương và Nguyễn Thông. Đây là khu đất trống từ thời chính phủ đệ nhất cộng hòa, sau được người Mỹ mướn xây cất thành một căn cứ chuyển vận. Nhóm của tôi đến đứng chung với khoảng vài chục người khác, tất cả đều lặng lẽ, không ai nói lời nào, hoặc chỉ trao đổi nhau những lời thì thầm nhỏ. Một nhân viên Hoa kỳ dáng gầy gò khắc khổ, cầm máy walkie-talkie đi lại, thỉnh thoảng dừng nói chuyện với đám người chờ đợi bằng tiếng Việt khá sõi. Sau này tôi được biết ông ta là Ed Jones. Chờ đợi một lát thì có một nhân viên người Việt tới giải thích vắn tắt là tình trạng đã tới lúc khẩn trương, rất khó có máy bay đi thẳng qua đảo Guam, vì vậy nhóm chúng tôi sẽ sẽ được đưa ra đảo Phú quốc rồi từ đó sẽ đi bằng tầu thủy. 

Đến giờ di chuyển, cả nhóm chúng tôi được đưa lên những xe cam nhông bịt bùng, tôi còn nhớ lúc xe đi trên đường Công Lý, tôi nhìn xuống còn thấy đường phố Sài gòn vẫn có những sinh hoạt bình thường với những xe gắn máy chạy tấp nập. Khi tới phi trường TSN, đoàn xe vào phi trường bằng lối riêng, không phải qua trạm kiểm soát. Vào trong, xe chạy thẳng vào trạm hành khách của hãng Air America. Ở đó chúng tôi được người hướng dẫn sắp hàng lấy vé máy bay đi Phú quốc.

Sau khoảng 2 giờ bay, máy bay đáp xuống phi trường Dương đông. Ra khỏi máy bay trời nắng rát và khô, nhưng có chút gió biển nên cũng thoáng phần nào. Người Mỹ đi cùng với chúng tôi nói chuyện với mấy sĩ quan VNCH, tôi thấy có vị đeo lon đại tá Hải quân và tôi nghe có người nói thầm: “Đại tá Đặc khu trưởng đặc khu Phú quốc”. Chúng tôi được những xe GMC nhà binh di chuyển về một trại, có lẽ là một doanh trại của quân đội được sử dụng làm trạm chuyển tiếp cho cuộc di tản. Đến đây tụi tôi được nhân viên Mỹ đi cùng từ  Sài gòn bàn giao cho trại. Người chỉ huy trại là một nhân viên Mỹ già, mặc quần áo dân sự, nói vắn tắt vài lời với nhóm người mới đến, đại khái  là “từ giờ phút này quý vị dưới sự quản trị của chính phủ Hoa kỳ, trong vài ngày tới sẽ có tầu của hạm đội số 7 đón sang Mỹ... “ 

Nhóm chúng tôi được hướng dẫn về một phòng trống nghỉ tạm. Phòng không có giường chiếu chi cả, mọi người phải ngủ ngay dưới đất, sau chúng tôi xoay xở mượn tạm một số chiếu ngủ đỡ. Trại cũng không cung cấp đồ ăn, mọi người phải tự túc lấy. May trong nhóm có một số phụ nữ mang theo một số đồ ăn khô như thịt chà bông, bánh mì ... ăn tạm ngày hôm đó. Ngày hôm sau, chúng tôi được biết thêm về các sinh hoạt của trại, mỗi buổi sáng có một xe cam nhông chạy ra chợ Dương đông, mọi người có thể gửi mua thực phẩm và một số đồ dùng cần yếu, nhóm chúng tôi vì mới đến nên được cử vài người theo xe ra chợ. Tôi bèn xin đi. Trước khi đi chúng tôi được dặn dò không được tiết lộ cho ai biết về trại, và mỗi người khi đi được đóng một con dấu vào bàn tay trái để khi về nhận diện cho vào trại. Lần đầu tiên tôi được thấy Phú quốc, khu chợ cũng buôn bán sầm uất. Tôi gặp một ông chủ tiệm tạp hóa ở đầu chợ, ông ta là người bắc di cư nói: “cậu ơi, tôi từ ngoài bắc vào nam năm 1954, vì quá sợ chiến tranh nên chọn nơi hẻo lánh này để được yên ổn, nay không biết thế nào”. Nhà ông nuôi con chó giống Phú quốc, con chó rất đẹp, lông mầu xám, đặt biệt đám lông trên lưng xoắn lại thành một đường vòng suốt lưng . Trước đây tôi được nghe về giống chó này, nay lần đầu tiên mới được thấy. Ông chủ nói chó này rất khôn, giữ nhà rất tốt.

Có ngày, chúng tôi cũng ra bãi biển chơi. Biển Phú quốc thật đẹp, có bãi cát, núi đồi, nước xanh thật hấp dẫn. Tôi rất tiếc ở miền Nam hơn 20 năm, lần đầu tiên mới biết cảnh đẹp ở Phú quốc thì lại sắp phải bỏ nước ra đi. Tôi nhớ lại hồi năm 1954 khi rời miền bắc ra đi. tôi cũng được đi ngang qua vịnh Hạ long phỏng cảnh đẹp tuyệt vời.

Mấy ngày ở trại, tôi được thấy nhiều khuôn mặt văn nghệ như nhạc sĩ ban AVT Lữ Liên, ca sĩ Hoài Trung, ca sĩ du ca Diễm Chi, hai vợ chồng nhà văn Túy Hồng Thanh Nam ... họ là những người làm việc trong đài Mẹ Việt Nam được Mỹ bốc đi. 

Ở cạnh phòng tôi ở, tôi thấy một người đàn bà gầy gò ở với mấy con nhỏ, thườmg nằm khóc, về sau tôi mới biết chị là vợ của ca sĩ  Bùi Thiện. Tôi nghe nói  là khi gia đình anh chị được lên trên một xe bus để đến phi trường, trong khi chờ xe di chuyển thì anh Thiện chạy đi mua đồ cho con, anh chưa kịp về thì xe được lệnh di chuyển, bỏ lại anh. Chị rất lo buồn không biết số phận chồng ra sao nên chỉ biết khóc, tôi thấy bạn bè của chị, trong đó có ca sĩ Diễm Chi, hay tới thăm an ủi. May mắn câu chuyện về gia đình chị lại có một “happy ending”: khi nhóm chúng tôi đến đảo Guam thì anh Bùi Thiện không biết làm cách nào mà đã có mặt ở đó để đón chị và các con.

Đêm 29 tháng 4, chúng tôi được lệnh lên đường, không được mang theo hành lý, mỗi người chỉ một túi nhỏ cầm tay. Tôi soạn được mấy bộ quần áo và giấy tờ cần thiết vào túi nhỏ đeo trên vai ra. Cùng nhóm chúng tôi có cặp vợ chồng có hai con nhỏ khoảng một hai tuổi, rất may hai anh chị đã chuẩn bị sẵn hai cái địu đeo con sau lưng. Chúng tôi xếp hàng đi trong đêm, từng toán một leo lên xe GMC  ra hải cảng, đến nơi được xuống tầu há mồm của hải quân chở ra khơi. Chạy được một lát thì mấy người lính hải quân thủy thủ trên tầu nói : ”bà con sẽ ra tầu của hạm đội 7 đi Mỹ, vậy ai còn tiền VN xin để lại cho anh em thủy thủ”. Mọi người đều móc bóp, bao nhiêu tiền VNCH trao cho mấy anh lính. Chạy khoảng hơn một tiếng đồng hồ đến chiến hạm. Tôi nhìn thấy con tầu vĩ đại sừng sững trên biển, cao băøng căn nhà 5, 6 từng, đèn thắp sáng rực. Tôi đọc thấy hàng chữ tên tầu: USS Challenger. Tôi chợt nhớ lại hồi năm 1954, gia đình tôi di cư từ bắc vào nam cũng được đi trên tầu Mỹ có tên là Marine Serpent.

Tầu há mồm cặp vào tầu lớn, từ trên tầu thả xuống các thang dây cho mọi người  leo lên. Bây giờ tôi mới thấy lệnh cấm mang hành lý là đúng, vì không thể nào vừa leo thang dây vừa mang theo đồ nặng được. Tôi đi dưới anh chị có hai con nhỏ, may có địu đeo con trên lưng nên leo lên được an toàn. Vừa leo tôi vừa nghĩ lúc đó có ai tuột tay té thì chết chắc chắn. Khi lên tầu, mọi người phải qua trạm khám xét, người nào có vũ khí hay vật dụng bằng kim loại như dao nhọn đều bị tịch thu. Trên tầu, nhóm chúng tôi kiếm một góc trong khoang tầu cho nhóm đàn bà con nít, còn đàn ông lên ngồi trên boong. Đây là tầu chở hàng hóa và binh sĩ, rất rộng rãi và có nhiều từng, nghe nói có thể chở được 8, 9 ngàn người. Chúng tôi lên hết đã quá nửa đêm, tầu há mồm của hải quân quay về Phú quốc để đưa toán sau ra. Mãi tới gần sáng toán sau mới ra tới, nghe nói có chuyện lộn xộn gì đó. Khi mọi người lên hết, tầu sửa soạn để lên đường thì trời sáng, bắt đầu ngày 30 tháng 4, 1975. Trên tầu có người mang radio bắt đài Sài gòn, mọi người xúm lại nghe. Chỉ có bản tin nhắc đi nhắc lại là TT DV Minh sắp tuyên bố quan trọng. Đến khoảng hơn mười giờ thì ông Minh lên tiếng, kêu gọi quân lực VNCH buông súng và tuyên bố “sẵn sàng trao quyền cho mặt trận GPMN”. Tôi thấy nhiều người quanh tôi đều bàng hoàng lặng thinh, cạnh tôi có một  anh lính trẻ ôm mặt khóc và tôi nghe đâu đó có tiếng nói vu vơ: “thế là mất nước”!

Khoảng không lâu sau đó bắt đầu có vài tầu từ  Phú quốc đi ra. Hình như họ đã chuẩn bị trước. Đa số là tầu đánh cá nhỏ, chở khoảng vài chục người gồm nhiều đàn bà con nít, có tầu có cả vị Linh mục và giáo dân. Tầu Mỹ đang chạy ngưng lại và thuyền trưởng sau khi tham khảo đâu đó ra lệnh cho vớt những người trên tầu nhỏ. Những thang dây lại được thả xuống cho người ở tầu dưới leo lên. Số tầu ra khá nhiều, vớt một lát tầu Mỹ được lệnh di chuyển khẩn cấp, đành phải kéo thang dù còn nhiều người muốn lên. Tôi được chứng kiến một cảnh tượng rất đau lòng là tầu được vớt cuối cùng chỉ mới lên được một nửa thì bị rút thang, có một gia đình ngư phủ có đứa con trai nhỏ khoảng một tuổi nhờ hai thanh niên ẵm lên trước, cha mẹ lên sau. Nhưng đứa trẻ vừa lên thì có lệnh rút thang, cha mẹ kẹt lại. Thế là hai anh thanh niên bất đắc dĩ phải mang theo đứa bé. Về sau khi tới đảo Guam, tôi gặp hai anh này tiếp tục làm “gà trống nuôi con”, đăït tên thằng nhỏ là Guam, đi đâu cũng sách theo vừa bi thảm vừa buồn cười. Sau tôi mất dấu, không biết hai anh đó có tìm ra cha mẹ đứa nhỏ mà trả lại không.

Tầu chạy suốt ngày hôm đó, qua địa phận đảo Côn sơn rồi tới ngoài khơi Vũng tàu thì nhập vào Hạm đội số 7. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy tận mắt nguyên cả một hạm đội Hoa kỳ. Hàng trăm chiếc chiến hạm lớn nhỏ dàn trên một vùng biển rộng lớn tạo nên một phong cảnh hùng vỹ lạ thường. Tôi rất tiếc không biết nhiều về ngành hàng hải quân sự để phân biệt tầu nào là tuần dương hạm, tầu nào là khu trục hạm ... ; chỉ biết chiếc tầu nào có sân để máy bay đáp xuống thì chắc là ... hàng không mẫu hạm! Ngoài những tầu chiến, tôi còn thấy có khoảng 6, 7 chiếc tầu loại chở người và hàng hóa như tầu USS Challenger chờ sẵn để vớt người tỵ nạn. Suốt ngày hôm đó, rất nhiều tầu nhỏ chở người tỵ nạn từ Vũng tàu kéo ra, các người trên các tầu này đều được cứu lên. Khi mọi người đã lên hết, những xác tầu đều bị nổi lửa thiêu hủy. Công việc này được diễn tiến suốt ngày, tới ban đêm chúng tôi còn thấy những xác tầu cháy sáng rực. Tôi còn được thấy nhiều trực thăng của không quân VNCH bay ra các hàng không mẫu hạm, khi các người trên trực thăng xuống hết, các trực thăng cũng bị đạp xuống biển. Tôi trải qua đêm 1 tháng 5 ngoài khơi Vũng tàu, những chiến hạm của Hạm đội số 7 Hoa Kỳ quanh tôi như một thành phố nổi, những đốm lửa của những chiếc tầu đánh cá cháy trên biển; tất cả  làm thành một cảnh tượng hùng vỹ và bi thảm, suốt đời tôi không thể nào quên được.

Ngày hôm sau, tầu US Challenger được lệnh khởi hành. Lúc đó trên tầu đã chật cứùng người, trong các khoang tầu không có chỗ chen chân, chúng tôi phải ngủ cả trên boong. Vấn đề tiếp vận rất khó khăn, mấy ngày đầu mỗi người được phát một khẩu phần ration C của quân đội Mỹ, mấy ngày sau số khẩu phần này cũng hết, đành phải có gì ăn nấy. Vấn đề bài tiết mới gay go. Để cung cấp cho nhu cầu khẩn thiết này, trên thành tầu có những nhà cầu dã chiến bằng gỗ bắc lồi ra ngoài để phân rớt xuống biển. Mỗi lần đi cầu nghe gió vù vù, chỉ sợ lọt xuống biển. Chạy khoảng ba ngày thì tới vịnh Subic bay ở Phi luật tân, tầu Challenger vào hải cảng nhưng chúng tôi không được lên bờ, tầu chỉ ngưng lại mấy tiếng đồng hồ để lấy đồ tiếp tế rồi đi tiếp tục đến đảo Guam.

Tới đêm 7 tháng 5, 1975, chúng tôi đến đảo Guam. Tầu cập bến vào hải cảng khoảng nửa khuya, nhìn lên bờ, tôi thấy cảnh tượng tương tự như bến Tân cảng Sài gòn. Tôi đi theo đoàn người tỵ nạn xuống đất, được xuống qua cầu thang bằng sắt chứ không còn là thang dây nữa. Rải rác ở các bậc thang có các quân nhân Hoa kỳ đứng giúp đỡ đám người tỵ nạn VN mệt mỏi xác xơ. Tôi đi ngang qua một anh lính da đen còn rất trẻ, anh ta vỗ vai tôi với vẻ ưu ái và chúc  good luck” làm tôi cảm thấy được an ủi trong tình người ấm áp. Xuống hết thang, trên đường vào hải cảng, tôi đi ngang qua khu vực của hội Hồng thập tự. Một nhân viên cao tuổi, đầu bạc trắng, vẻ hiền hòa, tươi cười đứng chào từng người bằng câu “Welcome to Guam”. Chúng tôi cũng đi qua hàng ký giả đài truyền hình địa phương.  Sau này tôi mới biết tầu Challenger là tầu đầu tiên chạy thằng từ VN cập bến Guam, nên chúng tôi được tiếp đón hơi đặc biệt. Sau đó, các tầu khác cũng từ hạm đội 7 (tôi nghe nói là có 9 chiếc tầu tương tự như tầu USS Challenger) tiếp tục đến. Các ngày kế tiếp các tầu tỵ nạn của người Việt như tầu VN Thương tín, tầu Tân Nam Việt ... cũng đến đảo. Vài ngày sau thì chúng tôi được tin đoàn tầu của Hải quân VN gồm 45 chiến hạm đủ loại do Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh chỉ huy cũng đến nơi.

Ở đảo Guam lúc đó chật cứng người. Dân chúng toàn đảo có khoảng gần 100 ngàn người, mà số dân tỵ nạn lên tới trên 100 ngàn người. Sau khi xuống tầu, chúng tôi đước đưa vào khu vực có những phòng tắm, được tắm rửa thay áo quần. Sau đó đi qua khu nhà ăn, được ăn chút thực phẩm nóng, rồi ra xếp hàng làm thủ tục giấy tờ. Vì số người đến quá đông, tôi phải đứng sắp hàng suốt đêm hôm đó đến sáng ngày hôm sau mới tạm xong giấy tờ, tụi tôi mỗi người tỵ nạn được cấp một thẻ I-94 nhỏ bằng nửa bàn tay, trong đó có ghi là người tị nạn được chấp thuận vào đất Hoa kỳ theo chế độ "tạm dung" (Parole). Mảnh giấy nhỏ bé này là tất cả giấy tờ người tỵ nạn VN được cấp khi vào đất Mỹ.

Xong giấy tờ, chúng tôi được đưa vào một khu nhà lều lập trên bãi cát. Khu này rộng mệnh mông, có tên là Orote Point, sau này có thể sẽ là địa điểm lịch sử nơi người Việt đầu tiên đặt chân lên đảo. Trại có rất nhiều lều, mỗi lều có khoảng hơn một chục chiếc ghế bố xếp. Mỗi người chiếm một ghế bố, mỗi gia đình chiếm một khu vực trong lều; những kẻ độc thân (thứ thiệt hay bất đắc dĩ) tự động làm quen với nhau cũng chiếm một số ghế bố ở cùng lều để nương tựa lẫn nhau. Vì toàn là các lều dựng sát nhau  nên khu vực này ngoài cái tên chính thức là Orote Point còn được gọi là "Thành phố lều" (Tent City).

Sinh hoạt trong trại rất là rộn rịp. Sáng ngủ dậy ra khu tập thể rửa mặt hoặc sử dụng phòng tắm nhà tiêu công cộng, sau đó đến khu nhà ăn tập thể ăn sáng rồi lang thang ra khu vực công cộng của trại để nghe ngóng tin tức, tìm người quen, đọc báo... Bấy giờ, ở Guam có một chương trình phát thanh tiếng Việt do nữ ca sĩ Kim Vui phụ trách. Cô Kim Vui hồi những năm 50’s , 60’s là ca sĩ khá nổi tiếng tại Sài gòn, có giọng ca cao vút được thính giả ái mộ qua bài hát Giòng Sông Xanh do Phạm Duy đặt lời Việt. Cô Kim Vui lấy chồng Mỹ lúc đó đang cư ngụ tại Guam nên được mời làm chương trình phát thanh để đáp ứng nhu cầu người tỵ nạn VN. Về phần báo chí, trong những ngày đầu tháng 5, 75 ở Guam đã có tờ nhật báo tên là Chân Trời Mới phát hành trong các trại tỵ nạn. Tờ báo này do cơ quan phụ trách người tỵ nạn xuất bản và do nhóm nhân viên VN đã từng làm việc trong cơ quan phòng thông tin Mỹ ở Sài Gòn (USIS) viết. Báo ra khổ nhỏ hơn nhật báo thường chút xíu, có 4 trang, chữ Việt còn phải đánh dấu bằng tay những cũng rõ ràng, sạch sẽ. Vì có chương trình phát thanh và báo Chân Trời Mới nên chúng tôi được cập nhật tin tức. Tôi được biết một số văn nghệ sĩ VN có mặt trên đảo : Phạm Duy, Võ Phiến, Vũ Khắc Khoan... Ca sĩ Khánh Ly cũng đi được nhưng lưu lạc sang đảo Wake. Chúng tôi rất khích lệ đọc trên báo Chân Trời Mới thấy quốc hội Mỹ chấp thuận ngân khoản 450 triệu đô la để dành cho việc định cư số 145 ngàn người tỵ nạn Đông dương. Đặc biệt, chúng tôi rất vui sướng, có thể nói là hãnh diện, khi đọc bản tuyên ngôn của Thượng Viện Hoa kỳ chào đón những người tỵ nạn VN tới Mỹ. Đọc bản tuyên ngôn này, tôi cũng như toàn thể những người có mặt trên đảo Guam lúc ấy rất cảm động. Rất tiếc tôi không giữ được bản văn này, nhưng chắc chắn bản văn có trong thư khố chính phủ Hoa kỳ, các vị nào muốn viết lại lịch sử người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ có thể vào các thư viện kiếm lại.

Về các thân hữu điện lực, hồi đó tôi gặp một số người như anh TS Thực, anh NT Hùng, thầy Lễ, thầy Xuân ... Ngay hôm tôi mới đến đảo Guam, hôm sau gặp ngay TSThực ở Orote Point. Thực có vẻ vội vã chỉ nói vắn tắt là anh rời Sài gòn bất ngờ, không mang hành lý gì theo, chỉ có mỗi bộ quần áo mặc trên người. Rồi anh nói đang làm giấy tờ đi Canada vì có người em ở bển. Sau đó anh lo giấy tờ mau chóng nên tôi không gặp anh lần nào nữa. NT Hùng thì tôi gặp trong hoàn cảnh bi đát vì anh lạc vợ con, phải hàng ngày nhờ đài phát thanh nhắn tin tìm. Sau đó tôi được tin anh gặp laiï vợ con rồi chuyển trại khác vào Mỹ. Khoảng hơn tháng sau, tôi tình cờ gặp thầy Bùi Văn Lễ trong lúc thầy đang chờ đi Pháp, thầy Lễ cho tôi biết thầy Xuân cũng ở một trại tại Guam. Tối đó tôi tìm thăm thầy Xuân, rồi sau đó cả thầy Lễ và thầy Xuân cùng đi Pháp.

Tôi cũng gặp một số nhân vật của Sài gòn như Luật sư Đinh Thạch Bích, Luật sư Nguyễn Tường Bá... Luật sư Bá chỉ đi được một mình, kẹt vợ con ở nhà, đang xin sang Canada vì nghĩ rằng sẽ dễ đón vợ con. Sau này khi tôi chuyển qua trại Asan để chờ vào lục địa Mỹ, trại này có nhân vật tên là Tony Lâm làm đại diện trại. Ông Tony Lâm sau này là người Việt đầu tiên đắc cử nghị viên ở vùng Little Saigon.

     Ở trại Orote Point được ít ngày thì tôi được chuyển qua một trại nhỏ, trước là cư xá của hãng thầu Mỹ. Trại chỉ có vài trăm người nên cũng đỡ xô bồ. Trong trại này tôi gặp lại lại gia đình ca sĩ Bùi Thiện. Nhiều buổi chiều gặp nhau chuyện gẫu, anh Bùi Thiện kể lại những mẩu chuyện sống với CS ở Hà Nội. Một buổi chiều, tôi đi nghe một mục sư Tin lành Mỹ giảng đạo bằng tiếng Việt rất hay, đó là mục sư Thomas Stebbins. Ông sinh tại VN (cha ông cũng là Mục sư), nên lấy tên Việt là Tôn Thất Bình. Sau này ông giúp đỡ rất nhiều người Việt định cư trên đảo Guam, và ông giúp đỡ một mục sư người Việt thành lập nhà thờ Tin Lành VN trên đảo.

Vào khoảng đầu tháng 6, 75 thấy có một hãng gửi giấy vào trại kiếm kỹ sư điện, tôi bèn nộp đơn xin thử. Hãng cho người vào trại phỏng vấn rồi bằng lòng mướn tôi ra làm. Hôm sau tôi thấy hình chụp tôi đang nói chuyện với đại diện hãng đăng trên một tờ nhật báo ở Guam. Tôi ra làm việc với hãng này khoảng hai tháng, gặp toàn kỹ sư người Phi luật tân. Ở đảo Guam, dân chính gốc Guam sống rất tà tà, đa số làm công chức hay các việc về văn phòng; các công việc khó khăn hay nặng nhọc về các ngành chuyên môn đều phải mướn người ngoại quốc. Hồi năm 1975, người ngoại quốc ở Guam nhiều nhất là người Phi có khoảng 25 ngàn người, rồi tới Đại hàn, Nhâït bản. Tôi được một anh bạn là kỹ sư người Phi, tuy mới quen nhưng rất tử tế, chở đi chơi khắp đảo. Đảo nhỏ xíu, người bạn Phi chở tôi đi vòng quanh đảo một từ sáng đến chiều là hết. Trên toàn đảo chỉ có một địa điểm lịch sử duy nhất là đài kỷ niệm nơi nhà thám hiểm Mangelan đặt chân lần đầu tiên lên đảo. Tuy nhiên, đảo Guam cũng có nhiều bãi biển rất đẹp, nhiều chỗ có những hàng dừa rất thơ mộng làm tôi nhớ lại một bài hát của Phạm Duy : “Hãy ghé bến bờ, có những bóng dừa...” Tôi cũng làm quen được với một gia đình người Guam chính cống. Anh chồng làm dân gốc Guam điển hình da ngăm đen, mập mạp, làm cảnh sát; vợ là người Guam lai Tây ban nha, da trắng bóc, làm cho một hãng bảo hiểm. Gia đình có đất đai nhà cửa khang trang, có thể nói là một gia đình trung lưu ở đảo. Ở  ít lâu tôi thấy đời sống trên đảo rất xuề xòa, làm ít mà lễ lạc, ăn chơi thì nhiều. Làm việc được hai tháng thì tôi chán quá lại xin nhập trại trở lại để vào lục địa. Hồi đó tôi đã liên lạc được với anh BV Minh. Anh Minh được Điện Lực cử đi tu nghiệp ở Oklahoma, sau tháng 4 75 anh xin được làm việc cho công ty Điện ở Iowa. Anh viết thư khuyên tôi phải vào lục địa mới có cơ hội thăng tiến trên nước Mỹ.  

Vào khoảng cuối tháng 8, tôi chuẩn bị vào California. Trong nấy tuần lễ cuối, tôi chuyển qua một trại khác. Ở đây, tôi được gặp nhạc sĩ Ngọc Bích. Từ lâu tôi đã rất thích nhạc của Ngọc Bích, từ những bài hát tình cảm lãng mạn của ông như  Mộng Chiều Xuân, Đôi Chim Giang Hồ, Lời Hẹn Xưa, đến những bài ca sinh hoạt như Đón Gió Mới ... Lúc ấy ông đã xấp xỉ 50 tuổi, dáng người thấp, trán hói, da trắng, vẻ công tử Hà nội. Ông sống rất giản dị, đi đâu chỉ một tay nải xách theo. Tôi nghe ông kể chuyện thật của ông mà giống như chuyện đùa: những ngày cuối tháng 4 ở Sài Gòn ông chạy vào tòa đại sứ Mỹ khai rằng ông là tác giả bài Suy Tôn Ngô Tổng thống và bài Sol Do Mì hồi chiến dịch Tố Cộng những năm 1955, 56; nên được toà Đại sứ Mỹ bốc đi.

Nhạc sĩ Ngọc Bích sống độc thân, không vợ con, tính tình rất phóng khoáng, nghệ sĩ. Những lúc rảnh rỗi, ông thường cùng tôi nói chuyên. Tôi được nghe ông kể lại những chuyện trong thời gian ông đi kháng chiến với Phạm Duy,  những năm về Hà nội rồi vào Sài gòn. Tôi đi cùng với Ngọc Bích trong chuyến bay từ Guam vào Mỹ khoảng đầu tháng 9, 75; ở cùng trại Pendleton với ông một thời gian nữa rồi mới chia tay, tôi lên Seattle còn ông định cư ở nam Cali. Những năm sau, đọc trên báo chí, tôi vẫn theo dõi những hoạt động văn nghệ của ông. Ông xuất hiện cùng với Lữ Liên và một nhạc sĩ khác (tôi quên tên)  nhiều lần trên sân khấu để tái lập ban AVT. Tôi chỉ tiếc rằng những năm sau tôi về Cali nhiều lần mà không có dịp gặp lại nhạc sĩ Ngọc Bích lần nào nữa.        

Song Nguyễn

(Minnesota, tháng 9 2002)