Những Năm Bẩy Mươi

 


Hồi ký của Song Nguyễn

Phần ba: Người Tỵ Nạn Buồn

(tiếp theo và hết)

Tháng 9, 1975; tôi được di chuyển tới trại Pendleton, tiểu bang California. Rời Guam vào buổi sáng, sau nhiều giờ bay về hướng đông trên Thái bình dương, chúng tôi được phi hành đoàn cho biết đã vượt qua kinh tuyến 180 tức là đường Phân ngày Quốc tế (International Date Line), thời gian trở lại ngày hôm trước. Khoảng ba tiếng đồng hồ sau, máy bay đáp xuống phi trường Honolulu để lấy nhiên liệu, hành khách được ra khỏi phi cơ để co dãn gân cốt sau nhiều giờ ngồi bó gối. Tôi rủ nhạc sĩ Ngọc Bích đi dạo chung quanh phi trường, xem điểm địa đầu của nước Mỹ (đảo Guam cũng thuộc Mỹ nhưng không thực sự là tiểu bang của Hoa kỳ). So với phong cảnh có thể gọi là thôn dã của đảo Guam, Honolulu sang trọng hơn rất nhiều. Thấy phòng đợi của phi trường trải thảm đỏ, nhạc sĩ Ngọc Bích nói đùa: “Người Mỹ trải thảm đỏ đón tụi mình”. Rất tiếc chúng tôi không được ra ngoài để coi phong cảnh Hawaii, nơi được mệnh danh là “thiên đàng hạ giới”. Ước vọng này tới đúng 20 năm sau tôi mới thực hiện được trong chuyến đi nghỉ hè với gia đình vào năm 1995.

Sau khi nghỉ, máy bay lại cất cánh tiếp tục bay khoảng 5 tiếng đồng hồ tới California. Vì chuyến bay được chính phủ Hoa kỳ thuê đặc biệt chỉ chở người tị nạn nên máy bay không đáp xuống phi trường quốc tế ở Los Angeles mà đáp xuống phi trường quân sự ở El Toro, gần San Diego. Tôi theo đoàn người ra khỏi máy bay, lúc đó vào khoảng gần trưa, tuy tri nắng chang chang nhưng không khí mát mẻ, không còn oi bc như ở Guam nữa.

Chúng tôi được lên xe bus chở về trại Pendleton. Đây là một trong bốn trại được lập ra trên lục địa Hoa kỳ để đón người tỵ nạn VN, ba trại kia là Fort Chaffee ở tiểu bang Arkansas, một trại ở Florida (tôi quên tên), và Indiantown Gap ở Pennsylvania. Cũng như các trại khác, Pendleton là một trại của quân đội Mỹ được cải biến thành trại tỵ nạn. Vì số người tỵ nạn quá đông đảo, tôi không nhớ rõ nhưng chắc cũng vào khoảng vài chục ngàn người, nên chỉ một số ít người được ở trong các tòa nhà xây cất hẳn hoi. Đa số còn lại đều ở trong các lều do các binh lính Mỹ phải dựng tạm, không khác gì ở trại Orote trên đảo Guam. Khi nhập trại, tôi ngạc nhiên vì mỗi người cấp phát đến 3 chiếc mền len, sau được nghe giải thích là khí hậu vùng này đêm rất lạnh, phải dùng 2 chiếc mền làm đệm lót dưới ghế bố và một chiếc để đắp mới chịu nổi. Một điểm khác những người mới đến được dặn dò là không được đến gần hàng rào vào ban đêm vì có thể có chó sói trong rừng mò ra kiếm ăn, rất nguy hiểm. Quả nhiên những đêm sau, tôi nằm ngủ thỉnh thoảng nghe tiếng chó sói tru từ phía rừng bên ngoài hàng rào.

Tôi ở cùng lều với nhóm bạn cùng từ Guam tới, trong đó có nhạc sĩ Ngọc Bích, họa sĩ Nguyễn Hê và một số anh em cựu nhân viên cho cơ quan USIS của Mỹ, các bạn này làm trong ban biên tập báo Chân Trời Mới ở Guam.

Việc ăn uống ở trại Pendleton cũng khác ở Guam. Ở Guam người tỵ nạn được ăn theo kiểu Á châu, căn bản là cơm, các món ăn do đầu bếp đa số là người Phi luật tân nấu ăn cũng tạm được. Trại Pendleton nấu toàn đồ Mỹ nên rất ngán, nhiều khi đến bữa tôi không ăn nổi. Trại nấu cho người tỵ nạn ăn ngày ba bữa, sáng, trưa và tối. Thường thường tôi chỉ ăn sáng và tối, bữa trưa bỏ không ăn. Trại Pendleton như một thị trấn nhỏ, tôi được cái thú là chiều chiều cùng với nhạc sĩ Ngọc Bích đi la cà đến các lều bên cạnh nói chuyện với các gia đình lân cận. Các gia đình VN tỵ nạn mỗi người một cảnh, một tâm sự khác biệt. Có nhiều gia đình có các cụ già, các cụ thường câu giờ không muốn ra trại sớm vì cho rằng “ra trại không biết bị đưa đi tới đâu, chắc không gần người VN nữa thì buồn chết”. Nhiều gia đình may mắn đi được cả họ hàng, nhất định chờ để có bảo trợ ở cùng một nơi mới chịu. Trái lại, có những người trẻ độc thân hay lạc vợ lạc chồng, họ thường  tìm đến nhau, nếu thích hợp thì ghép thành một hộ đi chung, sau này có chuyện gì sẽ tính sau! Có hôm hứng chí, Ngọc Bích và tôi ra câu lạc bộ chơi. Đây là câu lạc bộ của trại lính, có bán giải khát và đặc biệt có cả sân khấu với cây đàn dương cầm. Nhạc sĩ Ngọc Bích mỗi lần tới đều lên chơi các nhạc phẩm của ông như Lời Hẹn Xưa, Đôi Chim Giang Hồ, Mộng Chiều Xuân, rất được khán giả tán thưởng.

Trong thời gian này, tôi được nghe nhạc sỹ Ngọc Bích tâm sự khá nhiều về cuộc đời ông. Ngọc Bích sinh năm 1924 trong một gia đình khá giả, cụ thân sinh là Bác sĩ Thú y. Thuở nhỏ, ông học trường Buởi ở Hà nội, nhưng ham mê ca nhạc nên bỏ học chữ để đi học nhạc. Năm 19 tuổi (1943) ông đã theo ban nhạc đi trình diễn tại thành phố Côn minh bên Tầu. Thời kháng chiến, ông tham gia tích cực trong các đoàn văn nghệ ở liên khu 3 và sinh họat rất nhiều với Phạm Duy. Nhắc lại thời điểm này, ông nói: “Nhiều khi có hứng, tớ viết nhạc còn nhanh hơn Phạm Duy”. Ông có nhận xét là nhạc kháng chiến của Văn Cao thường dùng điệu quân hành như bài Bắc Sơn (Ai về châu xưa sắc chàm pha mầu núi ...), hoặc các điệu nhạc giản dị, thanh thoát trong bài Làng Tôi (Làng tôi xanh bóng tre ... ), Ngày Mùa (Ngày mùa trong thôn trang ...) rất hay; còn nhạc kháng chiến của Phạm Duy sọan theo thể dân ca như  Quê Nghèo, Về Miền Trung, Bà Mẹ Gio Linh .. ướt đẫm tình tự dân tộc, rất dễ đi vào lòng người. Khi nói về nhạc của mình, Ngọc Bích cười rất tếu: “Tớ dùng điệu Swing làm nhạc kháng chiến (ông hát cho tôi nghe mấy câu trong bài Say Chiến Công), tuy có hay mà không được phổ biến”! 

Trong thời gian ở trại Pendleton, tôi cũng được gặp một gia đình thân hữu điện lực. Một bữa lên văn phòng trại thì gặp anh chị Nguyễn Huy Tiên + Mỹ Hòa. Gặp nhau mừng rỡ, hỏi thăm tíu tít. Gia đình anh chị thật là may mắn, anh Tiên đang làm việc ở Bangkok trong chương trình Phát triển sông Cửu long khi mất nước, trong khi đó chị Hòa và các con đi khỏi VN được và cùng anh đoàn tụ bên Mỹ. Sau đó, tôi và anh Tiên cùng bận bịu không có dịp gặp nhau lần nào nữa. Cho đến 10 năm sau, vào giữa thập niên 1980, tôi mới gặp lại anh chị Tiên tại nhà anh chị Bùi Văn Minh ở Des Moines, Iowa. Có điều trớ trêu là sau khi ra trại, anh NH Tiên làm việc ở một thành phố giáp ranh giữa hai tiểu bang Iowa và Nebraska, còn anh BV Minh cũng làm việc tại thành phố Des Moines tiểu bang Iowa, hai gia đình cách nhau không xa, thế mà hai bên không biết nhau trong nhiều năm, sau tình cờ gặp nhau tại một shopping center ở Des Moines!

Ở trại Pendleton được khoảng vài tuần thì tôi được đưa lên định cư tại vùng Seattle, tiểu bang Washington. Cơ quan bảo trợ cho tôi là một nhà thờ Tin Lành thuộc hệ phái Baptist ở thành phố Renton, phụ cận phía Nam của Seattle, bảo trợ. Thành phố Renton có cơ sở chính của hãng chế máy bay Boeing, tại đây hãng Boeing có cả một phi trường lớn để  bay thử các máy bay vừa chế tạo xong. Gia đình người bảo trợ tôi gồm hai vợ chồng và ba con trai đã lớn, cả ông bố và ba cậu con trai đều làm việc cho hãng Boeing. Phong cảnh địa phương rất đẹp, có rất nhiều những khoảng đồi, lái xe lên dốc xuống dốc. Cây cối thì xanh tươi với  rất nhiều thông (tiểu bang Washington được mệnh danh là Evergreen State). Ở sau vườn nhà gia đình bảo trợ tôi có trồng rất nhiều cây dâu, đằng trước thì trồng hồng, hoa nở lớn bằng nắm tay. Tôi đến Renton hồi tháng 9 năm 1975 lúc trời vào mùa thu, không khí lạnh se se, có gió heo may và mưa phùn như mùa thu quê tôi ở Bắc Việt. Trong những tuần đầu, tôi được gia đình bảo trợ dẫn đi thăm các thắng cảnh, t ngọn núi Rainier quanh năm tuyết phủ, ở xa nhìn như ngọn núi Phú sĩ của Nhật bản; cho tới vịnh Puget (Puget sound) có những khoảng biển nước xanh biếc nhưng rất lạnh; khu downtown thành phố Seattle có những đường lên dốc xuống dốc; và ngọn tháp Space Needle xây nhân kỳ Hội chợ Quốc tế khoảng đầu thập niên 70 tôi đã được biết tiếng từ khi ở trong nước.

Tại Seattle và vùng phụ cận hồi đó cũng có khoảng hơn chục ngàn người tỵ nạn VN. Nhà văn không quân Huy Quang Vũ Đức Vinh đến định cư ở đây rất sớm, được tiểu bang trợ cấp xuất bản tờ báo Đất Mới từ mùa hè năm 1975, có thể coi là tờ báo thứ hai bằng Việt ngữ trên nước Mỹ, sau tờ Chân Trời Mới ở đảo Guam. Tờ Đất Mới khi mới ra được tiền trợ cấp nên biếu không cho người Việt ở địa phương. Sau khi hết trợ cấp, báo này phải bán để có tiền chi phí, cũng sống được thêm nhiều năm. Vào năm 1976, báo Đất Mới  được sự tăng cường của vợ chồng nhà văn Thanh Nam Túy Hồng từ miền Đông dọn về Seattle; tới khi nhà văn Mai Thảo vượt biên (vào khoảng năm 1977) cũng về Seattle một thời gian làm chủ bút báo Đất Mới. Khoảng cuối năm 1975 thì tờ báo thương mại đầu tiên của người tỵ nạn VN trên đất Mỹ, do ký giả Nguyễn Hoàng Đoan và một số nhà báo chuyên nghiệp ở Sài gòn chủ trương, là tờ Hồn Việt ra đời. Tuy báo này xuất bản tại San Diego nhưng được người Việt ở Seattle cũng như các nơi khác mua rất nhiều, báo bán chạy như tôm tươi.

Khoảng đầu năm 1976 nhân dịp Tết  Nguyên đán, tôi cùng những người Việt tỵ nạn ở địa phương tụ họp tại một rạp hát ở Seattle ăn một cái tết tha hương đầu tiên rất cảm động, có ca sĩ Thanh Thúy từ California lên hát giúp vui. Rồi đến khoảng tháng 3 năm 1976, gia đình nhạc sĩ Phạm Duy, lúc đó rất xác xơ, chỉ có Phạm Duy, Thái Hằng và Thái Hiền, lên Seattle trình diễn, cũng được đồng bào ủng hộ đông đảo.

Tôi trải qua mùa đông đầu tiên trên đất Mỹ tại Seattle. Trái với sự lo ngại của tôi, Seattle tuy thuộc là miền bắc nước Mỹ nhưng nhờ dòng nước ấm Nhật bản chảy ở Thái bình dương nên mùa đông không lạnh lắm. Năm tôi ở nhiệt độ trung bình vào tháng 12, tháng 1 chỉ khoảng 40 độ F, thỉnh thoảng mới xuống dưới 30 độ, cả mùa đông năm ấy tôi chỉ thấy tuyết một lần trong vài tiếng đồng hồ rồi tan ngay. 

Sau khi tạm ổn định việc ăn ở, tôi bắt đầu tìm cách liên lạc với các bạn bè Điện lực. Tôi liên lạc được với anh Lê Khắc Hiệp ở Vancouver, Canada. Vancouver chỉ cách Seattle khỏang hơn 100 miles, lái xe rất dễ nhưng hồi năm 1975 người tỵ nạn chỉ mới được quy chế tạm dung nên chưa dám vượt biên giới, thành thử tôi với anh Hiệp cũng chỉ thư từ liên lạc, hẹn chừng nào có thẻ xanh đi thăm nhau mà chưa bao giờ chúng tôi thực hiện được vì sau đó ít tháng tôi dọn đi Minnesota.

Hồi còn ở đảo Guam, tôi đã liên lạc được với anh BV Minh. Anh Minh được Điện lực cử đi tu nghiệp tại Oklahoma, sau biến cố 30 tháng 4 anh tìm được việc làm ở Công ty Điện tại Des Moines, tiểu bang Iowa. Tuy có việc làm ổn định nhưng anh Minh rất buồn vì vợ con còn kẹt tại VN. Rất may chỉ vài năm sau, anh đón được chị Minh và các cháu sang đoàn tụ. Có thể nói gia đình anh BV Minh là gia đình đầu tiên được đoàn tụ theo chương trình chính thức. Qua anh Minh, tôi biết được địa chỉ và liên lạc được với một số bạn bè khác. Anh TV Đạt, bạn cùng lớp với tôi, được đi tu nghiệp tại hãng GE cùng với anhVH Thường, sau khi mất nước cả hai anh cùng xin được việc làm ở Canada. Khi tôi liên lạc với anh Đạt thì cũng như anh Minh, anh Đạt rất buồn vì vợ con còn kẹt tại VN. Rất may cũng chỉ vài năm sau gia đình anh vượt biển bình an đến Canada đoàn tụ cùng anh.

Tiếp theo, tôi liên lạc được với anh Đỗ Trọng Phúc. Anh Phúc cũng kiếm được việc làm rất sớm ở Công ty Điện tại thành phố Binghamton, tiểu bang New York. Anh là một trong những anh em Điện lực hiếm hoi kiếm được việc làm trong ngành Kỹ sư Điện tương tự như công việc anh làm ở VN. Về sau khi anh Nguyễn Công Thuần vượt biển cũng kiếm được việc làm trong hãng này. Anh Lê Bá Trực và anh Nguyễn Xuân Giễm cũng ở NY, làm việc cho hãng Sanderson & Porter, hãng thầu đã từng làm nhiều dự án với Điện lực ở VN. Anh Giễm cho tôi địa chỉ của ông Richard Lewis, người tôi đã từng quen biết nhiều khi làm việc ở Điện lực. Ông Lewis trước kia làm việc cho cơ quan USAID, sau khi hết khế ước với USAID sang làm cố vấn cho CĐV. Ông có vợ VN và được công ty cấp cho gia đình ông căn nhà B trong cư xá Biến điện tại Thủ Đức. Tôi viết thư cho ông Lewis để nhờ kiếm việc làm nhưng không có kết quả gì.

Tôi cũng liên lạc được với anh Nguyễn Mạnh Linh ở tiểu bang Minnesota. Hồi đó anh Linh cũng kiếm được việc làm sớm, tuy anh đi khỏi VN trễ. Khi miền Nam bị CS chiếm, anh Linh kẹt lại Sài gòn, cả tháng sau mới cùng gia đình vượt biên. Câu chuyện vượt biển của anh được ký giả Vũ Thụy Hoàng đề cập đến trong sách Rồng Vàng Vượt Biển xuất bản hồi thập niên 1980 ở Mỹ. Hình như ký giả VTH là bạn anh Linh từ năm 1954, hồi hai người cùng ở trại học sinh Phú thọ của các học sinh Bắc Việt mới di cư vào Nam. Nếu tính lại, có lẽ gia đình anh Linh là một trong những “thuyền nhân” VN  đầu tiên.

Ở miền Tây Hoa kỳ có anh Lê Văn Bảo lúc đó ở Oregon viết thư cho tôi, rồi qua anh Bảo tôi liên lạc được với anh Nguyễn Văn Dậu. Anh Dậu viết thư rủ tôi về Cali, nói rằng Cali đồ ăn VN cái gì cũng có, kể cả tiết canh vịt. Sau đó gia đình anh Bảo dọn về Cali, những năm sau mỗi lần về Cali tôi đều ghé thăm hai anh.

Ở Seattle, công việc đầu tiên tôi kiếm được là làm Teacher Assistant, dậy kèm cho học sinh VN trong các trường học ở Seattle. Làm được vài tháng đến kỳ hè thì hết việc, chờ đến niên học khác sẽ đi làm lại. Trong thời gian này, nhờ anh NX Giễm chỉ dẫn, tôi làm giấy tờ xin Evaluation văn bằng và được Ủy ban tại Đại học Long Beach công nhận bằng Kỹ sư Điện VN tương đương với bằng Bachelor của Mỹ. Sau đó tôi nộp đơn xin học tại University of Washington (UW) tại Seattle và được nhận vào chương trình Master, nhưng tôi phải vừa đi làm nên chỉ học part time, lấy một số lớp về Toán và Điện. Trong khi học ở trường này, tôi có gặp nhiều sinh viên VN du học từ trước năm 1975, các bạn này kể với tôi là trường UW trong thời chiến tranh VN có rất nhiều sinh viên theo phong trào phản chiến. Sinh viên Nguyễn Thái Bình, người thanh niên phản chiến trên đường về VN định cướp máy bay đi Bắc Việt rồi bị bắn chết, học ngành Ngư nghiệp ở đây. Tôi có một kỷ niệm với các bạn sinh viên ở Seattle là  hồi đó tôi thường tới coi các sinh viên đá banh (soccer), khoảng cuối năm 1975 ở Seattle mới khánh thành sân vận động King Dome, tôi rủ các bạn đi coi trận banh soccer giữa Mỹ và Ba tây. Trong trận này, chúng tôi được coi tận mắt cầu thủ Pele đá bóng.

Mùa xuân 1976, nhờ một người quen cho biết có một hãng ở Minneapolis cần tuyển dụng Kỹ sư Điện, tôi bèn nộp đơn. Hãng này là hãng kỹ nghệ chế biến thực phẩm, có trụ sở trung ương ở Minnesota và các cơ sở ở nhiều nơi khác. Tuy tôi gửi đơn và resume nhưng không hy vọng gì. Bất ngờ 2 tuần sau tôi nhận được thư mời kèm theo vé máy bay tới MN phỏng vấn. Lần đầu tiên được qua thủ tục tìm việc tại Hoa kỳ, tôi cũng hơi hồi hộp. Tôi nhờ người bảo trợ chở ra phi trường SeaTac để bay đi Minnesota. Đến phi trường được người của hãng ra đón đưa về khách sạn nghỉ ngơi, rồi được đưa về văn phòng của hãng. Cuộc phỏng vấn kéo dài suốt ngày, vừa hỏi chuyện vừa đi thăm các cơ sở sản xuất của hãng. Hãng này chuyên sản suất thực phẩm đông lạnh, làm việc liên tục 24 giờ một ngày. Hệ thống điện gồm đường dây trung thế 13.8kV, các trạm biến điện 13.8kV/480V, công suất 2000kVA mỗi trạm. Hệ thống hạ thế 480V phân phối trong nhà máy rất phức tạp để cung cấp điện cho các giàn sản xuất và các nhà kho chứa thực phẩm đông lạnh. Sau cuộc phỏng vấn, tôi về hotel nghỉ ngơi đến hôm sau về lại Seattle.

Tôi về nhà, không hy vọng gì được mướn nhưng cảm thấy học hỏi được khá nhiều trong chuyến đi này. Nhưng lại bất ngờ vài ngày sau, tôi được điện thoại của hãng báo tin đã quyết định mướn tôi và sau đó tôi nhận được thư chính thức đề nghị công việc làm với đầy đủ các quyền lợi và phí tổn di chuyển sang MN làm việc. Thế là tuy luyến tiếc Seattle với phong cảnh tươi đẹp, khí hậu ấm áp, và một số bạn bè VN tuy mới quen nhưng rất tốt, tôi đành phải “dứt áo ra đi” vì sinh kế.

Tôi đến MN vào đầu tháng 6, 1976. Nghe nói MN lạnh cũng ngán, tôi định bụng sẽ làm việc một thời gian để có kinh nghiệm rồi sau đó sẽ tìm chỗ ấm cúng định cư. Nào ngờ đất lành chim đậu, cái dự tính “ở tạm” của tôi nay đã kéo dài trên một phần tư thế kỷ. Tôi đã làm việc cho hãng mướn tôi từ năm 1976 liên tục trong 21 năm, đến khi hãng bán lại cho công ty khác mới thôi. Vị Tổng giám đốc của hãng sau đó đi làm việc cho hãng khác lại kéo tôi theo, cho tới giờ tôi với ông ta vẫn thường xuyên liên lạc như hai người bạn.

Tôi đến MN mừng nhất là gặp anh NM Linh. Lúc bấy giờ anh Linh đã đi làm được gần một năm cho hãng Pillsbury, đời sống tạm ổn định. Tuy nhiên, vì có hai con còn nhỏ, chị Linh phải ở nhà trông con không đi làm nên anh cũng khá vất vả. Gia đình anh ở một căn apartment tại Crystal, phụ cận về phía tây của Minneapolis và đi làm trên downtown MPLS bằng xe bus.

Anh Linh kể với tôi những ngày đầu tới nước Mỹ của anh. Khi còn ở trại tỵ nạn anh đã được hãng Pillsbury vào tận trại phỏng vấn. Sau khi quyết định mướn anh Linh, hãng này cử một vị kỹ sư bảo trợ cho gia đình anh tới Minnesota định cư. Khi kể lại chuyện này, anh vui vẻ nói: “Tao là người tỵ nạn duy nhất ra trại là đi làm ngay, không nghỉ ngày nào”. Người bảo trợ cho anh Linh, ông Tom Moody, giúp đỡ anh rất nhiều và là người có ảnh hưởng lớn với gia đình anh. Ông ta rất mộ đạo Tin Lành, nên về sau cả anh Linh, vợ anh và hai con đều gia nhập đạo Tin Lành. Ông Tom Moody sau này ra lập một hãng Kỹ sư cố vấn riêng đặt tên là Trinity Engineering (cái tên cũng mang vẻ đạo giáo), có liên lạc với tôi về vài dự án kỹ thuật của hãng tôi. Hãng Pillsbury có nhiều nhà máy chế biến thực phẩm ở nhiều tiểu bang nên anh Linh hay được cử đi công tác xa. Vì vậy anh thường nói: “Tao có số thiên di nên làm ở đâu cũng bị đi hoài”.

Minnesota lúc ấy có khoảng 8 ngàn người VN định cư. Tôi đến vào mùa hè, ở Minneapolis rất nóng, cái nóng của “khí hậu lục địa”: mùa hè rất nóng và mùa đông thì cực lạnh. Lợi dụng mùa hè, tôi và anh Linh thường gặp nhau, đánh tennis hoặc anh Linh dẫn tôi đi chơi. Anh Linh ở MN đã lâu nên biết các nơi trong cộng đồng người Việt. Anh chỉ tôi các tiệm Tầu và Đại hàn bán thức ăn VN, dẫn tôi đi ăn ở các tiệm ăn VN mở “chui”, tức là mở tại nhà riêng, bán hủ tíu, bún bò, phở, ... giá chỉ có 1 đô la một tô. Anh Linh cũng hoạt động trong các hội đoàn nên kéo tôi làm việc với anh, anh Linh nổi tiếng là người làm việc sốt sắng nhất cho cộng đồng VN ở Minnesota thời ấy.

Minnesota năm 1975 có rất nhiều nhà văn, nhà báo, như Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Võ Phiến định cư; về sau có thêm nhạc sĩ Cung Tiến. Ở được ít lâu thì các ông Nghiêm Xuân Hồng và Võ Phiến dọn về California. Cụ Vũ Khắc Khoan và gia đình ở MN cho đến khi cụ từ trần vào năm 1986. Cụ Vũ rất được nể trọng tại địa phương, kể cả đối với người Việt và người Mỹ. Một giáo sư đại học dịch vở kịch Thành Cát Tư Hãn sang Anh ngữ và đem ra trình diễn tại một rạp hát của trường Đại học Minnesota cho khán giả Mỹ coi. Cụ Vũ và một số người khác sáng lập ra hội Phật giáo VN và lập nên chùa VN đầu tiên của MN.  Hiện nay Chùa Phật Ân là một ngôi chùa VN khá lớn, không những cho người VN, mà còn được các giới Phật giáo Mỹ và Á châu tại địa phương đến viếng thăm luôn.

Khoảng năm 1978 hay 79 gì đó, anh Linh có hai gia đình chị vợ, cũng là nhân viên Điện lực cũ, vượt biên, và anh bảo trợ tới MN. Đó là gia đình chị Cúc cùng chồng là anh Trần Văn Phúc, và gia đình chị Lan cùng chồng là anh Nguyễn Ngọc Hoàng. Các anh chị này đều làm việc ở  Chương trình Đa nhim và nhà máy nhiệt điện Thủ đức. Tuy nhiên, sau khi ở Minnesota một thời gian ngắn, cả hai gia đình trên dọn đi chỗ khác, vợ chồng anh Phúc đi vùng Washington, DC; còn vợ chồng anh Hoàng đi tiểu bang Oregon, sau đó vài năm trở lại MN.

Riêng tôi, những năm cuối thập niên 1970 cũng gặp nhiều điều hanh thông. Sau mấy năm đầu lận đận vất vả về đường vật chất, và đau buồn lo lắng về mặt tinh thần, tôi đã dần dần tạo lập cuộc sống ổn định. Mùa Xuân năm 1978, tôi lập lại gia đình và năm 1979 có đứa con trai đầu lòng. Cũng thời gian này, ông anh ruột tôi và đứa cháu vượt biển tới MN, rồi vài năm sau chúng tôi bảo lãnh được toàn thể đại gia đình tới MN đoàn tụ. Về công việc làm, sau thời gian học hỏi và làm quen với công việc mới, tôi được hãng bổ nhiệm phụ trách toàn bộ phần vụ về điện và điện tử trong nhà máy sản xuất. Ở vị trí này, tôi học được rất nhiều điều mới trong kỹ thuật điện áp dụng vào kỹ nghệ thực phẩm.   

Cùng trong thời gian ấy, ở MN lại có thêm mấy anh chị em thân hữu điện lực khác. Vào năm 1978, tôi được điện thọai của anh Tăng Trọng Nghĩa, trước làm việc với tôi ở Nha Tiếp vận. Anh Nghĩa cho biết anh vượt biển một mình, vợ con còn kẹt ở VN, hiện ở vùng Washington, DC. Tôi rủ anh lên ở MN và xin anh vào làm việc tại hãng của tôi. Đến năm 1984, anh Nghĩa đón được vợ con sang MN đoàn tụ. Vào khoảng cuối năm 1979, đầu năm 1980, gia đình anh Tôn Thất Đào từ New York chuyển qua MN làm việc. Rồi anh Kha Văn Tỷ và gia đình cũng vượt biên tới định cư ở Minnesota. Thành ra vào khoảng những năm 78, 79, nhóm THĐL chúng tôi ở MN rất vui. Mỗi cuối tuần chúng tôi thường gặp nhau, tụ họp lại ăn uống, hàn huyên tâm sự. Nhiều lần anh Linh, anh Đào, anh Nghĩa và tôi cũng tụ họp lại đánh tennis với các bạn bè VN khác. 

Nhưng hợp mãi rồi cũng tan. Những năm sau các anh em THĐL ở MN tản đi dần dần. Đầu tiên anh NM Linh có việc làm tốt hơn ở hãng IBM tại Rochester nên dọn xuống đó ở, chỉ thỉnh thoảng về Minneapolis chơi. Ít năm sau, gia đình anh KV Tỷ cũng dọn đi Phoenix, tiểu bang Arizona. Anh TT Đào ở MN lâu hơn, nhưng gần đây cũng dọn đi làm việc ở miền Đông. Hiện nay chỉ còn gia đình anh TT Nghĩa và tôi ở Minnesota. Anh Nghĩa con cái đã trưởng thành nên anh đã về hưu, làm việc lai rai cho đỡ buồn. Còn tôi thì các con đều sinh trưởng ở Minnesota, hai đứa lớn đã ra trường có việc làm ở Minnesota, hai đứa nhỏ còn đi học, nên vợ chồng hiện nay cũng xin “tạm” chọn nơi này làm quê hương, còn chuyện tương lai khi về hưu sẽ tính sau.

Đến đây, xin chấm dứt hồi ký "Những Năm Bẩy Mươi". Xin cám ơn các bạn đã theo dõi, và cám ơn bản tin Thân hữu Điện lực đã cho tôi có dịp kể lại những chuyện của một thời đại đầy biến động trong mỗi cuộc đời người Việt tha hương.

Song Nguyễn

(Minnesota, tháng 10, 2003)