Câu chuyện dấu sắc

 


Thư của Nguyễn Trọng Dzũng

Thưa quý bạn,

Mấy năm gần đây, email đã trở thành một phương tiện liên lạc phổ biến. Hầu như việc trao đổi tin tức bằng thư từ qua ngả bưu điện không còn được sử dụng nữa, ngoại trừ trường hợp cần gửi hàng hóa phẩm vật. Một vấn đề cho đến nay vẫn thường gặp khi viết email bằng tiếng Việt là làm sao đánh dấu. Có nhiều nhu liệu để đánh dấu tiếng Việt trên email, nhưng chưa thống nhất được nên khi viết email cho nhau nhiều người vẫn phải viết mà không bỏ dấu. Tình trạng này là đầu đề của vô số những chuyện vui cười về các email không bỏ dấu, khiến cho người nhận lúc đọc thư đánh dấu theo một nghĩa hoàn toàn khác hẳn ý người viết. Nhưng chắc chưa có ai do cái dấu trong tiếng Việt mình mà bị lâm vào hoàn cảnh như tôi, “khốn khổ khốn nạn” chỉ vì một dấu sắc và vì chữ nghĩa của những tên cộng sản “i-tờ”.

Chuyện xảy ra năm 1985 khi gia đình tôi gặp nạn trong chuyến vượt biên. Tầu bị bão đánh đắm ngoài khơi sau khi đi được hai ngày hai đêm. Gia đình tôi gồm vợ chồng và 3 con, cháu út 12 tuổi, nhờ ơn phước Trời Phật đã thoát chết và được một tầu đánh cá quốc doanh vớt lên. Sau khi lênh đênh thêm một đêm nữa, tôi được đưa về Côn Đảo. Lên bờ, tụi công an CS đưa chúng tôi vào một gian nhà trống ngay tại bến cá, lấy lời khai của từng người rồi mới lần lượt chở vào đảo nhốt trong trại giam. Nhìn quanh tôi thấy ai nấy mặt mày thất sắc, phờ phạc. Trẻ con ngơ ngác như không biết tại sao mình lại ngồi đây. Quần áo giầy dép mất hết, duy nhất chỉ còn bộ quần áo mặc trên người. Nhớ lại một lần coi tử vi, có người nói tôi sẽ có giai đoạn “đôi dép cũng không có mà đi”. Tưởng rằng đó chỉ là câu ví von hiểu theo nghĩa bóng là mất hết tài sản, không ngờ cả nghĩa đen cũng trúng.

Đã từ lâu, để chuẩn bị đi chui, chúng tôi vợ chồng con cái dặn nhau nếu bị bắt sẽ khai báo làm sao cho ăn khớp. Nay thực sự phải đối đầu tôi không khỏi lo lắng vì tai nạn vừa xảy ra, tâm trí còn bàng hoàng, không biết vợ và nhất là các con tôi, có còn nhớ lời dặn dò dấu diếm lý lịch của tôi. Ngoại trừ cháu út còn nhỏ, hai cháu lớn, Q. và T. tụi công an CS cũng bắt các cháu làm tờ khai riêng rẽ chứ không cho chúng tôi trả lời thay. Một tên công an vừa đặt câu hỏi vừa víết lời khai. Chúng dùng loại bút có cán, gọi là quản bút, cắm ngòi và chấm mực để viết.

Trong khi hạch hỏi, chúng luôn luôn quát tháo áp đảo tinh thần để có được những lời khai theo ý chúng. Tôi vẫn dấu kín hoàn toàn lý lịch làm việc tại Công ty Điện lực Việt nam trước 1975 cũng như quá khứ đi tù cải tạo từ 1975 đến 1978 và chỉ khai lý lịch làm thợ may. Lấy cung xong, tôi được giải về trại giam ở sâu trong đảo. Đây là nhà tù được xây từ thời Pháp thuộc. Tôi và cháu trai lớn 16 tuổi bị nhốt chung một phòng bên trại nam cùng với hơn 80 người khác. Vợ tôi cùng cháu gái và cháu trai út nằm bên trại nữ, tổng cộng khoảng 50 người. Đến xế trưa chúng tôi được gọi ra nhận một nắm cơm với một dúm muối hột. Không có chén ăn cơm, chúng phát cho mỗi người một lá bàng nhặt từ ngoài sân, để gói cơm.

Nhìn thằng cháu nhai cơm với muối ngon lành, tôi thầm cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho gia đình được vẹn toàn. Ở một góc phòng, một cháu trai nhỏ tuổi hơn con tôi đang thút thít khóc, sau này mới biết mẹ và em cháu đã mất tích. Tôi không ăn, nằm nghĩ miên man thì có tên quản giáo và một tên cảnh vệ đeo súng mở cửa bước vào, gọi tên tôi ra còng tay lại. Còn đang bàng hoàng chưa biết nhắn nhủ gì với cháu trai, tôi bị chúng lôi ngay ra cửa, chỉ kịp ngoái cổ lại để thấy đôi mắt hoảng hốt của cháu trên khuôn mặt tái mét. Đây là lần thứ nhì trong cuộc đời tù tội dưới chế độ cộng sản sau 1975 hình ảnh đôi mắt của cháu T. đã in đậm trong trí nhớ tôi, đến nay vẫn còn theo đuổi tôi mỗi khi nghĩ tới khoảng thời gian này.

Chúng dẫn tôi đi về hướng một khu đất trống không thấy phòng trại gì, từ xa chỉ nhìn thấy một khoảng vuông giống như cái nền nhà cũ, xây bằng đá tảng, cao hơn mặt đất chừng 5 tấc. Khi lại gần tôi mới nhìn rõ trên nền đá có một lỗ vuông, từ đó thấy bậc thang đi xuống. Thì ra đây là “hầm tối”, một căn hầm vách đá, xây tụt xuống dưới mặt đất. Trong hầm có một lối đi ở chính giữa, trên nóc có 2, 3 ô cửa cỡ 50x50 cm có song sắt, để thông hơi và đó cũng là nơi duy nhất có ánh sáng lọt vào hầm. Hai bên lối đi là hai dãy phòng giam, mỗi phòng cỡ 1,5 x 2,5 thước. Cửa phòng bằng thép tấm, có khoét một lỗ vuông cỡ 20x20 cm. Trong phòng luôn luôn tối om, có ổ cùm tay chân nhưng tôi không bị chúng áp dụng cực hình này. Mỗi ngày tôi được ra khỏi phòng để nhận thức ăn và đổ bô vệ sinh một lần. Nhưng công việc đó cũng chỉ được làm trong lối đi của căn hầm thôi chứ không được lên mặt đất.

Bị nhốt như thế ba ngày liền, tôi hoàn toàn cách biệt với bên ngoài, thấy bóng tối nhiều hơn ánh sáng. Cả căn hầm chỉ có duy nhất mình tôi, thỉnh thoảng một con chuột cống chạy vô sục sạo kiếm thức ăn, chẳng tìm thấy gì nên lại bỏ đi. Tôi hoàn toàn không biết có gì xảy ra bên ngoài, cũng không biết vợ và các con ra sao. Hoang mang không hiểu cháu T. sống một mình thế nào bên trại nam, trong khi mẹ nó cùng với chị và em nó ở bên trại nữ. Qua đến ngày thứ tư thì chúng đưa tôi lên hỏi cung. Chúng tra khảo bắt tôi khai tổ chức có những ai, móc nối liên lạc với ai ở địa phương, thu tiền, vàng bao nhiêu một đầu người, v.v... Tên cán bộ chấp pháp (cán bộ phụ trách lấy cung) đã thượng cẳng tay hạ cẳng chân với tôi vì nó cho tôi là ngoan cố, dấu diếm không chịu khai. Nhưng thật ra trong chuyến vượt biên đó tôi chỉ là khách chứ không dính dáng gì tới tổ chức cả.

Sau hai ngày tra khảo như thế, qua hôm sau chúng để tôi yên, không gọi đi lấy cung nữa. Tôi suy nghĩ không biết chúng sẽ còn giở trò gì đây nhưng vẫn tự nhủ là phải dấu quá khứ đến cùng. Rồi qua ngày thứ tám chúng gọi tôi ra, cho đi tắm rồi mới đưa lên phòng hỏi cung. Tôi lại càng dè dặt khi thấy thái độ tên cán bộ chấp pháp thay đổi hẳn, không còn hung hãn như mấy hôm trước. Nó đưa cho tôi giấy bút, mở còng để tôi ngồi viết lời khai rồi đi ra ngoài. Tôi viết y như đã khai mấy hôm trước. Đến trưa hắn vào lấy tờ khai, ngồi đọc trong khi vẫn để tay tôi được thả lỏng không bị còng. Đọc xong hắn nói (đại ý): Anh khai nghề nghiệp thợ may là cái gì, thợ máy thì viết thợ máy chứ tại sao lại khai thợ may. Tôi giải thích thợ may là người may quần áo cho khách hàng. Hằn dè bỉu: may gia công thì viết là may gia công cho rồi, còn bày đặt thầy may với thợ may. Sau một hồi hoạnh họe hắn đưa tờ khai cho tôi bắt sửa lại nghề nghiệp là “may gia công” rồi gọi cảnh vệ dẫn tôi về phòng giam chung với các bạn tù khác chứ không đưa vào hầm tối nữa. Mấy ngày sau để kiểm tra lời khai, nó còn bắt tôi ngồi vào máy may thử xem có phải tôi có biết may thật không .

Gặp lại con, tôi được cháu cho biết mẹ nó đã đấm mõm cho tên cán bộ chấp pháp sợi dây chuyền mà nhà tôi còn dấu được trong người để hắn cho tôi ra khỏi hầm tối. Sau này tôi mới vỡ lẽ ra rằng: khi chúng nó dùng bút mực viết lời khai của tôi, có thể có một vết mực lem nằm ngay bên trên chữ “a” khiến cho "thợ may" đọc thành "thợ máy". Mà trong chuyến tầu đó cả chủ tầu lẫn tài công và một thủy thủ đã bị chết chìm cả, nên chúng bám lấy tôi để moi tiền vì cho rằng là thợ máy tất tôi phải nằm trong tổ chức.

Trong câu chuyện này ngoài cái dấu sắc tai hại kể trên, đầu đuôi cũng là từ cách dùng chữ với nghĩa của chúng nó khác hẳn với chúng ta ở miền Nam. Trong khi mình gọi "nghề may" thì chúng nó dùng từ ngữ "may gia công" còn “thợ may” thì chúng gọi là "công nhân may mặc".

Nguyễn Trọng Dzũng


Hội Bảo Vệ Súc Vật:

Vừa ra khỏi xa lộ thì hai anh Mỹ lái xe đụng nhau. Anh phía trước nhảy xuống gây sự:

- Không biết cái gì đã cản tôi để tôi không đập cho anh một cú vào mặt!

Anh bạn ở xe sau từ từ xuống khỏi xe nhìn anh kia từ đầu đến chân rồi chậm rãi đáp:

- Tôi thì tôi biết rõ tại sao tôi không làm như vậy với anh ... chỉ vì tôi là hội viên “Hội Bảo vệ Súc vật.” (NQH kể)