Làm Một Chuyến Du Xuân

(Và Về Quê Ăn Tết)

 


Du ký của Trần Trung Tính

... Tụi này "hạ quyết tâm" làm một chuyến về quê ăn Tết cho vui vẻ, nhưng khi hỏi vé về VN ăn Tết Quí Mùi 2003 thì các tour du lịch đều kéo giá như nhau, tại San Diego là sau mồng 1 Tết Quí Mùi thì 950 đô la, mà hễ trước đó là "xin cho chúng cháu bao vé khứ hồi chỉ có một ngàn ba trăm đô la chẵn, kể cả thuế má trọn gói". Nghe qua là cà lăm rồi nên hỏi thăm qua thăm lại, xúi tụi nhỏ gõ internet lung tung tìm nơi rẻ, nhưng mà cái "bọn ác ôn" cả đám hàng không ở Á châu đều kềm giá như nhau cả... Đến khi các cháu bấm hãng máy bay "Tàu cọng" C.A. thì chỉ có vé đi tour trọn gói, riêng ở Tàu khoảng 15 ngày cùng Việt nam từ Bắc vào đến Đà nẵng 5 ngày nữa, vé bán gấp đôi, thấy ớn quá. Tham khảo bạn bè năm châu đã tham gia du lịch ở Tàu và các nơi thì họ cho là giá phải chăng rất tốt nên đi du lịch bên Tàu chơi cho biết, Tàu lục địa, vì Đài loan, Hong kong chúng tôi đã có dịp đi và ở đó rồi nên chỉ muốn đi nơi đâu chưa từng đến là ườc ao cho toại nguyện.

Thế là "trâu đạp cũng chết mà voi đạp mà còn chà chà" nữa là kể như tiêu là cái chắc. Cho nên đã có "hạ quyết tâm" noi gương người trước bắt chước theo sau, nhứt là về quê ăn Tết với gia đình nữa, bao nhiêu lý do thôi thúc dồn dập mà không thể từ nan được, nên bấm gan làm đại một chuyến dù có nợ sẽ thanh toán sau, dám nghĩ dám làm, nên "một liều ba bảy cũng liều, muốn đi hỏi vợ sợ nhiều miệng ăn..." Và cặp "cù lũ" già chúng tôi sửa soạn lên đường theo như chương trình trong tour du lịch đã định sẵn, khởi hành vào đầu tháng giêng dương lịch 2003, tham quan Tàu lục địa trong vòng 15 ngày.

Thượng hải là thành phố ghé trước tiên, đi thăm bến Thượng hải, nơi kỷ niệm chỗ tủi nhục của người Tàu có cái bảng nơi tô giới các nước Âu châu chiếm cứ đời Thanh triều đề câu "cấm người Tàu và chó vào cổng này". Rồi thì ngắm sông Hoàng phố chia Thượng hải ra đông tây, khu tây là khu đang phát triển mạnh nhứt và có phi trường quốc tế mới Pudong (đặc biệt ở Thượng hải là cái tỉnh có đến hai phi trường quốc tế tiếp máy bay cỡ 747); tiếp đến đi viếng chùa Phật ngọc, nhà của bà Tống Khánh Linh, vợ Tôn Dật Tiên; rồi đến Hàng châu nơi quê hương người đẹp của Tàu; đi du thuyền trên sông Tây hồ (Tàu có Tây hồ, Hà nội có Hồ tây), cái hồ tuy rộng bao la nhưng lúc nào cũng có xáng múc bùn cho bớt cạn vì hồ sâu không quá 1,5 m nơi sâu nhứt. Nơi đây cho khách thấy nào là tháp trên đỉnh núi nơi nhốt Bạch xà tinh (trong truyện Thanh xà Bạch xà); rồi đập đất do Tô Đông Pha tạo dựng có các cây cầu mang danh dài mà không dài từ sự tích Mộc Quế Anh và anh kép độc cứ kẻ đưa qua người đưa lại trên cầu mãi không muốn rời nhau nên câu giờ quá thành ra ... cầu dài, tuy chưa được 10 thước tây. Rồi ăn cơm nơi đây với món thịt heo kho kiểu đặc biệt của Tô Đông Pha (còn thua xa thịt kho rệu của phe ta ở quê miền tây trong ba ngày Tết âm lịch nữa). Dân "đế quốc" du ngoạn ở đây (tất cả đoàn chỉ có 10 ngoe thôi) đều ớn chất béo nên khi được quảng cáo và thưởng thức là y như gặp nạn, không ai dám đớp mạnh cả, dù là có đói. Và hơn nữa nay là mùa lạnh nhứt của lục địa Tàu, vẫn còn mùa đông, ai nấy đều mang áo ấm dày cui, riêng tụi này chỉ có vỏn vẹn một cái áo jacket bằng nylon trong có lớp cotton thôi.

Rồi đến thăm viếng nơi sản xuất và trồng trà gọi là Long tĩnh, loại trà đặc sản chỉ trồng và sản xuất để phục vụ vua chúa ngày xưa, và nay là làm quà cho các chính nhân quốc tế hay lãnh đạo các nước đến thăm xứ Tàu. Rất nhiều ảnh lưu niệm, kể cả các "đồng chí" Bush (cha), nữ hoàng Anh và Clinton chồng vợ v.v... (không biết ảnh thật hay ghép). Và mại dzô, ai mua thì mua tại đây, không có bán ngoài nơi đây sản xuất, giá hạ đặc biệt trong mùa đông ít khách du lịch... Rồi đến thăm Linh ẩn tự, ngôi chùa trên núi trong hang động đá thiên nhiên đẹp, có vô số tượng Phật trên núi và vách núi, tích truyền rằng cái núi Phật tự này từ bên Ấn độ bay qua tấp vào đó... vì có di tích Phật Ấn độ y như thiệt vậy. Tuy là mùa đông còn kéo dài thế mà người đi xem phong cảnh quá đông. Sau đó lại đến viếng lò sản xuất chuyên trị ấm trà, vì có trà Long tĩnh mà không có ấm pha trà là hạ sách. Trà Long tĩnh có tiếng trị mỡ, cao máu, hạ huyết áp, cho nên phải có ấm trà đặc biệt bằng đất "tử sa" đặc sản, bảo đảm leo lên đứng trên ấm trà hay cái tách trà úp xuống không bể.

Rời Hàng châu xe đưa khách tạm xa quê hương của những người đẹp nhứt Trung hoa xa xưa để đi đến Tô châu, nơi sản xuất tơ lụa (tơ tằm) khét tiếng của Tàu; ghé vào xưởng sản xuất tơ lụa, nhứt là mền, thấy kỹ nghệ làm mền mà phát mệt, từ nuôi tằm đến làm ra sản phẩm rất là nhiêu khê, công đoạn. Thế là động lòng, đa phần ai cũng ôm một cái tùy lòng "tham" mà mua nhiều mua đủ bộ hay không, là vì bán mền riêng, bao mền riêng đủ loại, đủ cỡ, đủ thứ, đủ giá, không mua sẽ ân hận như các bạn đã "đi qua đời tôi" nhắn nhủ. Do đó tôi đã không ngần ngại dù chết đến nơi cũng kệ, khiêng luôn một lượt 3 cái king size đủ bộ cho bõ ghét. Rồi thì đến thăm xưởng dệt và thêu tay (thủ công) các bức tranh lụa tơ tằm trông như tranh vẽ. Nếu không thấy tận mắt người nghệ nhân đang thực hành không mấy ai nghe nói mà lại tin như mách lại, vì có những bức tranh thêu trên lụa cả hai mặt đều đẹp như nhau, họ thêu một lần bằng 2 cây kim, có mặt là một con hổ (cọp) đang bước xuống núi, còn mặt kia lại là một con phượng bay vọt lên trời trông thật sắc sảo. Bức khác là ảnh một bên là ông Clinton bên kia là ảnh bà Hillary mới khâm phục, nhưng giá cả tính ra Mỹ kim thì lại quá rẻ so với công đoạn nghệ nhân làm nên, nghe đâu một bức tranh tương tợ như vậy khoảng công gần cả nửa năm trời mới xong, và hiện tại hàng sư phụ của nghề thêu lụa này cả một tỉ ba dân Tàu mà chỉ còn có 8 người làm được cả nam lẫn nữ (nam lại nhiều hơn nữ), và tương lai ... tuyệt nghệ! Kế đó được đi đến thăm nơi gọi là cội nguồn của nước Việt xa xưa, có sự tích Tây Thi gái nước Việt, có chàng Phạm Lãi, Việt vương Câu Tiễn, vua Ngô Phù Sai mà người đẹp nghiêng nước nghiêng thành Tây Thi dệt lụa (cũng gốc ở tại Hàng châu cả), nơi di tích hùng vĩ này còn dấu vết nơi nàng Tây Thi soi bóng chải đầu bằng "gương chiếu thủy" (một lỗ núi thông xuống mặt hồ nước phẳng lặng soi bóng mình) và có nơi chôn cha của vua Ngô Phù Sai (tôi đã quên mất tên, lâu quá không nhớ rõ thật là lú lẫn quá chừng!) được chôn nơi đây với hình thức thủy táng nhưng không phải như là lối chôn trong lòng biển của Hải quân truyền thống tử trận, mà ông ta được chôn trên núi đá cùng chung với hơn hai ngàn cây bảo kiếm vì ông ta là vua khoái kiếm báu nên sợ người ta chôm mất sau này nên đề phòng chôn sâu vào đá đất rồi đổ nước lên cho ngập mộ phần. Nghe nói sau ngày cọng sản chiếm (1949) Mao Trạch Đông có cho đào tìm bảo kiếm và bảo vật nhưng cũng chỉ đào được mấy cây kiếm, vẫn còn sắc bén và tốt đẹp như thường. Nhưng trên đỉnh núi này lại còn có một ngôi tháp cổ tên là tháp Đồi Hổ cao cả trăm thước, nhiều tầng đồ sộ, nhưng nay bị lún nghiêng qua một bên, độ sai tâm đến 2,30 m (mệnh danh Pisa tháp của Tàu). Vì sợ tháp cổ đổ xuống nên cọng sản không đào nữa và cho lấp lại nơi thủy mộ kiếm ấy. Nếu muốn biết thời gian xây tháp ấy và vị trí nơi đây thì theo như lịch sử nguồn gốc nước Việt, nếu là nguyên gốc chánh của phe ta hiện tại thì cứ đem trên 4 ngàn năm văn hiến của nước ta cọng thêm thời gian dài bị các sắc dân tại lục địa rượt tận diệt phe ta chạy riết xuống phía Nam lập quốc, rồi lại cọng thêm thời gian đóng đô tại Đồi Hổ của Tô châu là biết ngay bao lâu...

Kế đến đi viếng thăm nơi thắng cảnh một ngôi nhà, đúng ra là cả một tòa nhiều căn biệt lập riêng và công viên của tư gia một nhà quan nhị phẩm tên là Phan Đoàn (được cọng sản xếp vào hàng quan tham nhũng), phong cảnh cực kỳ đẹp đẽ, sông, hồ, non bộ ... Đá lấy từ Tai-ho cũng gọi là Thái hồ để làm hòn non bộ tự nhiên đẹp được gọi là Vị viên xây năm 1559 Tây lịch với những cây cổ loại bonsai hàng mấy trăm năm hãy còn đang sống như đào, lựu, trúc v.v...

Tiếp tục hành trình đến thăm thành phố có danh hiệu là Vô tích (không có thiết), ghé thăm Hồ nước ngọt bát ngát trên núi tên là Tai-ho (Hồ tai), nơi có xưởng nuôi và sản xuất ngọc trai đủ màu đủ cỡ đặc biệt là trai nước ngọt mới lạ. Một con trai to hơn bàn tay xòe có thể có mấy chục viên ngọc mới là lạ lùng hơn cả... Nơi đây lại một lần nữa các bà thi nhau chọn lựa, mặc cả và mua làm kỷ niệm ngàn năm một thuở cơ mà.

Nếu đã đến vùng này rồi mà lại chúa lười hay lại tiếc công một chút sẽ bỏ lỡ một dịp đi du lịch bị thiếu thốn lớn đối với Phật tử là viếng thăm Linh sơn thắng cảnh, nơi đây có hai bức tượng Phật lớn bằng đồng đứng, bức cao nhứt và to nhứt đứng sừng sững trên triền núi đá trông về hướng đông nam cao 88 thước tây, riêng bàn tay Phật cao gần 12 thước tây để làm mẫu dưới sân rộng một bên. Phía mặt ngoài nhìn vào là tượng Phật Di lặc to cũng không kém, với đám "tam bành lục tặc" (con nít). Từ tượng Phật nhỏ hơn đứng dưới sân cho đến bậc cuối trên cùng của chân đế tượng Phật chính cao 88 thước, đếm được cả thảy là 333 bậc cấp lên núi. Sau khi xem xong tượng Phật đứng vĩ đại đó du khách có thể dùng cơm chay độc nhứt vô nhị tại xứ cọng sản Tàu nơi Linh sơn nhà hàng to rộng đẹp và các món ăn đặc biệt. Cũng như phía trước sân núi là một bức tường xây lịch sử của Phật giáo du nhập vào nước Tàu cùng sự tích Tây du ký của Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh.

Chiều tối đoàn du hành trở lại Tai-ho để được dùng cơm trên các nhà hàng nổi (floating restaurant) nằm trên bờ hồ với thủy sản địa phương này... Để rồi sau đó lên đường về Nam kinh trên xa lộ của Tàu được xem là hiện đại mỗi bên có hai đường xe gọi là đường cao tốc, nhưng đã được giới hạn xe du lịch chạy 120 cây số giờ thôi, còn các xe khác là 100 và 80 cho xe hạng nặng. Về Nam kinh được ngủ khách sạn Hilton Nang Jin để hôm sau lại lên đường viếng lăng mộ Chu Nguyên Chương, người chiến sĩ của Bạch liên giáo hay nghĩa quân gì đó ở vào thời của Trương Vô Kỵ trong truyện Đồ long Ỷ thiên kiếm. Là giáo chủ của Minh giáo (tà giáo theo nghĩa của các môn phái gọi là chính giáo), sau đó dẹp an đất nước, bất đắc dĩ làm xếp một lượt tùm lum tà la môn phái, Trương Vô Kỵ mắc nợ nàng Triệu Minh quận chúa đành lòng theo em để vẽ chưn mày hay nhổ lông mi chi đó. Nếu bây giờ chắc có lẽ Trương Vô Kỵ dẫn em Triệu Minh ra các tiệm tattoo xâm cha nó là xong, khỏi phải vẽ vời lôi thôi mất thì giờ... Và vì thế bỏ sự nghiệp "cách mạng" đang lên nhường cho Chu Nguyên Chương làm "trùm sò" dựng lên cơ nghiệp lấy danh hiệu là Minh (nhà Minh từ Minh giáo mà có).

Rồi đó thẳng trơn đi luôn đến thăm lăng mộ nhà cách mạng lập nền đệ nhứt Cọng hòa Trung quốc là Tôn Dật Tiên, có bí danh là Tôn Trung Sơn. Nơi đây bắt đầu phải leo tổng cọng 392 bậc thềm lên triền núi hai bên là rừng thông lá kép bạt ngàn, lội đến nơi phần mộ của tiên sinh là bá thở, khò khè luôn, tuy rằng mỗi mấy chục bậc có một sân bằng thư dãn cơ bắp rồi tiếp tục... Qua mấy cái cổng tam quan hùng tráng bằng đá cẩm thạch (xin nhắc lại Tôn tiên sinh là phu quân của bà Tống Khánh Linh, chị của Tống Mỹ Linh vợ Tưởng Giới Thạch ở Đài loan, người đuổi nhà Thanh dựng nên nền cọng hòa dân chủ đầu tiên tại Tàu; trước đó Mao Trạch Đông kỵ anh này lắm, đến đời Đặng Tiểu Bình mới được phục hồi nhân phẩm và được xếp vào bậc vĩ nhân của Tàu). Phần mộ của Tôn tiên sinh có tạc một tượng của tiên sinh nằm trên phần mộ toàn đá cẩm thạch. Tiếp tục hành trình sau đó tại Nam kinh là đi dạo lên cây cầu đầu tiên và vĩ đại nhứt lúc bấy giờ bắt qua sông Trường giang có 4 đường xe qua lại bên trên, phía tầng dưới là xe lửa chạy cũng qua lại hai bên, cầu vĩ đại dài mấy cây số, mùa này (đông sắp sang xuân) nước cạn sông hẹp nhưng bờ này sang bờ kia mênh mông; mùa nước nhiều sẽ biết tay anh chị... nghe nói gây họa liên miên... phát ớn lạnh.

Chiều tối kéo về lại Thượng hải để dạo phố đêm, đi mua sắm quà cáp ở mấy phố chánh như đường Nam kinh, đường Tô châu gì đó ... loanh quanh mấy tiệm buôn bán phát chóng mặt với hàng hà sa số đèn màu ơi là đèn màu. Đặc biệt các trục giao lộ trên các xa lộ gọi là đường cao tốc ở tại các thành phố lớn đều thiết lập đèn dọc theo xa lộ luôn đổi màu trông đẹp về đêm... Nghỉ đêm ở Thượng hải rồi sáng sớm lên đường đi Bắc kinh bằng máy bay 747 Boeing (đặc biệt đường bay Bắc kinh - Thượng hải toàn bằng B 747). Đặt chân đến Bắc kinh là lên "xe hoa" đến viếng Thiên đàn (đây là đàn để vua cầu trời chớ không phải là thiên đàng địa ngục). Sự tích quá lâu đời qua không biết bao nhiêu triều vua chúa ở nơi đây, chỉ biết đại khái là một ngôi đền hùng vĩ tạo dựng toàn bằng gỗ quí lợp mái ngói xanh không đóng rong rêu, từ cái sân bao la bát ngát bên dưới leo lên mấy chục bực cấp đến chân đền lót gạch đất nung hoặc đá miếng, trong đền có những đặc vị như chính giữa điện có 4 cột to tượng trưng cho 4 mùa, và chung quanh có 12 cây cột tượng trưng cho 12 tháng, cũng đồng thời là 12 giáp, toàn gỗ lim, trong có bàn thờ chánh điện để vua cầu nguyện. Toàn diện đền có 3 từng cả thảy. Nơi đây cũng được gọi là Thiên văn miếu.

Xong ngày đầu ở Bắc kinh phe ta phờ râu về nghỉ ngơi ở khách sạn 3, 4, 5 sao gì đó tên là Trader Hotel, để qua một đêm mùa đông lạnh của Bắc kinh đầy tuyết rơi và băng giá, sáng hôm sau tỉnh táo đi viếng Tử cấm thành (còn gọi là Thiên an môn lịch sử) có ảnh Mao Trạch Đông chình ình trước của, nhìn đối diện bên kia là lăng mộ... Tiến vào nội thành mới thấy phát ớn cái công trình xây dựng và công của cũng như sức lực của người dân xa xưa bị làm lao động xây cất cung điện thế nào gọi là vĩ đại. Đi thăm viếng không nhớ nổi là bao nhiêu tầng lớp xây dựng có những tên riêng từ khu này đến khu nọ, đâu đâu cũng khác nhau, về mặt xây dựng đến kiểu cách đều khác nhau theo tiêu chuẩn của vua chúa và triều đại thay đổi, chỉ đại khái cái gọi là hoàng cung nơi vua và gia đình chánh cung sinh sống nghe thấy cũng biết thế nào là lớn lao vĩ đại. Nghe truyền rằng nơi đây nếu một hoàng tử hay một công chúa sinh ra đời, chỉ được ở mỗi ngày một phòng thôi thì đến khi đủ 27 cái xuân xanh đương sự mới có khả năng ở đủ các phòng trong cung này.

Khỏi nói đến các cung điện chỉ để cho vua ăn chơi, ngâm thơ, tuyển thiếp, ... còn ngự huê viên thì hết nói, huê viên sau Tử cấm thành còn lưu dấu các cây (loại trắc bách diệp) gọi là cây Vợ chồng, gồm có hai cổ xưa bện quấn vào nhau như tình nghĩa phu thê bất diệt, đến nay sau bao nhiêu thế kỷ vật đổi sao dời vẫn còn sinh tồn còm cõi... Lại có những phiến đá hoa cương toàn khối rộng mấy thước tây (rộng 3.07 m, dày 1,70 m và dài 16,57 m, nặng hơn 200 tấn) lấy từ Fang shan phía nam Bắc kinh ngàn dặm, rinh về Bắc kinh để chạm trỗ lót đường cho vua đi, nghe cũng đã thấy hết hồn về lối vận chuyển vật dụng nặng nề của người xưa không có máy móc trợ lực. Nghe nói bí quyết chỉ là lợi dụng công sức của người và mặt nước sông rạch và băng giá để dễ di chuyển phiến đá hoa cương khổng lồ ấy. Còn các hòn non bộ (dã sơn) đều lấy đá thiên nhiên từ Tai-ho đem về tạo dựng...

Tiếp đến là đi thăm viếng cung điện của Từ Hi thái hậu. Bây giờ còn là mùa đông nên hầu hết sông rạch kể cả các hào thành bao quanh Cổ thành (hay Tử cấm thành) đều đóng đá cả cho nên khi đến khu hồ trước điện của Từ Hi cũng là nơi thờ Phật, kinh kệ của bà và nội thất quá lâu đời có chỗ yếu không an toàn nên không vào bên trong được. Chỉ riêng từ ngoài cổng điện đi vòng quanh bờ hồ mênh mông trên lối đi rộng khoảng 2,5 m được chạm trỗ và trang trí liên tục suốt lộ trình bà đi trên 2000 bức tranh vẽ của các danh họa xa xưa đều vẽ khác nhau cả thật là khủng khiếp. Nghe kể mỗi bữa cơm của bà phải có 300 món khác nhau và dọn làm 3 bàn nhưng bà chỉ ăn có một bàn thôi. Đó là sự se sua vương giả quá mức. Sức tưởng tượng của bà Từ Hi thái hậu quyền uy có một không hai.

Những tưởng ở Mỹ mới có loại người "ba tửng", loại hải cẩu không biết lạnh ở các xứ (tiểu bang) có băng tuyết, thỉnh thoảng lên cơn trong mùa đông băng giá rủ nhau đập bể băng nhảy xuống tắm lạnh thấy phát ghê, nhưng ở Bắc kinh chúng tôi cũng thấy các ngài ba trợn loại ấy cũng đập băng không phải câu cá mà nhào xuống tắm chơi cho đỡ buồn mới đáng sợ tào-a-man, thấy họ tắm mà tụi này nổi da gà đánh bò cạp tuy mặc áo jacket đàng hoàng ấy... Thế mới biết đâu cũng có người cà tửng, chịu thua...

Trên đường trở về lại Bắc kinh, ghé thăm cái cơ xưởng sản xuất có một không hai trên đời này là làm các vật dụng bằng dây đồng uốn ráp thành cốt của các lục bình (bình bông), chân đèn hay các đồ trang trí trong nhà, rồi nung đỏ dính lại nhau, sau đó sơn men màu lên nung chín thành sản phẩm màu sắc rất là xinh xắn, nhưng khó mang về vì lỡ bể là lỗ vốn, nhưng có mấy ai biết giá trị của nó khi sản xuất rất là công phu. Sau khi về đến Bắc kinh ăn uống xong xuôi là đến tối đi xem xiệc của Tàu. Tất cả diễn viên của xiệc toàn là trẻ nhỏ và thanh niên nam nữ, trên 1 giờ 30 phút xem liên tục không biết bao nhiêu diễn viên biểu diễn các màn múa dĩa, thăng bằng, đu dây, nhồi bắt banh bằng chân. Đặc biệt một chiếc xe đạp do một nữ diễn viên trẻ điều khiển chở thêm 12 người quá giang đeo nghẹt như dơi đeo trong hang động vậy. Thật là một màn xiệc xuất sắc lần đầu được xem trong đời và để đời luôn...

Ngày sau đó là đi thăm Vạn lý trường thành cách xa Bắc kinh khoảng gần 2 giờ xe buýt chạy, có ghé qua các khu chợ nơi sản xuất ngọc thạch và đá quí, các bà mê mệt, chỉ nội thấy nguyên chiếc tàu dài gần 3 thước cao 1,70 m toàn bằng đá cẩm thạch là lóe mắt rồi... Thuận đường ghé thăm Đồng an đường (Đồng nhân đường) nơi tập trung các thái y của các triều vua kể cả Thanh triều, để nghe các ngài lương y khám bệnh miễn phí, chỉ bán thuốc mới lấy tiền, có các vị lương y nói và viết thạo tiếng Việt hơn cả các di dân Việt trên đất Mỹ nữa. Đau chân nên há miệng, cứ nghe thầy thuốc bắt mạch khám bịnh y như thiệt nên ai cũng tạm xem sức khỏe là vàng để còn lấy gân lấy sức đi du lịch hiệp khác nữa nên ai cũng mua thuốc không nhiều thì ít để bảo tồn sức khỏe, vì vậy nhà thuốc cũng quơ được một mẻ khá nhiều... để còn xuôi vạn lý chớ!

Xe đưa đến chân Vạn lý trường thành, hôm nay trời đổ tuyết trắng trời, người hướng dẫn bảo có lẽ trời hôm nay làm cho trường thành ngập tuyết vì tuyết rơi luôn dai dẳng cả ngày, thế nhưng khi đến chân tường để chuẩn bị hành trình vượt vạn lý, hay đáo trường thành cũng vậy, cả nhóm gom lại chụp một bô làm kỷ niệm rồi hãy chạy sau. Nhưng sau đó đoàn người leo lên chỉ được một bậc cấp của Vạn lý  từ chân tường lên đến vọng lâu thứ nhứt thì trời bỗng dưng ngưng rơi tuyết và bầu trời nhanh chóng trong trẻo lạ thường. Phe ta thừa thắng xông lên, leo lia leo lịa vượt hết khoảng này qua khoảng kế liên tiếp. Bực cấp khó leo tuy cao quá đối với tầm vóc của bước chân ngắn nhỏ của hầu hết khổ người phe ta, nhưng chỉ có thở hồng hộc như sắp đứt hơi nhưng vì thời gian có hạn định cho chuyến leo không quá 3 giờ lên xuống cho nên ai nấy cũng cố gắng leo lên cho đến cao điểm nhứt, cái nơi mà nhân viên đợi sẵn ở một văn phòng dịch vụ chuyên cấp chứng chỉ đã vượt đến đỉnh cao nhứt của bức tường thành và chỉ cấp cho những ai đã hiện diện ghi tên vào sổ bộ cũng như được khắc tên ngoằn ngoèo vào một bảng bằng đồng lưu niệm đã viếng trường thành, và chỉ xin 5 đô la Mỹ (hoặc 40 nhân dân tệ) thôi...

Thế là toại nguyện rồi đấy, phe ta lục tục đổ xuống, cứ ngỡ là đổ dốc khỏe hơn leo lên, nhưng thật bé cái lầm vì đi xuống lại khó khăn hơn leo lên mới chết cửa tứ chớ. Sau khi đã chụp và quay phim lưu niệm trên đỉnh tháp canh cao nhứt nơi đây là bắt đầu đổ xuống, nhưng phải vịn vào tay vịn của vách tường thành làm sẵn để lần xuống, do đó hai bên bức tường thành theo lối lên hay xuống đều mòn khuyết sâu, ở giữa còn y nguyên không mòn miết gì cả. Đang đi phăng xuống, nếu cả luồng người nối nhau đi ấy có một ai vì mệt hay lý do gì đó phải ngừng lại là y như rằng các người phía trên sau lưng cứ y như vô cùng lịch sự là tự động đứng lại một chỗ không vội bước đi qua mặt người đã dừng lại vì lý do nếu buông tay rời tay vịn (handle) là có quyền té lăn ra, khỏi phải đi lôi thôi gì cả mà có khi còn lăn lẹ xuống chân tường nữa là khác, nên đành phải miễn cưỡng lịch sự và cũng để nghỉ lấy hơi xuống tiếp.

Chúng tôi thăm viếng trường thành nhằm mùa lạnh mà khi lên hay xuống đều ra mồ hôi dầm dề cả jacket và thở muốn không kịp, nếu đi vào mùa khác hoặc hè có lẽ phải bỏ cuộc vì nóng nực hay khát nước, nhưng nếu đem và uống nhiều nước lỡ bị mắc tè thì làm sao giải tỏa đây cũng kẹt, nhưng tụi này đã tai qua nạn khỏi trong tâm nguyện "bất đáo trường thành phi hảo hớn" nay đã toại nguyện và chứng tỏ đủ gân cốt leo một lần cho bõ ghét. Phái đoàn vỏn vẹn có mười ngoe mà chỉ có khoảng 6 tên đến nơi đến chốn để đóng hụi chết nhận bằng "tiến sĩ leo trường thành", còn bao nhiêu chết dọc đường dọc sá, lủi thủi quay về nơi điểm xuất ngó người ta leo cho vui, đành bỏ cuộc ngon lành, và khi lên xe rồi thì hối hận đã không cố gắng vượt khó nhọc một lần cho biết, và trong các chuyến du lịch có thăm Vạn lý trường thành phe THĐL đã từng tham dự các tour hồi trước cũng có vô vàn các bạn ta bỏ cuộc, chịu thua vô điều kiện. Khi nghe đến phe ta toàn gà xi-la-que mà cố gắng leo tới nơi tới chốn thì thấy bồn chồn, hối hận sẽ trả thù dân tộc Hán sau vậy.

Thấm thoát mà đã qua đi hơn nửa tháng trời bên Trung hoa lục địa, chỉ vỏn vẹn loanh quanh có bao nhiêu tỉnh thành phố của miền đông bắc để xem qua các thắng cảnh quá đẹp, quá hùng vĩ, thiên nhiên có, nhân tạo có, mới biết rằng, ngoài các món ăn Tàu quảng cáo gần xa như vịt Bắc kinh nổi tiếng còn có các loại đặc sản mà phải đến tận nơi mới thưởng thức được như kẹo Hồ lô v.v... Thật không ngoa khi nói rằng đi ra một tấc đường học được (hay xem cho biết) nhiều điều hay và cũng không thể không nói đến sự kiện các thân hữu đã đi "tham quan" trước bọn này từ lâu thường kể lại cũng như khuyến khích tính ham vui về cái lạ, cái hay của thiên hạ trên thế gian này. Thật cám ơn chư liệt quí vị đã xúi bọn này đi cho mở tầm mắt, tuy rằng chưa được toại nguyện ngay tại Bắc kinh là chưa được xem cái thành phố ngầm dưới đất trước khi Mao Trạch Đông xây dựng để trốn chiến tranh nguyên tử, nghe nói đồ sộ và công phu lắm... Và cũng xin tâm nguyện nếu có dịp chúng tôi sẽ làm chuyến khác để cho phỉ chí "tham quan" những tỉnh thành xa lạ khác của Tàu lục địa như Quế lâm, Quảng đông, Quảng tây, và các di tích lịch sử khác...

Hôm sau chúng tôi ra phi trường Bắc kinh để lên phi cơ về Việt nam, tiếp tục cuộc du ngoạn khởi điểm từ miền Bắc. Sau khi đến lần đầu tiên tại cái phi trường Nội bài miền Bắc làm xong thủ tục nhập nội, cả đàn mấy ngoe xách hành lý ra xe microbus (16 chỗ ngồi) chở thẳng ra vịnh Hạ long. Trên quãng đường dài qua các tỉnh quận của miền Bắc thật thà mà nói sao y như thời Pháp thuộc ở miền Nam ta vậy! Đường hẹp té, một xe chạy một xe phải đậu lại mé đường nhường bước, tuy hai bên đường xe không có mấy nhà cửa, đa phần nhà lụp xụp không thấy nhà to rộng như trong Nam, ruộng vườn thì nhỏ tí teo, không thấy vườn cây ăn trái, ngang qua Quảng ninh thấy nhà máy nhiệt điện chạy than đá đứng trơ vơ nhả khói bên bờ núi than đen ngòm, thấy công nhân gánh than như đàn kiến để rồi đến vùng bờ biển Hạ long trú ngụ ở khách sạn 18 từng  mới nhứt ở đó có tên là Sài gòn Hạ long Hotel, được xếp hàng 4 sao.

Sau khi anh trưởng toán du lịch làm thủ tục nhận phòng xong là lo làm cái việc thanh lọc sạch sẽ cá nhân và nghỉ ngơi, qua hôm sau lội ra bến bãi xuống tàu (ghe bằng cây gắn máy 1 hay 3 "bloc") để "tham quan" các đảo có hang động và thắng cảnh của vùng vịnh có một không hai của thế giới, mặc sức mà thu hình thu ảnh của kỳ quan Việt nam. Có nhiều nơi do tham nhũng và bao che để dân khai thác bừa bãi đảo đẹp bị đào phá nham nhở hay làm mất đi mỹ quan của thắng cảnh, và cũng để chứng kiến cái cảnh dân miền biển du lịch này sống lam lũ nghèo khổ (và láu cá với du khách) như thế nào, không ai lại chẳng thở dài ngao ngán. Đi dạo cả ngày trên vịnh sóng im biển lặng và dùng cơm cùng thủy sản tươi sống ngay trên ghe máy; sau đó du hành qua đại khái các vùng đảo và vào xem mấy hang động thiên nhiên như chỗ Ngô Quyền dấu cọc gỗ vạc nhọn để cắm lòng sông làm chướng ngại vật diệt thù, nào thiên cung động, nào hang đầu gỗ với thạch nhũ xinh đẹp thiên nhiên.

Kế tiếp là viếng thăm các lò sành sứ thủ công nổi tiếng miền Bắc: Bát tràng. Các công nhân đa phần trẻ, gái nhiều hơn trai, tạo sản phẩm bằng tay (thủ công) trong hầu hết mọi công đoạn. Trên đường về lại Hà nội lấy phòng trọ và ăn uống nghỉ đêm để sáng hôm sau tham quan Hà nội 36 phố phường bằng xích lô đạp, đến chiều tối lại đi xem múa rối nước, đặc trưng của miền Bắc. Cứ nghĩ đến các nghệ nhân phải ngâm mình trong nước lạnh cóng của mùa Tết miền Bắc để điều khiển các hình múa rối trong hồ nước của rạp hát mà run cầm cập thôi... Tối đến ăn cơm, đúng là thưởng thức đặc sản Hà nội, món chả cá Lã vọng. Nghe vậy mà không phải vậy như quảng cáo, ăn cho biết chứ thật ra bọn này không thấy ngon như chả cá Bắc kỳ trong Nam mình mà giá cả lại quá mắc nữa cơ... Nhưng khách "đại gia" cán bộ là cứ y như ỳ xèo chật ních lối đi của căn phố lầu nhỏ hẹp...

Tiếp các ngày sau được dẫn đi xem các thắng cảnh của thủ đô: hồ Hoàn kiếm, đền Ngọc sơn, Văn miếu, đền Quan thánh, chùa Trấn quốc, hồ Trúc bạch, sông Hồng và đập ngăn lũ, Hà nội về đêm... Ngày cuối cùng ở miền Bắc tranh thủ đi chùa Hương để cho biết "thú Hương sơn ao ước bấy lâu nay". Hôm nay chùa Hương nhằm giỗ tổ (giỗ Thầy?), sáng sớm mà mưa phùn ướt át người đi nườm nượp trên khe yến với những chiếc thuyền con chèo tay, đa phần "thuyền trưởng" là phụ nữ trẻ, thuyền nay làm bằng tôn hàn kín như kiểu những thuyền bằng gỗ khi trước nay đã cũ kỹ, nặng nề thiếu an toàn, nên đã nhận chìm tại bến để làm bảo tàng. Đi được một lần là y như đã học được một bài học theo giá trị của người dân sống trong cái nôi loài người tiến bộ, qua giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối của cuộc hành trình viếng cảnh chùa Hương tích, thật không sai lầm sống đâu giống đó như câu "gần mực thì đen" vậy, vì ai cũng bé cái lầm khi lúc đầu được các "tiếp viên" ở tại bến đò mời mọc thố lộ nỗi niềm gia khổ, hoàn cảnh sinh sống lung tung để chiêu dụ mời cho được khách dù có sự thông báo của người trưởng đoàn du lịch là hãy vững tâm đừng non lòng nhẹ dạ, nhưng đến khi đã lên lại bến cũ để quay về thì mới thấy thái độ khiếm nhã của cái đám dân chèo đò và tiếp thị ở đó, ai có qua thì mới biết... sự khó ưa và không thể tha thứ .

Từ Hà nội đi máy bay không chong chóng A320 vào Huế, nhận chỗ ở và ăn trưa là đi tham quan Thành nội Huế để tối được ăn "cơm vua". Tùy theo thể hình du khách mà mặc sắc phục của triều đình theo cùng cách. Cỡ già khằn như tụi này là chỉ có thể làm từ vua đến các hoàng thúc hay thái thượng hoàng ; các bà có tuổi thì cũng vậy, từ hoàng hậu cung phi thứ phi... May là không có đến cấp độ các quan cỡ như thái giám hay phi tần cung nữ. Khi ăn cơm vua (dở ẹt) lại có cả nghe nhạc cung đình í a í ô nghe phát mệt... Chán nhứt là hôm đó lại gặp một đoàn du lịch "đế quốc", ở đâu ra mà ôi thôi, các ông vua "đế quốc" không rõ Mỹ, Tây hay Ăng lê mà lý do to con, lại mang long bào Giao chỉ là y như mặc đồ "khín" vậy. Thế mà cũng "kính cung" chúc tụng bằng tiếng Việt nghe phát mệt.

Ngày kế ở Huế lên du thuyền một bloc Yanmar đi dạo trên sông Hương vì thuyền ở ngay bến khách sạn Hương giang (quan cảnh trong nội thất khách sạn Hương giang vẫn như xưa không thay đổi gì cả), ghé qua các nơi lịch sử di tích như điện Hòn chén, chùa Thiên mụ, lăng Minh Mạng. Sau cơm trưa là tiếp thăm lăng Tự Đức, chùa Từ hiếu (nơi thờ phụng các hoạn quan thái giám), rồi đến lăng Khải Định. Chiều về ăn tối xong lại "xuống đò" để du lãm trên sông Hương về đêm, ngắm cầu Trường tiền, nay lắp đèn đổi màu cũng đẹp, và nghe hò nghe hát theo điệu Nam ai, áo não... Rồi sáng sớm đi chợ Đông ba mua sắm quà cáp của Huế đô như kẹo mè xửng, kẹo gương của các hiệu nổi tiếng xa xưa như Song Hỉ, Kim Long...

Và sau bữa ăn là lên xe microbus (đa phần là Mercedes 16 chỗ) Nam tiến qua lộ trình ghé thăm Lăng cô, đèo Hải vân và các thắng cảnh dọc đường xuyên ngang Đà nẵng vào thẳng Hội an, thành phố cổ kính có tên Faifoo là hải cảng sầm uất nhứt của xứ An nam thời Pháp thuộc, nay cũng còn y chang như mấy mươi năm trước, khu phố cổ vẫn còn đây, các hiệu "cao lâu" (ăn thì nhứt định không mấy khá rồi) chuyên trị món ăn đặc sản ở cái xứ Quảng là mì Quảng, cao lâu... Đi thăm ngôi nhà cổ nhứt được làm bảo tàng viện văn hóa, thăm cầu Nhựt bổn, sự tích bên đông có hai con chó, bên tây có hai con khỉ làm bằng gỗ lợp mái ngói nay vẫn còn đó nhưng được tăng cường chân cầu phía dưới bằng các cây cột gạch xây làm mất vẻ thẩm mỹ của cây cầu xưa. Nơi đây xưa kia bên phía có hai con khỉ là ranh giới của khu buôn bán người Nhựt bổn, còn bên kia, bên hai con chó ngồi, là khu thương mại của người Minh hương (Tàu), cầu thì Nhựt làm theo kiểu mẫu xa xưa.

Sẵn trớn đi thăm các nơi sản xuất thủ công như lồng đèn giấy, lụa, nhà sản xuất tơ lụa Quảng nam, bến cảng xưa, các nơi làm thủ công mộc chuyên chạm trỗ, điêu khắc trên gỗ quí như cẩm lai, cẩm đỏ, gõ, thao lao, sến và cả mít nữa. Nay thành phố Hội an thay hình đổi dạng quá cỡ, nhứt là các ty sở năm xưa nay đã dành cho các tài phiệt khai thác khách sạn và nhà hàng hay các dinh thự cho các tư bản đỏ giàu có. Các khu ty như Tòa Hành chánh tỉnh Quảng nam và Ty Công chánh nay là cái khách sạn Tourane chần dần bề thế hết biết, có tên là Saigon Tourane Hotel. Ở đây được tham dự buổi nghe hát "bài chòi" chánh hiệu Quảng nam. Tuy đã đi công tác nhiều năm tháng ở vùng này nhưng nay nghe cũng khó hiểu họ hát cái gì... họ ca họ hò cái chi... Tuyệt đối khu phố cổ ngày nay là cấm xe 4 bánh, chỉ cho lưu hành xe 2 và 3 bánh như xích lô thôi, nếu có thấy xe "ô tô con" chạy vào thì đó là xe của các cấp lãnh đạo hay chức sắc... Rời Hội an trở về Đà nẵng để tiếp tục thăm viếng Ngũ hành sơn, xem qua các nghệ nhân tạc tượng trên đá hoa cương của Ngũ hành sơn, viếng bãi Non nước nơi Sơn trà, và đến tối ăn cơm trên nhà hàng nổi của sông Hàn. Về lại khách sạn Đà nẵng nghỉ qua đêm, chấm dứt cuộc hành trình du ngoạn từ Bắc vào Trung, lên máy bay vào Sài gòn ăn Tết Quí Mùi 2003 cùng gia đình và bè bạn.

Tuy gọi là một chuyến về quê ăn Tết Quí Mùi, nhưng lại phải lợi dụng một chuyến du lịch dài đó đây, thiết nghĩ cũng đáng công đáng sức và nhứt là đáng đồng tiền tiết kiệm để được một chuyến đi đầy thú vị và hữu ích cho kiến thức hạn hẹp của người tham dự. Nói đến du ngoạn mà diễn tả trên trang giấy thì không làm sao chi tiết được mọi cảnh vật sinh hoạt mắt thấy tai nghe, không làm sao nói hết biết bao cảm nghĩ và cảm nhận khi đã được tiếp xúc trực tiếp với mọi quang cảnh và nhân sinh của từng nơi đã đến, chúng tôi chỉ biết nói lên những gì còn lưu giữ trong ký ức hạn hẹp của mình, đầu óc nay không còn trong sáng, nhớ dai nhớ dài như "ngày xưa còn bé" nữa, để cho các bạn và gia đình thân hữu đọc để giải khuây hay xem qua rồi bỏ để cho biết mình đã thấy và nghe những gì trong chuyến viễn du bất đắc dĩ nhưng có đầy tâm ý vừa qua.

Trần Trung Tính


 


Thơ Ba Rọi (Trích Liên mạng - Không biết tác giả)

LONG dài, SHORT ngắn, TALL cao

HERE đây, THERE đó, WHICH nào, WHERE đâu

SENTENCE có nghĩa là câu

LESSON bài học, RAINBOW cầu vồng

HUSBAND là đức ông chồng

DADDY cha bố, PLEASE DON'T xin đừng

DARLING tiếng gọi em cưng

MERRY vui thích cái sừng là HORN

Rách rồi xài đỡ chữ TORN

TO SING là hát A SONG một bài

Nói sai sự thật TO LIE

GO đi, COME đến, một vài là SOME

Đứng STAND, LOOK ngó, LIE nằm

FIVE năm, FOUR bốn, HOLD cầm, PLAY chơi

ONE LIFE là một cuộc đời

HAPPY sung sướng, LAUGH cười, CRY kêu

LOVER đích thực người yêu

CHARMING duyên dáng, mỹ miều GRACEFUL

Mặt trăng là chữ THE MOON

WORLD là thế giới, sớm SOON, LAKE hồ

Dao KNIFE, SPOON muỗng, cuốc HOE

Đêm NIGHT, DARK tối, khổng lồ là GIANT

GAY vui, DIE chết, NEAR gần

SORRY xin lỗi, DULL đần, WISE khôn

BURY có nghĩa là chôn

OUR SOULS tạm dịch linh hồn chúng ta

Xe hơi du lịch là CAR

SIR ngài, LORD đức, thưa bà MADAM

THOUSAND là đúng mười trăm

Ngày DAY, tuầ n WEEK, YEAR năm, HOUR giờ

WAIT THERE đứng đó đợi chờ

NIGHTMARE ác mộng, DREAM mơ, PRAY cầu

Trừ ra EXCEPT, DEEP sâu

DAUGHTER con gái, BRIDGE cầu, POND ao

ENTER tạm dịch di vào

Thêm FOR tham dự lẽ nào lại sai

SHOULDER cứ dịch là vai

WRITER văn sĩ, cái đài RADIO

A BOWL là một cái tô

Chữ TEAR nước mắt, TOMB mồ MISS cô

May khâu dùng tạm chữ SEW

Kẻ thù địch đại là FOE chẳng lầm

SHELTER tạm dịch là hầm

Chữ SHOUT la hét, nói thầm WHISPER

WHAT TIME là hỏi mấy giờ

CLEAR trong, CLEAN sạch, mờ mờ là DIM

Gặp ông ta dịch SEE HIM

SWIM bơi, WADE lội, DROWN chìm chết trôi

MOUNTAIN là núi, HILL đồi

VALLEY thung lũng, cây sồi OAK TREE

Tiền xin đóng học SCHOOL FEE

Cho tôi dùng chữ GIVE ME chẳng lầm

TO STEAL tạm dịch cầm nhầm

Tẩy chay BOYCOTT, gia cầm POULTRY

CATTLE gia súc, ong BEE

SOMETHING TO EAT chút gì để ăn

LIP môi, TONGUE lưỡi, TEETH răng

EXAM thi cử, cái bằng LICENSE.

(Và Về Quê Ăn Tết)

 


Du ký của Trần Trung Tính

... Tụi này "hạ quyết tâm" làm một chuyến về quê ăn Tết cho vui vẻ, nhưng khi hỏi vé về VN ăn Tết Quí Mùi 2003 thì các tour du lịch đều kéo giá như nhau, tại San Diego là sau mồng 1 Tết Quí Mùi thì 950 đô la, mà hễ trước đó là "xin cho chúng cháu bao vé khứ hồi chỉ có một ngàn ba trăm đô la chẵn, kể cả thuế má trọn gói". Nghe qua là cà lăm rồi nên hỏi thăm qua thăm lại, xúi tụi nhỏ gõ internet lung tung tìm nơi rẻ, nhưng mà cái "bọn ác ôn" cả đám hàng không ở Á châu đều kềm giá như nhau cả... Đến khi các cháu bấm hãng máy bay "Tàu cọng" C.A. thì chỉ có vé đi tour trọn gói, riêng ở Tàu khoảng 15 ngày cùng Việt nam từ Bắc vào đến Đà nẵng 5 ngày nữa, vé bán gấp đôi, thấy ớn quá. Tham khảo bạn bè năm châu đã tham gia du lịch ở Tàu và các nơi thì họ cho là giá phải chăng rất tốt nên đi du lịch bên Tàu chơi cho biết, Tàu lục địa, vì Đài loan, Hong kong chúng tôi đã có dịp đi và ở đó rồi nên chỉ muốn đi nơi đâu chưa từng đến là ườc ao cho toại nguyện.

Thế là "trâu đạp cũng chết mà voi đạp mà còn chà chà" nữa là kể như tiêu là cái chắc. Cho nên đã có "hạ quyết tâm" noi gương người trước bắt chước theo sau, nhứt là về quê ăn Tết với gia đình nữa, bao nhiêu lý do thôi thúc dồn dập mà không thể từ nan được, nên bấm gan làm đại một chuyến dù có nợ sẽ thanh toán sau, dám nghĩ dám làm, nên "một liều ba bảy cũng liều, muốn đi hỏi vợ sợ nhiều miệng ăn..." Và cặp "cù lũ" già chúng tôi sửa soạn lên đường theo như chương trình trong tour du lịch đã định sẵn, khởi hành vào đầu tháng giêng dương lịch 2003, tham quan Tàu lục địa trong vòng 15 ngày.

Thượng hải là thành phố ghé trước tiên, đi thăm bến Thượng hải, nơi kỷ niệm chỗ tủi nhục của người Tàu có cái bảng nơi tô giới các nước Âu châu chiếm cứ đời Thanh triều đề câu "cấm người Tàu và chó vào cổng này". Rồi thì ngắm sông Hoàng phố chia Thượng hải ra đông tây, khu tây là khu đang phát triển mạnh nhứt và có phi trường quốc tế mới Pudong (đặc biệt ở Thượng hải là cái tỉnh có đến hai phi trường quốc tế tiếp máy bay cỡ 747); tiếp đến đi viếng chùa Phật ngọc, nhà của bà Tống Khánh Linh, vợ Tôn Dật Tiên; rồi đến Hàng châu nơi quê hương người đẹp của Tàu; đi du thuyền trên sông Tây hồ (Tàu có Tây hồ, Hà nội có Hồ tây), cái hồ tuy rộng bao la nhưng lúc nào cũng có xáng múc bùn cho bớt cạn vì hồ sâu không quá 1,5 m nơi sâu nhứt. Nơi đây cho khách thấy nào là tháp trên đỉnh núi nơi nhốt Bạch xà tinh (trong truyện Thanh xà Bạch xà); rồi đập đất do Tô Đông Pha tạo dựng có các cây cầu mang danh dài mà không dài từ sự tích Mộc Quế Anh và anh kép độc cứ kẻ đưa qua người đưa lại trên cầu mãi không muốn rời nhau nên câu giờ quá thành ra ... cầu dài, tuy chưa được 10 thước tây. Rồi ăn cơm nơi đây với món thịt heo kho kiểu đặc biệt của Tô Đông Pha (còn thua xa thịt kho rệu của phe ta ở quê miền tây trong ba ngày Tết âm lịch nữa). Dân "đế quốc" du ngoạn ở đây (tất cả đoàn chỉ có 10 ngoe thôi) đều ớn chất béo nên khi được quảng cáo và thưởng thức là y như gặp nạn, không ai dám đớp mạnh cả, dù là có đói. Và hơn nữa nay là mùa lạnh nhứt của lục địa Tàu, vẫn còn mùa đông, ai nấy đều mang áo ấm dày cui, riêng tụi này chỉ có vỏn vẹn một cái áo jacket bằng nylon trong có lớp cotton thôi.

Rồi đến thăm viếng nơi sản xuất và trồng trà gọi là Long tĩnh, loại trà đặc sản chỉ trồng và sản xuất để phục vụ vua chúa ngày xưa, và nay là làm quà cho các chính nhân quốc tế hay lãnh đạo các nước đến thăm xứ Tàu. Rất nhiều ảnh lưu niệm, kể cả các "đồng chí" Bush (cha), nữ hoàng Anh và Clinton chồng vợ v.v... (không biết ảnh thật hay ghép). Và mại dzô, ai mua thì mua tại đây, không có bán ngoài nơi đây sản xuất, giá hạ đặc biệt trong mùa đông ít khách du lịch... Rồi đến thăm Linh ẩn tự, ngôi chùa trên núi trong hang động đá thiên nhiên đẹp, có vô số tượng Phật trên núi và vách núi, tích truyền rằng cái núi Phật tự này từ bên Ấn độ bay qua tấp vào đó... vì có di tích Phật Ấn độ y như thiệt vậy. Tuy là mùa đông còn kéo dài thế mà người đi xem phong cảnh quá đông. Sau đó lại đến viếng lò sản xuất chuyên trị ấm trà, vì có trà Long tĩnh mà không có ấm pha trà là hạ sách. Trà Long tĩnh có tiếng trị mỡ, cao máu, hạ huyết áp, cho nên phải có ấm trà đặc biệt bằng đất "tử sa" đặc sản, bảo đảm leo lên đứng trên ấm trà hay cái tách trà úp xuống không bể.

Rời Hàng châu xe đưa khách tạm xa quê hương của những người đẹp nhứt Trung hoa xa xưa để đi đến Tô châu, nơi sản xuất tơ lụa (tơ tằm) khét tiếng của Tàu; ghé vào xưởng sản xuất tơ lụa, nhứt là mền, thấy kỹ nghệ làm mền mà phát mệt, từ nuôi tằm đến làm ra sản phẩm rất là nhiêu khê, công đoạn. Thế là động lòng, đa phần ai cũng ôm một cái tùy lòng "tham" mà mua nhiều mua đủ bộ hay không, là vì bán mền riêng, bao mền riêng đủ loại, đủ cỡ, đủ thứ, đủ giá, không mua sẽ ân hận như các bạn đã "đi qua đời tôi" nhắn nhủ. Do đó tôi đã không ngần ngại dù chết đến nơi cũng kệ, khiêng luôn một lượt 3 cái king size đủ bộ cho bõ ghét. Rồi thì đến thăm xưởng dệt và thêu tay (thủ công) các bức tranh lụa tơ tằm trông như tranh vẽ. Nếu không thấy tận mắt người nghệ nhân đang thực hành không mấy ai nghe nói mà lại tin như mách lại, vì có những bức tranh thêu trên lụa cả hai mặt đều đẹp như nhau, họ thêu một lần bằng 2 cây kim, có mặt là một con hổ (cọp) đang bước xuống núi, còn mặt kia lại là một con phượng bay vọt lên trời trông thật sắc sảo. Bức khác là ảnh một bên là ông Clinton bên kia là ảnh bà Hillary mới khâm phục, nhưng giá cả tính ra Mỹ kim thì lại quá rẻ so với công đoạn nghệ nhân làm nên, nghe đâu một bức tranh tương tợ như vậy khoảng công gần cả nửa năm trời mới xong, và hiện tại hàng sư phụ của nghề thêu lụa này cả một tỉ ba dân Tàu mà chỉ còn có 8 người làm được cả nam lẫn nữ (nam lại nhiều hơn nữ), và tương lai ... tuyệt nghệ! Kế đó được đi đến thăm nơi gọi là cội nguồn của nước Việt xa xưa, có sự tích Tây Thi gái nước Việt, có chàng Phạm Lãi, Việt vương Câu Tiễn, vua Ngô Phù Sai mà người đẹp nghiêng nước nghiêng thành Tây Thi dệt lụa (cũng gốc ở tại Hàng châu cả), nơi di tích hùng vĩ này còn dấu vết nơi nàng Tây Thi soi bóng chải đầu bằng "gương chiếu thủy" (một lỗ núi thông xuống mặt hồ nước phẳng lặng soi bóng mình) và có nơi chôn cha của vua Ngô Phù Sai (tôi đã quên mất tên, lâu quá không nhớ rõ thật là lú lẫn quá chừng!) được chôn nơi đây với hình thức thủy táng nhưng không phải như là lối chôn trong lòng biển của Hải quân truyền thống tử trận, mà ông ta được chôn trên núi đá cùng chung với hơn hai ngàn cây bảo kiếm vì ông ta là vua khoái kiếm báu nên sợ người ta chôm mất sau này nên đề phòng chôn sâu vào đá đất rồi đổ nước lên cho ngập mộ phần. Nghe nói sau ngày cọng sản chiếm (1949) Mao Trạch Đông có cho đào tìm bảo kiếm và bảo vật nhưng cũng chỉ đào được mấy cây kiếm, vẫn còn sắc bén và tốt đẹp như thường. Nhưng trên đỉnh núi này lại còn có một ngôi tháp cổ tên là tháp Đồi Hổ cao cả trăm thước, nhiều tầng đồ sộ, nhưng nay bị lún nghiêng qua một bên, độ sai tâm đến 2,30 m (mệnh danh Pisa tháp của Tàu). Vì sợ tháp cổ đổ xuống nên cọng sản không đào nữa và cho lấp lại nơi thủy mộ kiếm ấy. Nếu muốn biết thời gian xây tháp ấy và vị trí nơi đây thì theo như lịch sử nguồn gốc nước Việt, nếu là nguyên gốc chánh của phe ta hiện tại thì cứ đem trên 4 ngàn năm văn hiến của nước ta cọng thêm thời gian dài bị các sắc dân tại lục địa rượt tận diệt phe ta chạy riết xuống phía Nam lập quốc, rồi lại cọng thêm thời gian đóng đô tại Đồi Hổ của Tô châu là biết ngay bao lâu...

Kế đến đi viếng thăm nơi thắng cảnh một ngôi nhà, đúng ra là cả một tòa nhiều căn biệt lập riêng và công viên của tư gia một nhà quan nhị phẩm tên là Phan Đoàn (được cọng sản xếp vào hàng quan tham nhũng), phong cảnh cực kỳ đẹp đẽ, sông, hồ, non bộ ... Đá lấy từ Tai-ho cũng gọi là Thái hồ để làm hòn non bộ tự nhiên đẹp được gọi là Vị viên xây năm 1559 Tây lịch với những cây cổ loại bonsai hàng mấy trăm năm hãy còn đang sống như đào, lựu, trúc v.v...

Tiếp tục hành trình đến thăm thành phố có danh hiệu là Vô tích (không có thiết), ghé thăm Hồ nước ngọt bát ngát trên núi tên là Tai-ho (Hồ tai), nơi có xưởng nuôi và sản xuất ngọc trai đủ màu đủ cỡ đặc biệt là trai nước ngọt mới lạ. Một con trai to hơn bàn tay xòe có thể có mấy chục viên ngọc mới là lạ lùng hơn cả... Nơi đây lại một lần nữa các bà thi nhau chọn lựa, mặc cả và mua làm kỷ niệm ngàn năm một thuở cơ mà.

Nếu đã đến vùng này rồi mà lại chúa lười hay lại tiếc công một chút sẽ bỏ lỡ một dịp đi du lịch bị thiếu thốn lớn đối với Phật tử là viếng thăm Linh sơn thắng cảnh, nơi đây có hai bức tượng Phật lớn bằng đồng đứng, bức cao nhứt và to nhứt đứng sừng sững trên triền núi đá trông về hướng đông nam cao 88 thước tây, riêng bàn tay Phật cao gần 12 thước tây để làm mẫu dưới sân rộng một bên. Phía mặt ngoài nhìn vào là tượng Phật Di lặc to cũng không kém, với đám "tam bành lục tặc" (con nít). Từ tượng Phật nhỏ hơn đứng dưới sân cho đến bậc cuối trên cùng của chân đế tượng Phật chính cao 88 thước, đếm được cả thảy là 333 bậc cấp lên núi. Sau khi xem xong tượng Phật đứng vĩ đại đó du khách có thể dùng cơm chay độc nhứt vô nhị tại xứ cọng sản Tàu nơi Linh sơn nhà hàng to rộng đẹp và các món ăn đặc biệt. Cũng như phía trước sân núi là một bức tường xây lịch sử của Phật giáo du nhập vào nước Tàu cùng sự tích Tây du ký của Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh.

Chiều tối đoàn du hành trở lại Tai-ho để được dùng cơm trên các nhà hàng nổi (floating restaurant) nằm trên bờ hồ với thủy sản địa phương này... Để rồi sau đó lên đường về Nam kinh trên xa lộ của Tàu được xem là hiện đại mỗi bên có hai đường xe gọi là đường cao tốc, nhưng đã được giới hạn xe du lịch chạy 120 cây số giờ thôi, còn các xe khác là 100 và 80 cho xe hạng nặng. Về Nam kinh được ngủ khách sạn Hilton Nang Jin để hôm sau lại lên đường viếng lăng mộ Chu Nguyên Chương, người chiến sĩ của Bạch liên giáo hay nghĩa quân gì đó ở vào thời của Trương Vô Kỵ trong truyện Đồ long Ỷ thiên kiếm. Là giáo chủ của Minh giáo (tà giáo theo nghĩa của các môn phái gọi là chính giáo), sau đó dẹp an đất nước, bất đắc dĩ làm xếp một lượt tùm lum tà la môn phái, Trương Vô Kỵ mắc nợ nàng Triệu Minh quận chúa đành lòng theo em để vẽ chưn mày hay nhổ lông mi chi đó. Nếu bây giờ chắc có lẽ Trương Vô Kỵ dẫn em Triệu Minh ra các tiệm tattoo xâm cha nó là xong, khỏi phải vẽ vời lôi thôi mất thì giờ... Và vì thế bỏ sự nghiệp "cách mạng" đang lên nhường cho Chu Nguyên Chương làm "trùm sò" dựng lên cơ nghiệp lấy danh hiệu là Minh (nhà Minh từ Minh giáo mà có).

Rồi đó thẳng trơn đi luôn đến thăm lăng mộ nhà cách mạng lập nền đệ nhứt Cọng hòa Trung quốc là Tôn Dật Tiên, có bí danh là Tôn Trung Sơn. Nơi đây bắt đầu phải leo tổng cọng 392 bậc thềm lên triền núi hai bên là rừng thông lá kép bạt ngàn, lội đến nơi phần mộ của tiên sinh là bá thở, khò khè luôn, tuy rằng mỗi mấy chục bậc có một sân bằng thư dãn cơ bắp rồi tiếp tục... Qua mấy cái cổng tam quan hùng tráng bằng đá cẩm thạch (xin nhắc lại Tôn tiên sinh là phu quân của bà Tống Khánh Linh, chị của Tống Mỹ Linh vợ Tưởng Giới Thạch ở Đài loan, người đuổi nhà Thanh dựng nên nền cọng hòa dân chủ đầu tiên tại Tàu; trước đó Mao Trạch Đông kỵ anh này lắm, đến đời Đặng Tiểu Bình mới được phục hồi nhân phẩm và được xếp vào bậc vĩ nhân của Tàu). Phần mộ của Tôn tiên sinh có tạc một tượng của tiên sinh nằm trên phần mộ toàn đá cẩm thạch. Tiếp tục hành trình sau đó tại Nam kinh là đi dạo lên cây cầu đầu tiên và vĩ đại nhứt lúc bấy giờ bắt qua sông Trường giang có 4 đường xe qua lại bên trên, phía tầng dưới là xe lửa chạy cũng qua lại hai bên, cầu vĩ đại dài mấy cây số, mùa này (đông sắp sang xuân) nước cạn sông hẹp nhưng bờ này sang bờ kia mênh mông; mùa nước nhiều sẽ biết tay anh chị... nghe nói gây họa liên miên... phát ớn lạnh.

Chiều tối kéo về lại Thượng hải để dạo phố đêm, đi mua sắm quà cáp ở mấy phố chánh như đường Nam kinh, đường Tô châu gì đó ... loanh quanh mấy tiệm buôn bán phát chóng mặt với hàng hà sa số đèn màu ơi là đèn màu. Đặc biệt các trục giao lộ trên các xa lộ gọi là đường cao tốc ở tại các thành phố lớn đều thiết lập đèn dọc theo xa lộ luôn đổi màu trông đẹp về đêm... Nghỉ đêm ở Thượng hải rồi sáng sớm lên đường đi Bắc kinh bằng máy bay 747 Boeing (đặc biệt đường bay Bắc kinh - Thượng hải toàn bằng B 747). Đặt chân đến Bắc kinh là lên "xe hoa" đến viếng Thiên đàn (đây là đàn để vua cầu trời chớ không phải là thiên đàng địa ngục). Sự tích quá lâu đời qua không biết bao nhiêu triều vua chúa ở nơi đây, chỉ biết đại khái là một ngôi đền hùng vĩ tạo dựng toàn bằng gỗ quí lợp mái ngói xanh không đóng rong rêu, từ cái sân bao la bát ngát bên dưới leo lên mấy chục bực cấp đến chân đền lót gạch đất nung hoặc đá miếng, trong đền có những đặc vị như chính giữa điện có 4 cột to tượng trưng cho 4 mùa, và chung quanh có 12 cây cột tượng trưng cho 12 tháng, cũng đồng thời là 12 giáp, toàn gỗ lim, trong có bàn thờ chánh điện để vua cầu nguyện. Toàn diện đền có 3 từng cả thảy. Nơi đây cũng được gọi là Thiên văn miếu.

Xong ngày đầu ở Bắc kinh phe ta phờ râu về nghỉ ngơi ở khách sạn 3, 4, 5 sao gì đó tên là Trader Hotel, để qua một đêm mùa đông lạnh của Bắc kinh đầy tuyết rơi và băng giá, sáng hôm sau tỉnh táo đi viếng Tử cấm thành (còn gọi là Thiên an môn lịch sử) có ảnh Mao Trạch Đông chình ình trước của, nhìn đối diện bên kia là lăng mộ... Tiến vào nội thành mới thấy phát ớn cái công trình xây dựng và công của cũng như sức lực của người dân xa xưa bị làm lao động xây cất cung điện thế nào gọi là vĩ đại. Đi thăm viếng không nhớ nổi là bao nhiêu tầng lớp xây dựng có những tên riêng từ khu này đến khu nọ, đâu đâu cũng khác nhau, về mặt xây dựng đến kiểu cách đều khác nhau theo tiêu chuẩn của vua chúa và triều đại thay đổi, chỉ đại khái cái gọi là hoàng cung nơi vua và gia đình chánh cung sinh sống nghe thấy cũng biết thế nào là lớn lao vĩ đại. Nghe truyền rằng nơi đây nếu một hoàng tử hay một công chúa sinh ra đời, chỉ được ở mỗi ngày một phòng thôi thì đến khi đủ 27 cái xuân xanh đương sự mới có khả năng ở đủ các phòng trong cung này.

Khỏi nói đến các cung điện chỉ để cho vua ăn chơi, ngâm thơ, tuyển thiếp, ... còn ngự huê viên thì hết nói, huê viên sau Tử cấm thành còn lưu dấu các cây (loại trắc bách diệp) gọi là cây Vợ chồng, gồm có hai cổ xưa bện quấn vào nhau như tình nghĩa phu thê bất diệt, đến nay sau bao nhiêu thế kỷ vật đổi sao dời vẫn còn sinh tồn còm cõi... Lại có những phiến đá hoa cương toàn khối rộng mấy thước tây (rộng 3.07 m, dày 1,70 m và dài 16,57 m, nặng hơn 200 tấn) lấy từ Fang shan phía nam Bắc kinh ngàn dặm, rinh về Bắc kinh để chạm trỗ lót đường cho vua đi, nghe cũng đã thấy hết hồn về lối vận chuyển vật dụng nặng nề của người xưa không có máy móc trợ lực. Nghe nói bí quyết chỉ là lợi dụng công sức của người và mặt nước sông rạch và băng giá để dễ di chuyển phiến đá hoa cương khổng lồ ấy. Còn các hòn non bộ (dã sơn) đều lấy đá thiên nhiên từ Tai-ho đem về tạo dựng...

Tiếp đến là đi thăm viếng cung điện của Từ Hi thái hậu. Bây giờ còn là mùa đông nên hầu hết sông rạch kể cả các hào thành bao quanh Cổ thành (hay Tử cấm thành) đều đóng đá cả cho nên khi đến khu hồ trước điện của Từ Hi cũng là nơi thờ Phật, kinh kệ của bà và nội thất quá lâu đời có chỗ yếu không an toàn nên không vào bên trong được. Chỉ riêng từ ngoài cổng điện đi vòng quanh bờ hồ mênh mông trên lối đi rộng khoảng 2,5 m được chạm trỗ và trang trí liên tục suốt lộ trình bà đi trên 2000 bức tranh vẽ của các danh họa xa xưa đều vẽ khác nhau cả thật là khủng khiếp. Nghe kể mỗi bữa cơm của bà phải có 300 món khác nhau và dọn làm 3 bàn nhưng bà chỉ ăn có một bàn thôi. Đó là sự se sua vương giả quá mức. Sức tưởng tượng của bà Từ Hi thái hậu quyền uy có một không hai.

Những tưởng ở Mỹ mới có loại người "ba tửng", loại hải cẩu không biết lạnh ở các xứ (tiểu bang) có băng tuyết, thỉnh thoảng lên cơn trong mùa đông băng giá rủ nhau đập bể băng nhảy xuống tắm lạnh thấy phát ghê, nhưng ở Bắc kinh chúng tôi cũng thấy các ngài ba trợn loại ấy cũng đập băng không phải câu cá mà nhào xuống tắm chơi cho đỡ buồn mới đáng sợ tào-a-man, thấy họ tắm mà tụi này nổi da gà đánh bò cạp tuy mặc áo jacket đàng hoàng ấy... Thế mới biết đâu cũng có người cà tửng, chịu thua...

Trên đường trở về lại Bắc kinh, ghé thăm cái cơ xưởng sản xuất có một không hai trên đời này là làm các vật dụng bằng dây đồng uốn ráp thành cốt của các lục bình (bình bông), chân đèn hay các đồ trang trí trong nhà, rồi nung đỏ dính lại nhau, sau đó sơn men màu lên nung chín thành sản phẩm màu sắc rất là xinh xắn, nhưng khó mang về vì lỡ bể là lỗ vốn, nhưng có mấy ai biết giá trị của nó khi sản xuất rất là công phu. Sau khi về đến Bắc kinh ăn uống xong xuôi là đến tối đi xem xiệc của Tàu. Tất cả diễn viên của xiệc toàn là trẻ nhỏ và thanh niên nam nữ, trên 1 giờ 30 phút xem liên tục không biết bao nhiêu diễn viên biểu diễn các màn múa dĩa, thăng bằng, đu dây, nhồi bắt banh bằng chân. Đặc biệt một chiếc xe đạp do một nữ diễn viên trẻ điều khiển chở thêm 12 người quá giang đeo nghẹt như dơi đeo trong hang động vậy. Thật là một màn xiệc xuất sắc lần đầu được xem trong đời và để đời luôn...

Ngày sau đó là đi thăm Vạn lý trường thành cách xa Bắc kinh khoảng gần 2 giờ xe buýt chạy, có ghé qua các khu chợ nơi sản xuất ngọc thạch và đá quí, các bà mê mệt, chỉ nội thấy nguyên chiếc tàu dài gần 3 thước cao 1,70 m toàn bằng đá cẩm thạch là lóe mắt rồi... Thuận đường ghé thăm Đồng an đường (Đồng nhân đường) nơi tập trung các thái y của các triều vua kể cả Thanh triều, để nghe các ngài lương y khám bệnh miễn phí, chỉ bán thuốc mới lấy tiền, có các vị lương y nói và viết thạo tiếng Việt hơn cả các di dân Việt trên đất Mỹ nữa. Đau chân nên há miệng, cứ nghe thầy thuốc bắt mạch khám bịnh y như thiệt nên ai cũng tạm xem sức khỏe là vàng để còn lấy gân lấy sức đi du lịch hiệp khác nữa nên ai cũng mua thuốc không nhiều thì ít để bảo tồn sức khỏe, vì vậy nhà thuốc cũng quơ được một mẻ khá nhiều... để còn xuôi vạn lý chớ!

Xe đưa đến chân Vạn lý trường thành, hôm nay trời đổ tuyết trắng trời, người hướng dẫn bảo có lẽ trời hôm nay làm cho trường thành ngập tuyết vì tuyết rơi luôn dai dẳng cả ngày, thế nhưng khi đến chân tường để chuẩn bị hành trình vượt vạn lý, hay đáo trường thành cũng vậy, cả nhóm gom lại chụp một bô làm kỷ niệm rồi hãy chạy sau. Nhưng sau đó đoàn người leo lên chỉ được một bậc cấp của Vạn lý  từ chân tường lên đến vọng lâu thứ nhứt thì trời bỗng dưng ngưng rơi tuyết và bầu trời nhanh chóng trong trẻo lạ thường. Phe ta thừa thắng xông lên, leo lia leo lịa vượt hết khoảng này qua khoảng kế liên tiếp. Bực cấp khó leo tuy cao quá đối với tầm vóc của bước chân ngắn nhỏ của hầu hết khổ người phe ta, nhưng chỉ có thở hồng hộc như sắp đứt hơi nhưng vì thời gian có hạn định cho chuyến leo không quá 3 giờ lên xuống cho nên ai nấy cũng cố gắng leo lên cho đến cao điểm nhứt, cái nơi mà nhân viên đợi sẵn ở một văn phòng dịch vụ chuyên cấp chứng chỉ đã vượt đến đỉnh cao nhứt của bức tường thành và chỉ cấp cho những ai đã hiện diện ghi tên vào sổ bộ cũng như được khắc tên ngoằn ngoèo vào một bảng bằng đồng lưu niệm đã viếng trường thành, và chỉ xin 5 đô la Mỹ (hoặc 40 nhân dân tệ) thôi...

Thế là toại nguyện rồi đấy, phe ta lục tục đổ xuống, cứ ngỡ là đổ dốc khỏe hơn leo lên, nhưng thật bé cái lầm vì đi xuống lại khó khăn hơn leo lên mới chết cửa tứ chớ. Sau khi đã chụp và quay phim lưu niệm trên đỉnh tháp canh cao nhứt nơi đây là bắt đầu đổ xuống, nhưng phải vịn vào tay vịn của vách tường thành làm sẵn để lần xuống, do đó hai bên bức tường thành theo lối lên hay xuống đều mòn khuyết sâu, ở giữa còn y nguyên không mòn miết gì cả. Đang đi phăng xuống, nếu cả luồng người nối nhau đi ấy có một ai vì mệt hay lý do gì đó phải ngừng lại là y như rằng các người phía trên sau lưng cứ y như vô cùng lịch sự là tự động đứng lại một chỗ không vội bước đi qua mặt người đã dừng lại vì lý do nếu buông tay rời tay vịn (handle) là có quyền té lăn ra, khỏi phải đi lôi thôi gì cả mà có khi còn lăn lẹ xuống chân tường nữa là khác, nên đành phải miễn cưỡng lịch sự và cũng để nghỉ lấy hơi xuống tiếp.

Chúng tôi thăm viếng trường thành nhằm mùa lạnh mà khi lên hay xuống đều ra mồ hôi dầm dề cả jacket và thở muốn không kịp, nếu đi vào mùa khác hoặc hè có lẽ phải bỏ cuộc vì nóng nực hay khát nước, nhưng nếu đem và uống nhiều nước lỡ bị mắc tè thì làm sao giải tỏa đây cũng kẹt, nhưng tụi này đã tai qua nạn khỏi trong tâm nguyện "bất đáo trường thành phi hảo hớn" nay đã toại nguyện và chứng tỏ đủ gân cốt leo một lần cho bõ ghét. Phái đoàn vỏn vẹn có mười ngoe mà chỉ có khoảng 6 tên đến nơi đến chốn để đóng hụi chết nhận bằng "tiến sĩ leo trường thành", còn bao nhiêu chết dọc đường dọc sá, lủi thủi quay về nơi điểm xuất ngó người ta leo cho vui, đành bỏ cuộc ngon lành, và khi lên xe rồi thì hối hận đã không cố gắng vượt khó nhọc một lần cho biết, và trong các chuyến du lịch có thăm Vạn lý trường thành phe THĐL đã từng tham dự các tour hồi trước cũng có vô vàn các bạn ta bỏ cuộc, chịu thua vô điều kiện. Khi nghe đến phe ta toàn gà xi-la-que mà cố gắng leo tới nơi tới chốn thì thấy bồn chồn, hối hận sẽ trả thù dân tộc Hán sau vậy.

Thấm thoát mà đã qua đi hơn nửa tháng trời bên Trung hoa lục địa, chỉ vỏn vẹn loanh quanh có bao nhiêu tỉnh thành phố của miền đông bắc để xem qua các thắng cảnh quá đẹp, quá hùng vĩ, thiên nhiên có, nhân tạo có, mới biết rằng, ngoài các món ăn Tàu quảng cáo gần xa như vịt Bắc kinh nổi tiếng còn có các loại đặc sản mà phải đến tận nơi mới thưởng thức được như kẹo Hồ lô v.v... Thật không ngoa khi nói rằng đi ra một tấc đường học được (hay xem cho biết) nhiều điều hay và cũng không thể không nói đến sự kiện các thân hữu đã đi "tham quan" trước bọn này từ lâu thường kể lại cũng như khuyến khích tính ham vui về cái lạ, cái hay của thiên hạ trên thế gian này. Thật cám ơn chư liệt quí vị đã xúi bọn này đi cho mở tầm mắt, tuy rằng chưa được toại nguyện ngay tại Bắc kinh là chưa được xem cái thành phố ngầm dưới đất trước khi Mao Trạch Đông xây dựng để trốn chiến tranh nguyên tử, nghe nói đồ sộ và công phu lắm... Và cũng xin tâm nguyện nếu có dịp chúng tôi sẽ làm chuyến khác để cho phỉ chí "tham quan" những tỉnh thành xa lạ khác của Tàu lục địa như Quế lâm, Quảng đông, Quảng tây, và các di tích lịch sử khác...

Hôm sau chúng tôi ra phi trường Bắc kinh để lên phi cơ về Việt nam, tiếp tục cuộc du ngoạn khởi điểm từ miền Bắc. Sau khi đến lần đầu tiên tại cái phi trường Nội bài miền Bắc làm xong thủ tục nhập nội, cả đàn mấy ngoe xách hành lý ra xe microbus (16 chỗ ngồi) chở thẳng ra vịnh Hạ long. Trên quãng đường dài qua các tỉnh quận của miền Bắc thật thà mà nói sao y như thời Pháp thuộc ở miền Nam ta vậy! Đường hẹp té, một xe chạy một xe phải đậu lại mé đường nhường bước, tuy hai bên đường xe không có mấy nhà cửa, đa phần nhà lụp xụp không thấy nhà to rộng như trong Nam, ruộng vườn thì nhỏ tí teo, không thấy vườn cây ăn trái, ngang qua Quảng ninh thấy nhà máy nhiệt điện chạy than đá đứng trơ vơ nhả khói bên bờ núi than đen ngòm, thấy công nhân gánh than như đàn kiến để rồi đến vùng bờ biển Hạ long trú ngụ ở khách sạn 18 từng  mới nhứt ở đó có tên là Sài gòn Hạ long Hotel, được xếp hàng 4 sao.

Sau khi anh trưởng toán du lịch làm thủ tục nhận phòng xong là lo làm cái việc thanh lọc sạch sẽ cá nhân và nghỉ ngơi, qua hôm sau lội ra bến bãi xuống tàu (ghe bằng cây gắn máy 1 hay 3 "bloc") để "tham quan" các đảo có hang động và thắng cảnh của vùng vịnh có một không hai của thế giới, mặc sức mà thu hình thu ảnh của kỳ quan Việt nam. Có nhiều nơi do tham nhũng và bao che để dân khai thác bừa bãi đảo đẹp bị đào phá nham nhở hay làm mất đi mỹ quan của thắng cảnh, và cũng để chứng kiến cái cảnh dân miền biển du lịch này sống lam lũ nghèo khổ (và láu cá với du khách) như thế nào, không ai lại chẳng thở dài ngao ngán. Đi dạo cả ngày trên vịnh sóng im biển lặng và dùng cơm cùng thủy sản tươi sống ngay trên ghe máy; sau đó du hành qua đại khái các vùng đảo và vào xem mấy hang động thiên nhiên như chỗ Ngô Quyền dấu cọc gỗ vạc nhọn để cắm lòng sông làm chướng ngại vật diệt thù, nào thiên cung động, nào hang đầu gỗ với thạch nhũ xinh đẹp thiên nhiên.

Kế tiếp là viếng thăm các lò sành sứ thủ công nổi tiếng miền Bắc: Bát tràng. Các công nhân đa phần trẻ, gái nhiều hơn trai, tạo sản phẩm bằng tay (thủ công) trong hầu hết mọi công đoạn. Trên đường về lại Hà nội lấy phòng trọ và ăn uống nghỉ đêm để sáng hôm sau tham quan Hà nội 36 phố phường bằng xích lô đạp, đến chiều tối lại đi xem múa rối nước, đặc trưng của miền Bắc. Cứ nghĩ đến các nghệ nhân phải ngâm mình trong nước lạnh cóng của mùa Tết miền Bắc để điều khiển các hình múa rối trong hồ nước của rạp hát mà run cầm cập thôi... Tối đến ăn cơm, đúng là thưởng thức đặc sản Hà nội, món chả cá Lã vọng. Nghe vậy mà không phải vậy như quảng cáo, ăn cho biết chứ thật ra bọn này không thấy ngon như chả cá Bắc kỳ trong Nam mình mà giá cả lại quá mắc nữa cơ... Nhưng khách "đại gia" cán bộ là cứ y như ỳ xèo chật ních lối đi của căn phố lầu nhỏ hẹp...

Tiếp các ngày sau được dẫn đi xem các thắng cảnh của thủ đô: hồ Hoàn kiếm, đền Ngọc sơn, Văn miếu, đền Quan thánh, chùa Trấn quốc, hồ Trúc bạch, sông Hồng và đập ngăn lũ, Hà nội về đêm... Ngày cuối cùng ở miền Bắc tranh thủ đi chùa Hương để cho biết "thú Hương sơn ao ước bấy lâu nay". Hôm nay chùa Hương nhằm giỗ tổ (giỗ Thầy?), sáng sớm mà mưa phùn ướt át người đi nườm nượp trên khe yến với những chiếc thuyền con chèo tay, đa phần "thuyền trưởng" là phụ nữ trẻ, thuyền nay làm bằng tôn hàn kín như kiểu những thuyền bằng gỗ khi trước nay đã cũ kỹ, nặng nề thiếu an toàn, nên đã nhận chìm tại bến để làm bảo tàng. Đi được một lần là y như đã học được một bài học theo giá trị của người dân sống trong cái nôi loài người tiến bộ, qua giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối của cuộc hành trình viếng cảnh chùa Hương tích, thật không sai lầm sống đâu giống đó như câu "gần mực thì đen" vậy, vì ai cũng bé cái lầm khi lúc đầu được các "tiếp viên" ở tại bến đò mời mọc thố lộ nỗi niềm gia khổ, hoàn cảnh sinh sống lung tung để chiêu dụ mời cho được khách dù có sự thông báo của người trưởng đoàn du lịch là hãy vững tâm đừng non lòng nhẹ dạ, nhưng đến khi đã lên lại bến cũ để quay về thì mới thấy thái độ khiếm nhã của cái đám dân chèo đò và tiếp thị ở đó, ai có qua thì mới biết... sự khó ưa và không thể tha thứ .

Từ Hà nội đi máy bay không chong chóng A320 vào Huế, nhận chỗ ở và ăn trưa là đi tham quan Thành nội Huế để tối được ăn "cơm vua". Tùy theo thể hình du khách mà mặc sắc phục của triều đình theo cùng cách. Cỡ già khằn như tụi này là chỉ có thể làm từ vua đến các hoàng thúc hay thái thượng hoàng ; các bà có tuổi thì cũng vậy, từ hoàng hậu cung phi thứ phi... May là không có đến cấp độ các quan cỡ như thái giám hay phi tần cung nữ. Khi ăn cơm vua (dở ẹt) lại có cả nghe nhạc cung đình í a í ô nghe phát mệt... Chán nhứt là hôm đó lại gặp một đoàn du lịch "đế quốc", ở đâu ra mà ôi thôi, các ông vua "đế quốc" không rõ Mỹ, Tây hay Ăng lê mà lý do to con, lại mang long bào Giao chỉ là y như mặc đồ "khín" vậy. Thế mà cũng "kính cung" chúc tụng bằng tiếng Việt nghe phát mệt.

Ngày kế ở Huế lên du thuyền một bloc Yanmar đi dạo trên sông Hương vì thuyền ở ngay bến khách sạn Hương giang (quan cảnh trong nội thất khách sạn Hương giang vẫn như xưa không thay đổi gì cả), ghé qua các nơi lịch sử di tích như điện Hòn chén, chùa Thiên mụ, lăng Minh Mạng. Sau cơm trưa là tiếp thăm lăng Tự Đức, chùa Từ hiếu (nơi thờ phụng các hoạn quan thái giám), rồi đến lăng Khải Định. Chiều về ăn tối xong lại "xuống đò" để du lãm trên sông Hương về đêm, ngắm cầu Trường tiền, nay lắp đèn đổi màu cũng đẹp, và nghe hò nghe hát theo điệu Nam ai, áo não... Rồi sáng sớm đi chợ Đông ba mua sắm quà cáp của Huế đô như kẹo mè xửng, kẹo gương của các hiệu nổi tiếng xa xưa như Song Hỉ, Kim Long...

Và sau bữa ăn là lên xe microbus (đa phần là Mercedes 16 chỗ) Nam tiến qua lộ trình ghé thăm Lăng cô, đèo Hải vân và các thắng cảnh dọc đường xuyên ngang Đà nẵng vào thẳng Hội an, thành phố cổ kính có tên Faifoo là hải cảng sầm uất nhứt của xứ An nam thời Pháp thuộc, nay cũng còn y chang như mấy mươi năm trước, khu phố cổ vẫn còn đây, các hiệu "cao lâu" (ăn thì nhứt định không mấy khá rồi) chuyên trị món ăn đặc sản ở cái xứ Quảng là mì Quảng, cao lâu... Đi thăm ngôi nhà cổ nhứt được làm bảo tàng viện văn hóa, thăm cầu Nhựt bổn, sự tích bên đông có hai con chó, bên tây có hai con khỉ làm bằng gỗ lợp mái ngói nay vẫn còn đó nhưng được tăng cường chân cầu phía dưới bằng các cây cột gạch xây làm mất vẻ thẩm mỹ của cây cầu xưa. Nơi đây xưa kia bên phía có hai con khỉ là ranh giới của khu buôn bán người Nhựt bổn, còn bên kia, bên hai con chó ngồi, là khu thương mại của người Minh hương (Tàu), cầu thì Nhựt làm theo kiểu mẫu xa xưa.

Sẵn trớn đi thăm các nơi sản xuất thủ công như lồng đèn giấy, lụa, nhà sản xuất tơ lụa Quảng nam, bến cảng xưa, các nơi làm thủ công mộc chuyên chạm trỗ, điêu khắc trên gỗ quí như cẩm lai, cẩm đỏ, gõ, thao lao, sến và cả mít nữa. Nay thành phố Hội an thay hình đổi dạng quá cỡ, nhứt là các ty sở năm xưa nay đã dành cho các tài phiệt khai thác khách sạn và nhà hàng hay các dinh thự cho các tư bản đỏ giàu có. Các khu ty như Tòa Hành chánh tỉnh Quảng nam và Ty Công chánh nay là cái khách sạn Tourane chần dần bề thế hết biết, có tên là Saigon Tourane Hotel. Ở đây được tham dự buổi nghe hát "bài chòi" chánh hiệu Quảng nam. Tuy đã đi công tác nhiều năm tháng ở vùng này nhưng nay nghe cũng khó hiểu họ hát cái gì... họ ca họ hò cái chi... Tuyệt đối khu phố cổ ngày nay là cấm xe 4 bánh, chỉ cho lưu hành xe 2 và 3 bánh như xích lô thôi, nếu có thấy xe "ô tô con" chạy vào thì đó là xe của các cấp lãnh đạo hay chức sắc... Rời Hội an trở về Đà nẵng để tiếp tục thăm viếng Ngũ hành sơn, xem qua các nghệ nhân tạc tượng trên đá hoa cương của Ngũ hành sơn, viếng bãi Non nước nơi Sơn trà, và đến tối ăn cơm trên nhà hàng nổi của sông Hàn. Về lại khách sạn Đà nẵng nghỉ qua đêm, chấm dứt cuộc hành trình du ngoạn từ Bắc vào Trung, lên máy bay vào Sài gòn ăn Tết Quí Mùi 2003 cùng gia đình và bè bạn.

Tuy gọi là một chuyến về quê ăn Tết Quí Mùi, nhưng lại phải lợi dụng một chuyến du lịch dài đó đây, thiết nghĩ cũng đáng công đáng sức và nhứt là đáng đồng tiền tiết kiệm để được một chuyến đi đầy thú vị và hữu ích cho kiến thức hạn hẹp của người tham dự. Nói đến du ngoạn mà diễn tả trên trang giấy thì không làm sao chi tiết được mọi cảnh vật sinh hoạt mắt thấy tai nghe, không làm sao nói hết biết bao cảm nghĩ và cảm nhận khi đã được tiếp xúc trực tiếp với mọi quang cảnh và nhân sinh của từng nơi đã đến, chúng tôi chỉ biết nói lên những gì còn lưu giữ trong ký ức hạn hẹp của mình, đầu óc nay không còn trong sáng, nhớ dai nhớ dài như "ngày xưa còn bé" nữa, để cho các bạn và gia đình thân hữu đọc để giải khuây hay xem qua rồi bỏ để cho biết mình đã thấy và nghe những gì trong chuyến viễn du bất đắc dĩ nhưng có đầy tâm ý vừa qua.

Trần Trung Tính


 


Thơ Ba Rọi (Trích Liên mạng - Không biết tác giả)

LONG dài, SHORT ngắn, TALL cao

HERE đây, THERE đó, WHICH nào, WHERE đâu

SENTENCE có nghĩa là câu

LESSON bài học, RAINBOW cầu vồng

HUSBAND là đức ông chồng

DADDY cha bố, PLEASE DON'T xin đừng

DARLING tiếng gọi em cưng

MERRY vui thích cái sừng là HORN

Rách rồi xài đỡ chữ TORN

TO SING là hát A SONG một bài

Nói sai sự thật TO LIE

GO đi, COME đến, một vài là SOME

Đứng STAND, LOOK ngó, LIE nằm

FIVE năm, FOUR bốn, HOLD cầm, PLAY chơi

ONE LIFE là một cuộc đời

HAPPY sung sướng, LAUGH cười, CRY kêu

LOVER đích thực người yêu

CHARMING duyên dáng, mỹ miều GRACEFUL

Mặt trăng là chữ THE MOON

WORLD là thế giới, sớm SOON, LAKE hồ

Dao KNIFE, SPOON muỗng, cuốc HOE

Đêm NIGHT, DARK tối, khổng lồ là GIANT

GAY vui, DIE chết, NEAR gần

SORRY xin lỗi, DULL đần, WISE khôn

BURY có nghĩa là chôn

OUR SOULS tạm dịch linh hồn chúng ta

Xe hơi du lịch là CAR

SIR ngài, LORD đức, thưa bà MADAM

THOUSAND là đúng mười trăm

Ngày DAY, tuầ n WEEK, YEAR năm, HOUR giờ

WAIT THERE đứng đó đợi chờ

NIGHTMARE ác mộng, DREAM mơ, PRAY cầu

Trừ ra EXCEPT, DEEP sâu

DAUGHTER con gái, BRIDGE cầu, POND ao

ENTER tạm dịch di vào

Thêm FOR tham dự lẽ nào lại sai

SHOULDER cứ dịch là vai

WRITER văn sĩ, cái đài RADIO

A BOWL là một cái tô

Chữ TEAR nước mắt, TOMB mồ MISS cô

May khâu dùng tạm chữ SEW

Kẻ thù địch đại là FOE chẳng lầm

SHELTER tạm dịch là hầm

Chữ SHOUT la hét, nói thầm WHISPER

WHAT TIME là hỏi mấy giờ

CLEAR trong, CLEAN sạch, mờ mờ là DIM

Gặp ông ta dịch SEE HIM

SWIM bơi, WADE lội, DROWN chìm chết trôi

MOUNTAIN là núi, HILL đồi

VALLEY thung lũng, cây sồi OAK TREE

Tiền xin đóng học SCHOOL FEE

Cho tôi dùng chữ GIVE ME chẳng lầm

TO STEAL tạm dịch cầm nhầm

Tẩy chay BOYCOTT, gia cầm POULTRY

CATTLE gia súc, ong BEE

SOMETHING TO EAT chút gì để ăn

LIP môi, TONGUE lưỡi, TEETH răng

EXAM thi cử, cái bằng LICENSE.