Tạp Ghi ... Hai Hát

 


Tạp ghi lan man của Hai Hát

Thơ Hè

Nếu ta đi tìm những bài thơ về mùa thu hay xuân thì nhiều lắm, còn thơ về mùa hè thì thật hiếm hoi. Cái gì hiếm thì quý. Nói về mùa hè giữa mùa đông thì lại càng hiếm hơn, nghĩa là lại càng quý hơn phải không các bạn? Chẳng khác gì chúng ta đang ăn quả trái mùa.

Trước hết, để biết về cái nóng mùa hè xứ Bắc thế nào, ta hãy nghe cụ Nguyễn Khuyến viết về nó :

Cái nóng nung người, nóng nóng ghê...

Nóng như nung thì đủ biết nó nóng như thế nào. Người ta nung gạch ý mà! Chỉ một câu ngắn ngủi ấy, nó đủ hàm chứa cái nóng mùa hè miền Bắc ra sao. Bên cái nóng như nung, ta còn có biết bao nhiêu hình ảnh của hè qua những buổi trưa nắng cháy, buổi chiều tà hay đêm trăng sáng. Mỗi thời điểm đều mang nét đặc thù riêng của nó. Cái đáng nói nhất vẫn là cảnh sinh hoạt ở thôn quê. Thôn quê luôn là nguồn cảm hứng của thi nhân.

Khi nói đến hè thôn quê miền Bắc là người ta hình dung ngay ra cái cổng làng với cây đa, những con trâu nằm nhai cỏ lười biếng, những cô thôn nữ dừng chân bên lũy tre lặng gió phe phẩy chiếc nón lá, tiếng võng đưa kẽo kẹt, tiếng gà gáy trưa... hình bóng chiếc diều đứng gió giữa trời xanh, bà hàng thiu thiu ngủ... Đấy là những hình ảnh rất quen thuộc mà bất cứ người dân quê miền Bắc nào cũng thấy và sống trong đó. Thi sĩ Bàng Bá Lân (BBL) đã góp nhặt tất cả những hình ảnh ấy vào một bài thơ như bức họa “trưa hè“ nơi đồng quê dưới đây.

Chúng ta hãy nghe và rung động với những dòng thơ chân quê mộc mạc nhưng đượm tình quê hương này nhé:

Dưới gốc đa già, trong vũng bóng

Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai

Ve ve rung cánh ruồi say nắng,

Gà gáy trong thôn những tiếng dài

Trời lơ cao vút không buông gió,

Đồng cỏ cào phô cảnh lượt hồng.

Êm đềm sóng lụa trôi trên lúa,

Nhạc ngựa đường xa rắc tiếng đồng

Quán cũ nằm lười trong sóng nắng,

Bà hàng thưa khách ngả thiu thiu,

Nghe mồ hôi chảy dầm như tắm...

Đứng lặng trong mây một cánh diều

Cành thưa, nắng tưới, chim không đứng,

Quả chín bâng khuâng rụng trước hè

Vài cô về chợ buông quang thúng

Sửa lại vành khăn dưới bóng tre

Thời gian dừng buớc trên đồng vắng,

Lá ngập ngừng sa nhẹ lướt ao

Như mơ dường khói lên trời nắng,

Trường học làng kia tiếng trống vào. (BBL)

Đọc bài thơ này ta thấy ngay được cái cảnh trưa hè ở thôn quê miền Bắc. Có một điều lời thơ nhẹ nhàng quá, êm ả quá, người đọc chỉ thấy cái yên tĩnh của trưa hè mà không thấy được cái nóng sôi sục đến gà thôi gáy, chó biếng sủa của nó. Mặc dù cụ BBL vẫn dùng những tiếng của “nóng” nhưng sao tôi vẫn không thấy nóng. Cụ tả :

Ve ve rung cánh ruồi say nắng

Nhưng bên cạnh đó:

Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai

Ta thấy trâu nằm mát ngẫm nghĩ nhai thì đâu còn thấy nóng gì nữa nhỉ? Rồi những câu thơ như :

Êm đềm sóng lụa trôi trên lúa

Nhạc ngựa đường xa rắc tiếng đồng.

Ta lại thấy man mát là đằng khác vì gió đã làm lúa tạo nên sóng lúa thì mát quá rồi. Lại thêm ngựa chạy trong nắng để rắc tiếng đồng thì nóng ở chỗ nào mới được chứ! “Rắc” thì thảnh thơi quá, nhàn tản quá. Cứ như đi tản bộ vậỵ

Trong bài này, nhà thơ BBL dùng một vài chữ thật tài tình, tôi hết sức thán phục như :

Bà hàng thưa khách NGẢ thiu thiu

NGHE mồ hôi chảy dầm như tắm...

ĐỨNG lặng trong mây một cánh diều.

Cái hay của nhà thơ là chỉ cho bà hàng NGẢ thiu thiu thôi chứ không được NGỦ thiu thiu. Chính chỉ NGẢ thiu thiu nên mới NGHE được tiếng mồ hôi chảy. Nhà thơ dùng chữ NGHE thật tuyệt làm sao. Không gian im lặng đến nghe được mồ hôi chảy thì im lặng quá. Nhìn mồ hôi chảy thì có gì là yên tĩnh, NGHE được mồ hôi chảy thì thật yên lặng đến tuyệt đối. Thêm vào đó, hình ảnh chiếc diều nhà thơ đưa vào đoạn này đã làm cái yên lặng lại càng trở nên yên lặng hơn về mặt hình ảnh :

Đứng lặng trong mây một cánh diều.

Chưa hết, nhà thơ còn dùng âm thanh nữa, làm cho bức tranh quê của nhà thơ sinh động thêm lên, không cứng nhắc, không im lìm chết cứng. Cụ BBL đã điểm vào cái yên tĩnh đó tiếng trống trường.

Trường học làng kia tiếng trống vào.

Có những âm thanh làm phá tan cái yên tĩnh, nhưng cũng có những âm thanh nếu ta khéo sử dụng sẽ làm tăng thêm cái yên tĩnh ấy lên như tiếng võng đưa, tiếng ru con rời rạc hay tiếng gà gáy trong thôn... chẳng hạn.

Ta thấy thơ cụ BBL nặng về cảnh hơn về tình. Cụ nhìn cảnh chung quanh cụ mà vẽ nên bức tranh như người chụp ảnh, có sao ghi vậy. Thỉnh thoảng cụ điểm thêm tí màu sắc, tí âm thanh mà thôi. Nhìn chung, bức tranh cụ vẽ có tính cổ điển, thiếu sáng tạo, nhưng rõ ràng đây là một bức tranh tuyệt đẹp.

Nếu bài thơ của cụ có thêm hình ảnh và âm thanh của chiếc võng đưa thì ta có thể đưa vào cái yên tĩnh này gợn lên một chút ĐỘNG của TÌNH. Ta có thể điểm vào bức tranh hè kia hình ảnh đầy khêu gợi nhưng chân phương của một cô thôn nữ nằm đưa võng để lộ những phần da thịt trắng nuột nà nửa kín nửa hở của đôi chân mỗi khi cô dang chân rộng một cách hớ hênh để đu đưa chiếc võng nhanh hơn. Những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, những sợi tóc mây dính trên da mặt ửng hồng vì nóng. Hơi thở phập phồng căng tràn nhựa sống dưới lớp yếm hồng, vô tình không che hết bụng. Những tiếng võng đua như làm tăng thêm cái không gian yên tĩnh và như dể mặc chàng trai đa tình đang lén lút nhìn trộm cô thôn nữ ngủ trưa. Trong cái trưa hè oi ả đó, chỉ một chút hình ảnh đó, ta có thể thấy cái “động” trong lòng người trai trẻ và gắn cho cảnh vật ấy thêm một chút TÌNH.

Tiện đây, để làm bớt cái nóng oi ả của trưa hè, ta hãy cùng nhau nói một tý về CÁI VÕNG nhé. Hãy nghỉ ở đây để hứng chút gió của đồng nội hay phe phẩy chiếc quạt mo rồi làm một hơi điếu cầy trước khi ta tiếp tục hành trình vào khung trời nóng bỏng của mùa hè. Nói đến chiếc võng, là nói đến hình ảnh đặc trưng của quê hương ta. Nếu ta chỉ nói đến cô thôn nữ nằm trên võng đu đưa trong buổi trưa hè thì quả thật không đủ . Ta hãy nhìn thêm hình ảnh của bà mẹ ru con hay bà ru cháu.

Nhân đọc bài thơ của cụ BBL về cái võng tôi cũng xin mượn tạm vài ý của cụ sau đây:

Cái võng là cái nôi của trẻ sơ sinh, là cái đu của trẻ nhỏ, là cái giường của người lớn ngả lưng, là nơi phát xuất ra những tiếng ru con của tình mẫu tử. Nó cũng là chứng nhân của những vui buồn, chia ly, đoàn tụ. Nhưng cái độc đáo nhất của võng vẫn là những bài ru con đã gắn liền với nó như bóng với hình. Tiếng võng không thể thiếu ca dao, ru con... Và ngược lại những lời ru con trong dân gian không thể vắng bóng của những tiếng võng đưa.

Ta say sưa

Nghe tiếng võng đưa

Ru hồn mơ

Trong lời thơ

Dân tộc

Mơ màng lắng nghe tiếng khóc,

Của thời măng sữa xa xôi

Àø ơi... Ạ à ời...

Cót ca cót két

Muôn đời

Nhịp thơ...

Tiếng võng đưa

Cót ca cót két

Trưa hè nóng khét

Bà ru cháu say sưa...

Tiếng võng đưa

Cót ca cót két

Mẹ đi biền biệt

Chị ru em ời ời...

Tiếng võng đưa

Cót ca cót két

Đêm dài mưa rét

Mẹ ru con mơ màng...

Dân tộc Viet Nam

Lớn trong tiếng võng,

Dân tộc Việt Nam

Già trong lời ru

Êm đềm theo tiếng võng đưa

Nhịp thơ dân tộc

Của thời măng sữa xa xôi. (BBL)

Bài thơ Tiếng Võng Đưa không dừng ở đấy mà đưa ta về với những lời ca ru con ngọt ngào của ngưới dân quê 3 miền. Ngay ở thành thị cũng không vắng tiếng ầu ơ vang lên trong xóm, nhưng nó không làm ta xúc động bằng những tiếng ầu ơ ở miền quê thôn dã. Theo cụ BBL, mỗi địa phương có những điệu ru con riêng của nó, và điệu nào cũng trầm buồn, cùng gởi gấm tâm sự của người ru vào những lời ca tiếng hát của điệu ru con.

À ời... cái ngủ mày ngủ cho lâu

Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

Bắt được con cá rô trê

Nắm cổ lôi về cho cái ngủ ăn...

Lòng như dâng cao niềm cảm xúc với những điệu ru miền Bắc. Ta lại được tiếp nối niềm cảm xúc ấy bay xa tới một thôn xóm xa xôi miền Nam trù phú, ruộng đồng thẳng cánh cò bay :

Ầu ơ... gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay!

Những lời ru con không phải chỉ để đưa đứa bé vào giấc ngủ, mà người ru còn gửi vào mây vào gió, vào những oi ả của trưa hè, vào ánh trăng khuya hay đêm đông lạnh lẽo những lời tâm sự của lòng mình.

Anh đi đằng ấy xa xa

Để em ôm bóng trăng tà năm canh,

Nước non nặng một lời tình,

Nhớ ai, ai có nhớ mình hay không? (BBL)

Tiếng hát lời ru như quyện vào với võng, vào hồn người từ thuở lọt lòng, và cũng lớn lên trong tiếng võng đưa. Ai đó, khi phải xa quê hương, khi nghe lại tiếng võng đưa với lời ru êm dịu ngọt ngào từ thôn vắng thì hình ảnh người đàn bà VN đảm đang được hiện ra rõ nét.

Và cũng buồn thay, chàng trai nào đó đi xa, nay trở lại nơi xưa với bao ước vọng được người yêu đáp lại những câu thề non hẹn biển trước lúc ra đi, thì nay hoàn cảnh đã đổi thay, nàng đang nằm ru con với tiếng võng ngày nào.

Bước chân vào ngõ tre làng,

Lòng buồn nặng trĩu nghe nàng ru con,

Bước lên thềm đá rêu mòn

Lòng buồn nặng trĩu nghe buồn võng đưa. (BBL)

Thôi nhé, ta hay tạm ngừng ở đây. Đoạn thơ này buồn quá. Mong các bạn đọc đoạn này xong sẽ thấy yêu cái tiếng võng đưa kẽo kẹt, yêu nó như yêu âm thanh tiếng Việt, yêu tiếng mẹ ru êm đềm, và yêu nhà thơ BBL hơn.

Các bạn đã rời khỏi chiếc võng chưa? Thôi ta lại lên đường nhé!

Sau cụ BBL, ta lại thưởng thức thêm cái hè óng ả của làng quê qua nữ sĩ Anh Thơ. Làng của nữ sĩ Anh Thơ cũng ở miền Bắc nước ta. Nhà thơ Anh Thơ cũng không thoát ra được những hình ảnh có tính biểu tượng của trưa hè như cụ BBL. Cũng bà già nằm đưa cháu ngủ, với tiếng võng đu đưa, với hình ảnh con ruồi, con chuồn chuồn, những đường đê vắng bóng người cùng những tiếng nhạc đồng quê...

Chúng ta cùng lắng nhìn và cùng lắng nghe bức tranh trưa hè của thi sĩ Anh Thơ nhé. Ta hãy so sánh bức tranh này với bức tranh của cụ BBL xem sao.

Trời trong biếc không qua mây gợn trắng

Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa.

Hoa lựu nở đầy một vuờn đỏ nắng,

Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua.

Trong thôn vắng, tiếng gà xao xác gáy,

Các bà già đưa võng hát, thiu thiu...

Những trẻ con ngồi buồn lê bắt chấy

Bên đàn ruồi rạc nắng hết hơi kêu.

Ngoài đê thẳm, không người đi vắng vẻ,

Lũ chuồn chuồn giỡn nắng đuổi nhau bay.

Nhưng thỉnh thoảng tiếng nhạc đồng buồn tẻ

Của vài người cưỡi ngựa đến xua ngay.

Cả hai bài thơ về trưa hè đều hay như nhau. Những hình ảnh, màu sắc giống nhau. Thơ BBL ta thấy có những độc đáo về cách cụ làm nổi bật lên được cái yên tĩnh của trưa hè. Yên tĩnh mà không buồn chán bởi những tiếng diều, tiếng đồng rời rạc... , và tiếng trống trường. Tiếng trống trường, một nét chấm phá cuối cùng để đưa người thưởng ngoạn, hoặc đi sâu thêm vào cái yên tĩnh tuyệt đối hay ngược lại cũng là tiếng đánh thức người xem ra khỏi cái yên tĩnh đó. Nhà thơ Anh Thơ cũng thế, với tiếng người cưỡi ngựa để đem ta ra khỏi cái lung linh huyền ảo của bức tranh quê trong buổi trưa hè.

Nay tôi lại giới thiệu với các bạn một nhà thơ khác: Trần Trung Phương (TTP). Nhà thơ này tôi mê từ thuở học trò (tiểu học). Tôi đã từng chép thơ ông và tôi cố thuộc thơ ông. Chúng ta hãy đi vào buổi trưa hè của nhà thơ này nhé :

Trưa mùa hạ nắng gay nắng gắt

Vạc than hồng đang bắt lửa rơi

Hàng cây đứng lặng căm trời

Giàn hoa cũng chẳng muốn cười buổi trưa

Gió ích kỷ không đùa với lá,

Mây chẳng buồn giong dả đi chơi.

Đường xa vắng ngắt bóng người;

Ve sầu bực bội cất lời thở than.

Trên cát trắng hoa soan chói đỏ,

Mặt hồ xanh ngóng gió nằm im.

Ngang trời không một bóng chim,

Trưa hè vạn vật im lìm ngủ say

Cái hay của TTP là ta thấy nhà thơ đã “nhân cách hóa“ cảnh vật nên ta thấy cảnh vật như chính là ta. Ta và cảnh vật hòa nhịp trong nhau. Ta cùng nóng với vạc than hồng, ta uể oải cùng mây đến chẳng buồn bay, ta căm trời cùng với hàng cây, ta bực bội cùng với ve sầu... Đọc thơ TTP ta thấy trong thơ ông có cái tình cảm của ông chứ không chỉ đơn thuần chụp ảnh hay chỉ vẽ lên một bức tranh như hai cụ BBL và Anh Thơ.

Ta thấy bức tranh của ông hiển hiện bóng dáng chúng ta trong đó. Cảm xúc của tác giả cũng là những cảm xúc của chính ta. Cái yên lặng ông tả cũng có những chất liệu cổ điển nhưng nó sống động hơn nhiều vì nó gần với ta như ta có thể rờ mó được cái yên tĩnh ấy. Tôi thích thơ TTP từ thuở nhỏ vì cái tính giản dị và trong sáng trong thơ ông. Tôi sẽ cùng các bạn trở lại nhiều lần nữa với nhà thơ này. Các bạn sẽ yêu thich ông ấy như yêu cái tuổI thơ ngày nào.

Ta lại nghe nhà thơ TTP diễn tả trưa hè dưới một khía cạnh khác nhé :

Mặt trời đứng giữa mây xanh

Rắc tàn hoa đỏ xuống cành hoa soan.

Ve sầu khiếp nắng kêu ran...

Con chim ngái ngủ vội vàng bay cao.

Bóng dừa chốn dưới cầu ao,

Con gà xõa cánh ẩn vào bụi tre.

Trưa nay, một buổi trưa hè,

Cánh đồng luá chín vàng hoe nắng vàng.

Các bạn có thấy cái hay của thơ TTP không? Bất cứ vật gì, dù cho là thời gian hay không gian trừu tượng Ông cũng gắn vào đó một “chất người“.

Các bạn có muốn tiếp tục rong chơi nơi đất Bắc để thưởng thức mùa hè của nơi đây hay không? Hay các bạn muốn đổi không khí bằng cách ta đáp chuyến xe lửa tốc hành vào Huế để ngắm nhìn thành phố này dưới cái nắng gắt gao như thế nào. Miền Nam mưa nắng hai mùa, lạnh không lạnh quá, nóng không nóng ghê nên ta hãy đến thăm miền đất hiền hòa đó sau vậy.

Nay chúng ta hãy dừng chân trên thành phố Huế để ngắm nhìn cái sinh hoạt hè của nơi đây nhé. Huế có muôn vàn thứ để xem, để chiêm ngưỡng, nhưng chúng ta hãy cùng giới hạn trong cái cảnh HÈ thôi. Ta hãy đi theo nhà thơ Nam Trân :

Lửa hạ bừng bừng cháy,

Làn mây trốt trốt bay.

Tiếng ve rè rè mãi

Đánh đổ giấc ngủ ngày.

Đường sa it người đi,

Bụi cây lắm kẻ núp,

Xơ xác quán nước chè,

Ra, vào người tấp nập.

Phe phẩy chiếc quạt tre

Chú nài ngồi đầu voi

Thỉnh thoảng giơ tay bẻ

Năm ba chùm nhãn còi.

Huê phượng như giọt huyết,

Dỏ xuống phủ lề đường,

Mặt trời gay gay đỏ

Nhuộm đỏ góc sông Hương.

Hay thì hay thật, nhưng vẫn chưa thấy đủ nóng bằng chỉ mấy chữ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến :

Cái nóng nung người, nóng nóng ghê.

Ta hãy cùng nhà thơ Nam Trân hưởng cái thú “Trăng hè” của đất thần kinh cổ kính này.

Trời nóng băm bốn độ.

Đèn sao khắp đế đô,

Mặt trăng vàng trỏn trẻn

Nấp sau nhánh phượng khô.

Ba dịp cầu Trường Tiền

Đứng đầy người hứng mát

Ngọn gió Thuận An lên,

Áo quần kêu sột soạt.

Đủng đỉnh chiếc thuyền nan

Qua, lại bến sông Hương...

Tiếng đờn chen tiếng hát,

Thánh thót điệu Nam Bường

Hai tay xách hai vịm,

Một vài mụ le te,

Tiếng non rao lảnh lói,

Chốc chốc: ”ai ăn chè”.

Thôi ta tạm dừng ở đây, không nói về Huế nữa, có dịp ta sẽ có bài riêng về Huế. Huế thơ mộng, Huế làm ngẩn ngơ những chàng học trò xứ Quảng ra thi. Ta không thể rời bỏ Huế nhanh như thế. Ta sẽ dành cho Huế một cái gì đặc biệt hơn. Ta tạm xuôi tí về phía nam để nghe nhà thơ Chế Lan Viên (CLV) nói về cái trưa hè nơi ông ở, Bình định.

Trưa quanh vườn và võng gió an lành

Ngang phòng trưa, rũ hồn nhẹ cây xanh,

Trưa quanh gốc, và mộng hiền của bóng

Bỗng run theo... lá... run theo nhịp võng

Trưa lên trờị và xanh thẳm bầu trời,

Bỗng mê ly, nằm thấy, trắng, mây trôi...

Trưa! một ít trưa lạc vào lăng tẩm

Nhập làm hồn những tượng xưa u thảm.

Trưa, theo tàu bước xuống những sân ga

Dựng buồn lên xa gửi đến Muôn Xa....

Nhà thơ CLV chắc là có nhiều tình cảm với dân tộc Chiêm thành nên trong thơ ông luôn có cái u uẩn của một người mất nước. Ông tiếc thương và luôn tha thiết với hình bóng quê hương cũ đã có một thời oanh liệt.

Cũng như bức tranh trưa hè. Đêm hè cũng có những sinh hoạt quen thuộc ở thôn quê. Khi nói đến đêm hè thì phải có ánh trăng khuya. Dưới ánh trăng, những cụ già ngồi trên chõng giữa sân, vài đứa bé đùa nghịch quanh ông, vài con chó thơ thẩn hay lười biếng nằm thiu thiu ngủ trước sân thềm, hay ngọn đèn dầu leo lắt trong gian nhà tối...

Tại nhà ngang chàng và nàng cùng giã gạo và thỉnh thoảng vang nhẹ, lẫn trong tiếng giã đều đều, những tiếng cười rúc rích nửa thanh cao nửa trần tục. Ngoài ngõ giếng, những cặp trai gái ra giếng làng ở đầu đình múc nước gánh về. Nơi giếng ấy đã nẩy sinh biết bao nhiêu mối tình thầm kín, bao nhiêu thành tựu, cũng bao nhiêu tan vỡ.

Vài tiếng vạc xa xa vọng về. Thỉnh thoảng trên trời điểm vài ngôi sao rơi. Đàn đom đóm lập lòe, chập chờn bay lượn bên khóm cỏ, bờ ao. Trong cảnh yên tĩnh và nên thơ ấy, cách giếng không xa lắm, có ai để ý đến một cặp trai gái, đang đứng bên nhau, dưới lũy tre màu đen sẫm? Họ đứng sát lại mỗi lúc một gần thêm, để rồi có hai mà tưởng như thành một. Tiếng họ thì thầm nhẹ hơn lá tre đang rụng. Cảnh vật chung quanh vắng lặng như tờ. Theo cơn gió nhẹ, chị Hằng trên cao, tò mò vén bức màn tre, chiếu tý ánh sáng vào nhìn trộm hai người. Chị vội vàng khép lại, đôi má ửng hồng.

Không gian như ngừng thở. Gió vẫn rì rào, trăng vẫn thảnh thơi. Chị Hằng dường như còn đang lúng túng với hình ảnh vừa thấy, quên vẩy chút ánh sáng xuống con đường làng ngoằn ngoèo uốn khúc. Chị còn nghe vẳng vẳng bên tai :

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi... (Hàn Mạc Tử)

Chỉ thốt lên được vài câu như thế, tiếng người thôn nữ dường như tắt lịm trong đêm. Những cảnh hẹn hò thầm kín này xẩy ra đây đó trong xóm làng VN từ cái thuở người thôn nữ còn mặc váy sồi đen, với sợi thắt lưng điều, yếm hồng với nón quai thao, sợi dây “tích bạc“ dắt cạp váy lủng lẳng bên hông. Có phải đấy cũng là hình ảnh đặc trưng của thôn quê ta vào những đêm trăng, nhất là vào những ngày mùa gặt hái không nhỉ?

Ta hãy trở lại với đám đông, với tiếng cười đùa của các chị em gánh nước về nhà. Trên đường, theo sau là những chàng trai đưa lời ong bướm. Những câu ca dao, câu vè, hay câu đố được đem ra tranh tài cao thấp. Tiếng cười có khi ròn tan, có khi nũng nịu trữ tình. Vài con trâu trở về chuồng muộn. Theo sau trâu, bác nông phu đeo cầy, thủng thỉnh ghé giếng rửa chân. Con nghé nghển cổ nhìn sao lấp lánh. Thỉnh thoảng đâu đó, tiếng chó sủa trăng vang trong xóm tối. Vài con chim ăn đêm buông những tiếng kêu rời rạc.

Ta hãy thưởng thức những vần thơ của thi sĩ Đoàn Văn Cừ :

Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,

Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ.

Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,

Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.

Ông lão nằm chơi ở giữa sân,

Tầu cau lấp loáng ánh trăng ngần,

Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,

Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân

Bên giếng, dăm cô gái xứ quê

Từng đàn vui vẻ rủ nhau về,

Trên vai nặng trĩu đôi thùng nước,

Kĩu kịt đi vào lối cổng tre.

Trong xóm giờ lâu quá nửa đêm,

Tiếng chày giã gạo đã ngừng im,

Trăng tà hạ xuống ngang đầu núi,

Đom đóm bay qua giải nước đen.

Tiếng ốc trên chòi rúc thiết tha,

Gió lay cót két rặng tre già,

Sao trời từng chiếc rơi thành lệ,

Sương khói bên đồng ủ bóng mơ.

Đất nước ta đẹp đẽ quá, đẹp từ góc phố, đẹp từ góc làng. Đất nước chúng ta như gấm như hoa. Con người chúng ta lớn lên trong tình nhân bản, lấy con người làm gốc. Đất nước chúng ta dù có khó khăn đến đâu, với những con người ấy, với mảnh đất linh thiêng ấy, chúng ta sẽ có thanh bình như những đêm hè và sẽ tồn tại, bền vững như bước chân dựng nước và giữ nước của tiền nhân. Chúng ta vẫn mong ngày ấy sớm trở về trên quê hương chúng ta.

Ta xoay qua một vài hình ảnh khác của mùa hè nhé.

Nói đến hè, hình ảnh mà ta dễ tìm thấy nhất vẫn là những ngày thần tiên của tuổi học trò: Nghỉ hè. Trong chúng ta, hỏi ai không thích nghỉ hè. Học trò nhỏ cũng thích, học trò lớn cũng thích. Người lớn như chúng ta cũng thích (chỉ trừ “nghỉ việc” (lay off)).

Ba tháng nghỉ hè, đối với học trò, đây mới thật là mùa xuân. Ta hãy trở lại với mái truờng xưa trong những ngày sắp nghỉ hè. Bạn bè đưa nhau vội vã những cuốn “lưu niệm” để ghi lên đó những kỷ niệm, những nhớ nhung quyến luyến. Những cánh hoa phượng được gài vào cuốn sổ, những tấm hình trao nhau vội vã, với những giòng chữ thân thương “Đừng quên nhau nhé“ và cùng hẹn gặp lại nhau trong niên học tới. Những bức thư tình cũng được trao nhau ngập ngừng. Mối tình đã được ôm ấp trong bao tháng, nay đã đến lúc phải ngỏ lời. Can đảm lên, đôi khi dù chỉ “một lần cuối, một lần cuối cùng rồi thôi ...” như tiếng nhạc lòng của Vũ Thành An.

Ta hãy nghe nhà thơ Xuân Tâm diễn tả sự vui mừng của ông đến chừng nào khi biết ngày học hôm nay là ngày cuối cùng của niên học để bước vào thời gian nghỉ ngơi, đùa nghịch.

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,

Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.

Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,

Ôi tất cả mùa xuân trong muà hạ.

Còn cái gì sung sướng cho bằng khi những cậu học trò làng lên tỉnh học, nay được về sống với cha mẹ, anh em thân thương. Về với ruộng đồng, về với những cảnh vật cùng những sinh hoạt thôn quê mà chàng trai đã phải tạm xa. Với những con sông uốn khúc quanh làng, chàng trai sẽ cùng chúng bạn bơi lội, nô đùa. Chàng sẽ tha hồ hưởng những hương vị của cây trái. Những chùm nhãn vàng óng ả như mời chào, quả mít chín tỏa hương thơm quyến rũ, chùm khế ngọt đong đưa, mấy trái ổi chín... như đợi chàng nếm thử. Cô hàng xóm nho nhỏ ngày nào nay vừa chớm lớn, bắt chàng trèo lên cây muỗm đầu ngõ hái quả để cô em ăn với muối ớt, nhăn mặt vì chua. Và để rồi những mối tình thầm kín phát sinh, tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

Trong khoảnh khắc sách, bài là giấy cũ,

Nhớ làm chi, Thầy mẹ đợi em trông.

Trên đường làng huyết phượng nở thành bông,

Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.

Nhà thơ Trần Trung Phương vui chơi với mùa nghỉ hè của ông :

Năm năm đến vụ hè

Về đón gió đồng quê,

Chiều chiều ra ao tắm

Tối thả diều trên đê

Sáng dậy ra bờ ao

Xem gió rỡn nắng đào,

Nghe gió đồng khẽ thổi

Tàu lá chuối lao xao

Nhớ những buổi đi câu,

Anh nắng dài bên cầu;

In đáy hồ trong vắt

Bóng cây si gội râu

Có những buổi chiều vàng,

Một mình đi lang thang,

Mơ màng nghe tiếng hát

Trẻ chăn trâu trong làng

Có những hôm mưa to,

Xem lá tre thả đò;

Ngồi trên dòng nước đỏ

Tôi làm bao nhiêu thơ

Năm nay lại nghỉ hè

Nghe tiếng gọi đồng quê

Bao cảnh trời tươi đẹp

Quyện hồn tôi say sưa.

Không phải mùa hè đều đẹp cho tất cả mọi người. Mùa hè cũng còn là những buổi chia tay bịn rịn, nhớ thương, đôi người cách biệt dù chỉ trong ba tháng. Những cánh thư hồng, thư xanh mực tím gửi đến nhau phất phới.

Trong những cánh thư này người ta thổ lộ tâm tình và cũng lẫn những lời xin lỗi khi sắp sửa chia tay:

Hôm nọ em biếng học

Khiến cho anh bất bình,

Khẽ đánh em cái thước

Vào bàn tay xinh xinh...

Giận anh em ủ rũ

Từ hôm đó mà đi,

Anh hỏi em không đáp

Anh cười em ngoảnh đi... (Nguyễn Xuân Huy)

Những bức thư như thế được chuyển đi. Và rồi, với những ngày vui trước mặt, lòng người cũng dễ thứ tha.

Hôm nay em đã cười

Nũng nịu đến “xin lỗi”

Được thể anh làm cao

“Sao em không giận mãi”

Nhưng hỡi ôi! mùa hè cũng là mùa thi cử. Thi ơi là thi, thương mi làm chi. Bao nhiêu tiếng cười đắc thắng, và cũng bên cạnh đó bao tiếng cười gượng gạo hòa trong nước mắt. Rong chơi mãi, rồi cũng chán, rồi lại nhớ trường, rồi nhớ bạn, nhớ thầy.

Mong mãi sao không chóng hết hè!

Nghỉ nhà chơi mãi cũng buồn ghê!

Sớm không thầy học, chiều không bạn

Không khí quanh tôi thở nặng nề!

Tôi muốn trông ngay thấy bóng trường

Và bao bạn học của tôi đương

Chuyện trò hớn hở vui chân bước,

Tiếng guốc khua vang khắp vỉa đường.

Tôi quên sao được lớp tôi ngồi,

Ánh sáng xiên vào một ít thôi

Có bóng cây bàng che mát rượi,

Trên cành ríu rít tiếng chim vui.

Tôi nhớ những ngày dưới bóng cây

Nô đùa cùng mấy bạn thơ ngây,

Đánh chuyền, ca hát, cười, reo, nhẩy

Hay đứng sân trường nhá bánh tây

Hôm nay chợt nhớ đến trường tôi

Thấm thoắt chơi rong một tháng rồi.

Còn tháng rưỡi hè, lâu quá nhỉ !

Ai quay trái đất gấp dùm tôi. (TTP)

Kỉ niệm rõ nhất của mùa hè vẫn là kỷ niệm của tuổi học trò. Mà tuổi học trò không phải chỉ biết đùa nghịch, mà còn là tuổi của mơ mộng, của những lý tưởng cao đẹp lấp biển vá trời, của những hình ảnh tương lai cao chất ngất. Và điều đáng nói nhất, ấy là tuổi của yêu đương, của chinh phục. Tuổi của buồn, của vui trước những mối tình thầm kín.

Thời gian thấm thoắt trôi mau. Nay tôi chưa già, nhưng không còn trẻ nữa (hưu non) để có những mơ mộng viển vông. Nghĩ lại thời xa xưa ấy thật buồn cười với những ngô nghê vụng dại, nhưng cũng thật dễ thương. Dù sao, đấy cũng là kỷ niệm đáng nhớ của một đời người. Tôi biết trân quý những kỷ niệm đó và ôm ấp nó như ôm ấp một người tình. Tôi đã từng âm thầm lê bước trong đêm khuya qua cửa "nhà tôi" (cô Hàng Xóm) và chỉ để mong được nhìn chút ánh đèn nơi nàng đang học leo lắt hắt ra qua khe cửa sổ. Giản dị thế thôi! Thế thôi, nhưng không thể thiếu cái ánh sáng ấy vào những đêm hè tôi không ngủ được vì nhớ nhung. Thời đó tôi đã có những lần ước mơ được nàng kề đầu vai tôi khẽ hát những bản tình ca quan họ “người ơi, người ở đừng về...”

Sống nơi quê người, hình ảnh quê hương vẫn là những hình ảnh sống động nhất và có một sức mạnh mãnh liệt nhất để cuốn hút ta vào, và cuốn ta về với tình tự quê hương. Một hình ảnh, một âm thanh hay một mầu sắc nào đó, đều có thể đem ta về kỉ niệm, nhất là kỉ niệm của thời thơ ấu hay kỉ niệm của quê hương.

 

Mưa (Thư gửi T1)

Anh T1 thân mến,

Mấy hôm nay San Jose mưa kéo dài đến mấy ngày. Ngoài trời mưa vẫn đổ, mây xám đen nặng trĩu vẫn đang vần vũ bay. Mưa nặng hạt dần.

Tôi ngồi một mình bâng khuâng nhìn qua cửa sổ. Hoa trắng trên cây mận đang rung rinh trong gió và run rẩy dưới những hạt mưa đang trút xuống. Vài cánh hoa như không thể níu được cành, buông mình rơi xuống đất, lẫn trong đám lá khô. Không hiểu tại sao, những cơn mưa làm lòng người trùng xuống đến như thế, trùng xuống hơn cả những ngày âm u của mùa thu, ngồi nhìn lá vàng rơi.

Ấy thế, mưa không phải chỉ là hình ảnh của ảm đạm u buồn đâu nhé, mà đôi khi mưa lại chính là cơ hội để mọi người nghĩ đến nhau, tìm đến nhau dù có khi chỉ trong thương nhớ mơ hồ như hình ảnh của "cô hàng xóm"â trong thơ Nguyễn Bính.

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn

Hai người sống giữa cô đơn

Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

Cách nhau có dậu mùng tơi

Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.

Tôi chiêm bao rất vội vàng

Có con bướm trắng thường sang bên này

Bướm ơi bướm hãy vào đây

Cho ta hỏi nhỏ câu này chút thôi

... Tầm tầm trời đổ cơn mưa,

Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm

... Cô đơn buồn lại thêm buồn

Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi...

Rồi trong nhưng câu thơ của Huy Cận như :

Đêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Anh thấy Huy Cận không nói đến nhớ người yêu nhưng Huy Cận nhớ đến không gian người yêu đang ở, ấy chính là Huy Cận đang nghĩ và nhớ đến người mình yêu vậy.

Tất nhiên, cái buồn, cái nhớ, cái thương đến từ mọi phía, không phải chỉ đến từ mưa. Như theo Xuân Diệu thì ông còn có những nỗi buồn chợt đến chỉ vì những thương nhớ vu vơ, chỉ vì trời nhẹ lên cao hay vì cái êm êm của một buổi chiều hay có khi không biết vì sao mình buồn nữa.

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

... Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,

Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn

Thế nhưng cái buồn do trời mưa đem tới thì thật rõ rệt và đôi khi thật là da diết chứ không chỉ "hiu hiu khẽ buồn" như trong thơ Xuân Diệu.

Anh có biết bản nhạc Phố Buồn của Phạm Duy không nhỉ? Bài này chắc được viết vào giữa thập niên 50 (1955 hay 56 gì đó). Bản nhạc này một thời được đón nhận một cách nồng nhiệt ở Sài gòn. Trong bài hát có những đoạn như :

Hạt mưa, mưa rơi tí tách, mưa yêu áo rách, yêu đôi sát nách, mưa ngưng không đành.

Hạt mưa, mưa như muốn trách sao ta chạy quanh?ø

Nhìn vào khe song, trông anh ốm yếu ho hen

Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm

Mưa vẫn rơi êm đềm và chỉ làm phố buồn thêm

Cách đây mấy chục năm tôi không được nghe ai hát lại bài này nên chẳng thuộc, chỉ nhớ lõm bõm vài câu mà biết chắc rằng không đúng thứ tự trước sau. Nhưng nhớ hay quên, đúng hay sai, cái âm hưởng của bài Phố Buồn vẫn làm tôi buồn lắm, buồn hơn bất cứ bài mưa nào.

Anh có kỉ niệm nào về mưa không? Một chuyện tình cờ dính líu tới mưa chẳng hạn? Ở VN anh có bao giờ ngồi nghe mưa rơi trong đêm vắng, hay anh ngồi nhìn mưa chạy trên mái nhà, hay ngắm bóng cây si trong sân trường phủ mờ trong nước để nghĩ đến người bạn gái yêu thương, mà bây giờ có thể anh đã quên tên... Anh có nghe những hạt mưa rơi lõm bõm rơi từ mái hiên nhà, hay tiếng "loong boong" trên chiếc chậu thau hứng nước hay tiếng rào rào trên mái tôn. Mưa không những chỉ buồn về cảnh vật mà buồn về cả cái âm thanh của nó nữa..

Với tôi ư? Tôi hẳn phải có kỉ niệm anh ạ. Lần đầu tiên tôi đến thăm "nhà tôi" khi chúng tôi vừa mới quen nhau, lại vào một buổi chiều mưa. Một sự tình cờ thú vị làm chúng tôi nhớ mãi, đó là khi tôi vừa bước chân vào nhà "nàng" thì trên đài phát thanh cho hát bài Em đến thăm anh một chiều mưa của Tô Vũ. Tôi chỉ cần đổi một tý từ "Em đến thăm anh" thành "Anh đến thăm em" là hợp cảnh rồi. Và cũng từ đó, những ngày kê tiếp "anh" đến thăm "em" để :

Quên niềm cay đắng và quên đường về.

(Vờ cay đắng thôi, còn quên đường về thì đôi khi có thật).

Có những hôm, tôi phải trú mưa đứng đợi người yêu tại một mái hiên nào đó. Khi tới, nàng run rẩy vì ướt, chiếc tay giá lạnh đan quấn vào nhau. Lúc đó tôi nắm tay nàng để truyền cho nàng một chút hơi ấm và như muốn gửi đến nàng tất cả tình yêu nồng cháy của mình. Cái nắm tay rất nhẹ ấy, nó vừa thanh cao, vừa quyến luyến làm sao. Có tiếng YÊU nào mà ta có thể nói cho nhau nghe lại đằm thắm bằng một cái nắm tay siết nhẹ? Trong tình yêu, tiếng nói yêu đôi khi thật dư thừa.

Trong Nam có những cơn mưa đầu mùa rất lớn. Thuở học trò, tôi thích đạp xe đạp dưới những cơn mưa đó. Tôi ngửa mặt lên trời để hứng lấy những hạt mưa nặng hạt đến rát mặt. Nước mưa chảy thành dòng, chảy tỏa trong thân thể tôi. Cái mát ban đầu dần dần biến thành lành lạnh, rồi cái lành lạnh ấy, cứ thấm dần thấm dần vào da thịt mình, cho đến khi rùng mình, tôi mới biết mình đã lạnh lắm rồi.

Cũng có hôm tôi đứng trú mưa, không phải vì sợ mưa, mà vì trong hàng hiên ấy có bóng dáng cô học trò cùng lứa tuổi với mình. Đứng dưới hàng hiên cùng người "đẹp" thật là một niềm vui, dù chỉ là đứng chung trong một khoảng không gian nhỏ bé để cùng nhìn mưa rơi và nhìn bong bóng chạy. Tôi chẳng bao giờ dám làm quen dù rằng rất muốn. Khi người con gái ấy ra đi khi cơn mưa vừa tạnh, lúc đó tôi thấy như có cái gì bâng khuâng, mất mát. Nếu cô ấy ngoảnh nhìn tôi, tôi sẽ vội ngoảnh mặt đi chỗ khác vì tôi sợ cô ta biết rằng trước đó, tôi đã nhìn trộm cô ấy mấy lần. Cái tuổi học trò sao nó dễ thương và khờ khạo đến thế. Biết đâu cô ấy chẳng muốn mình làm quen anh nhỉ ?

Nếu anh được lớn lên ở miền Bắc, chắc chắn anh đã từng yêu thích những bến đò. Bến đò đã từng là hình ảnh gợi sự xúc cảm của bao nhiêu thi nhân. Cảnh mưa tại bến đò thì cái buồn nó tăng lên nhiều lắm.

Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át

Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa

Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt

Mặc con thuyền cắm lái đậu trơ vơ

Trên bến vắng, đắm chìm trong lạnh lẽo

Vài quán hàng không khách đứng xo ro,

Vài bác lái ghé buồm vào hút điếu

Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi ho

Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ

Thúng đội đầu như đội cả trời mưa

Và họa hoằn một con thuyền ghé chở

Rồi âm thầm, bến lại lặng trong mưa

Tôi thấy thi sĩ Anh Thơ đã nhân cách hóa cảnh vật để cùng "Người" chia sẻ tâm sự u buồn của một ngày mưa: Tre thì rũ rượi, chuối cũng bơ phơ. Những hình ảnh bến đò dưới cơn mưa của Anh Thơ sao nó âm u quá, gần như đến thê lương.

Thôi, anh hãy cùng tôi đi vào cơn mưa nhẹ nhàng hơn và thanh thoát hơn. Chúng ta hãy đón nhận những hạt mưa của Huy Cận:

Đêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn

Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi

Rơi rơi àdìu dịu rơi rơi

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ

Tương tư hướng lạc, phương mờ

Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe

Gió về, lòng rộng không che,

Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư.

Những câu thơ của Huy Cận có vẻ nhẹ nhàng hơn, chải chuốt hơn phải không? Khi ta nghe nó, ta không bị lún quá sâu xuống trong nỗi buồn như bài thơ của nữ sĩ Anh Thơ. Mưa của Huy Cận chỉ là cơn mưa nhỏ với tiếng mưa nhè nhe.

Rơi rơi dìu dịu rơi rơi

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ

Chính vì mưa nhẹ như thế nên nhà thơ Huy Cận mới :

Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe

Và để rồi :

Gió về, lòng rộng không che,

Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư.

Cái khung cảnh nhẹ nhàng ấy sao không làm lòng người mở rộng ra được và không che cho được. Cái âm hưởng nhẹ nhàng trong sáng trong bài thơ của Huy Cận âu cũng có lý do của nó vì nó bắt nguồn từ cái gì êm đềm thanh thoát của những "giọt nhẹ" êm êm.

Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây nhé. Chúng ta không bình thơ mà chúng ta chỉ đi tìm những rung cảm với thơ và trải rộng lòng ra để thưởng thức cái hay cái đẹp của thơ cũng như khi ta nghe và thưởng thức một bản nhạc hay vậy. Tôi còn nhớ có một lần tôi di dự một buổi ra mắt mấy tập thơ của ông Cung Trầm Tưởng (CTT) tại San Jose, ông CTT đã tuyên bố rằng ông không làm thơ cho ai và cũng không yêu hộ ai. Ông CTT có thể đúng, nhưng với riêng tôi, tôi đã rung cảm với thơ của ông, nên ông đã làm thơ hộ tôi và ông ấy đã YÊU dùm tôi rồi đấy chứ. Khi ta rung cảm với dòng thơ nào thì dòng thơ ấy thuộc về mình. Tôi tự nghĩ cho vui, tôi có nên gọi ông CTT thành Cung Lầm Tưởng không nhỉ? Đùa một tý cho vui. Hy vọng không đến tai ông ấy. Xin đóng dấu ngoặc.

Ngoài trơi mưa vẫn bay và gió vẫn thổi. Cây thông cao đứng lẻ loi trong vườn nhà tôi đang đu đưa với gió. Nhìn cây thông tôi chợt thấy như nó cô đơn quá. Tôi liên tưởng đến một chàng trai đang đi dưới mưa để nhớ đến người yêu vừa nằm xuống đêm qua trong thơ Nguyễn Bính.:

Nàng đã qua đời để tối nay

Có chàng đi hứng gió heo may

Bên hồ để mặc mưa rơi ướt

Đếm mãi bâng quơ những dấu giầy (Lòng người trinh nữ )

Thôi, tôi không muốn đem cái buồn của Mưa đến cho anh, mà trái lại chúng ta hãy tận hưởng cái buồn ấy như khi ta đang thưởng thức một ly cà phê đen. Nhìn từng giọt cà phê nhỏ giọt đều đặn xuống ly, đen đậm và quánh đặc như những "giọt buồn" mang đầy quyến rũ đam mê.

Tôi muốn gửi đến anh một chút gì thanh bình, lắng đọng như những giọt mưa đang rơi nhẹ từ những chiếc lá cây Trà hoa nữ trước cửa sổ phòng tôi.

Rơi rơi dìu dịu rơi rơi

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ

Cùng những giọt mưa lóng lánh như kim cương đậu dọc dài theo cành cây mận. Nó lung linh huyền ảo biết là bao.

Tôi cũng xin gửi đến anh bản nhạc "Mưa" với âm điệu vui tươi của nhạc sĩ Văn Phụng đang vang lên như để chấm dứt bức thư này :

Mưa không muốn ai buồn

Mưa yêu nước non này

Mưa yêu mến dân cầy

Mưa cho lúa ngô hơn gạo đầy.

 

Hà nội (Thư gửi T4)

Anh T4 thân mến,

Đúng tối ngày mùng một tết, mở email ra đọc, nhận được thư anh tôi mừng lắm, vội trả lời ngay. Anh có nhắc với tôi về Hà nội, và đặc biệt về phố Triệu Việt Vương (TVV), nơi tôi và anh đã từng là hàng xóm.

Hà nội bây giờ đã nghìn trùng xa cách.

Tôi và anh vẫn còn đây và Hà nội vẫn còn đó. Thời gian có đi qua, cảnh vật có thay đổi, nhưng trong lòng chúng ta, Hà nội vẫn là nơi yêu quý nhất vì nơi đó tuổi thơ chúng ta đã một thời thăng hoa, nở rộ.

Tôi xin tạm nói chuyện với anh về Hà nội. Chuyện phố TVV ta sẽ chia sẻ với nhau sau.

Anh T4 thân,

Để nhớ về Hà nội, tôi xin giới thiệu với anh bản nhạc "Dòng sông mùa thu" của Trần Tiến do cô cháu ông ta là ca sĩ Trần Thu Hà (TTH) hát.

Mặc dù tôi không phải là người Hà nội và chẳng ở Hà nội bao nhiêu lâu. Thời gian tôi ở Hà nội là những khoảng thời gian chắp vá. Nhưng Hà nội luôn ở trong tim tôi. Thế mới biết những kỷ niệm của thời ”ấu thơ“ nó in đậm vào tâm hồn con người, mà cả một đời không quên.

Mở đầu bài hát, Trần Tiến viết :

Ai cũng có một mùa thu xa vắng trong nỗi nhớ, trong kỷ niệm thiệt thà.

Tiếng hát của TTH như đưa từng lời, từng ý về một kỷ niệm xa xưa, đưa tôi trở về từng con đường, góc phố Hà nội mà tôi đã ở hay có dịp đi qua.

Những ngày tôi còn nhỏ, Hà nội là một khung trời của những ước mơ dù ước mơ thật nhỏ nhoi, như được ăn ly kem Cẩm Bình ở Bờ Hồ hay kem Hùng vương trên Phố Huế, được đôi dép cao su mới mầu trắng hiệu con hổ, một cái đèn lồng vào dịp trung thu, dăm ba sợi "dây chun" màu xanh đỏ kết lại với nhau. Và của những năm tháng của tuổi mộng mơ, mơ đến những tình yêu câm nín, dại khờ với cô hàng xóm bé nhỏ tên Phương gần nhà anh.

Tôi có trở lại thăm thành phố Hà nội cách đây vài năm. Tôi vẫn thấy nó gần gũi như ngày nào, hôm qua hay hôm kia thôi. Tôi không có khả năng của nhà văn hay của nhà thơ, hay là hoạ sĩ để ghi lại những rung cảm hay suy nghĩ của mình về mảnh đất mà đã một thời là biểu tượng của con người biết yêu người, biết yêu thiên nhiên, biết yêu cái chân thiện mỹ của một Hà nội chưa bị ảnh hưởng bởi những chủ thuyết ngoại lai. Hà nội chứng kiến bao nhiêu bước thăng trầm của dân tộc: thanh bình có, chiến tranh có, vinh nhục có, và có cả những bóc lột đến tận cùng.

Huế đấy, Sài gòn đấy, không hiểu tại sao tôi không thấy những thành phố ấy có cái "lớn" của Hà nội, có lẽ vì nó thiếu cái "lớn" của những kỷ niệm tuổi thơ trong tôi.

Tôi mong một ngày nào để trở lại Hà nội lần nữa, để chiều chiều, lững thững theo những gót chân người Hà nội, đi để mà đi, đi để không đến, nếu đến không để gặp ai, và nếu gặp ai thì cũng không phải để hẹn hò. Theo bước chân của người Hà nội như theo những bước chân của người xưa, dựng nước và giữ nước, với những vươn vai Phù Đổng. Và là đi theo bước chân của chiều dài lịch sử ngàn năm, của nền văn hóa lấy con người và tình thương yêu làm gốc.

Tôi nghĩ về Hà nội như thấy mình được tắm trong dòng suối mát, như được tựa má trên lưng trần của một cô thôn nữ mộc mạc, để "nghe" thấy mồ hôi chẩy và nếm được vị mặn trên môi (mượn chữ "nghe mồ hôi chẩy" của cụ Bàng Bá Lân).

Với tôi, nói về Hà nội tôi có cảm tưởng như dùng ngàn lời cũng thiếu và một lời cũng dư. Trần Tiến viết :

Thu xao xuyến trong bàn tay ấm êm, Tôi xao xuyến nói cười một sớm mai.

Nghe đến đây, tôi tưởng như có một người yêu Hà nội, tôi sẽ đi bên nàng và bẽn lẽn. Tôi sẽ thấy cánh tay mình tê buốt khi vạt áo dài của nàng, theo gió nhẹ, chạm khẽ vào cánh tay tôi. Tôi sẽ đi và chẳng nói, tôi sẽ đếm từng bước và sẽ nghe tiếng từng chiếc lá vàng xào xạc dưới chân. Người con gái đi bên tôi, dáng nàng tha thướt như mái tóc dài trải sóng trên lưng. Vài sợi tóc vắt ngang qua mặt bay bay theo chiều gió. Nàng đi trong thanh khiết, cái thanh khiết của một hạt sương mai đọng trên cánh hoa sen vừa chớm nở. Và để rồi :

Mùa thu đi, mùa thu trở lại, tình yêu đi qua, mãi mãi chia lìa.

Nghe buồn quá! Cái buồn rất nhẹ nhàng thơ mộng như thơ của Thảo Chi Bùi Mỹ Hoa :

Chiều rơi xuống phố nơi anh ở

Có giọt nắng vàng ướp chút hương,

Hoa thắm phơi mình trên thảm cỏ

Chiều rơi xứ Bắc đặc mù sương.

Theo Trần Tiến, người Hà nội còn được nghe tiếng rù rì, êm ái của sông Hồng. Hình ảnh một chiếc thuyền nhỏ, nhẹ lướt trên sông Hồng, để lại đằng sau sóng nước bàng bạc của ánh trăng tan vỡ. Ngồi trên thuyền tôi như sẽ cố nín hơi thở để sợ hơi thở của mình làm mất đi cái tĩnh mịch, làm át đi cái âm thanh của sóng nước và tiếng khua nhẹ của mái chèo khua nước. Và nhất là làm tỉnh giấc cô gái đang thiêm thiếp ngủ trong khoang..

Ngày thơ tôi, tình yêu của tôi, Dòng sông mang mùa thu về đâu.

Đó là câu cuối cùng của bản nhạc như đang mang Hà nội của tôi về chốn xa xăm chia lìa.

Mượn một đoạn thơ của Thảo Chi như để gởi gấm lòng mình về một mùa thu Hà nội :

Em đứng đầu sông

Thả lá vàng,

Lời yêu ai nói,

Khói chưa tan!

Cuối sông chỗ đó

Anh còn đợi?

Với cả mùa Thu,

Chiếc lá vàng.

Giọng TTH lõng thõng theo thể nhạc Blue hay Jazz. Cái lõng thõng, buông thả ấy như đang dìu người nghe vào sàn nhảy. Tiếng hát của TTH như một người vũ nữ có những bước chân điêu luyện, nhè nhẹ bước đi, hai tay buông thõng, dựa đầu trên vai người yêu. Nghe TTH hát, người nghe còn thấy hình ảnh của một chiều thu ảm đạm, một chiếc lá vàng bay bay trong gió mà chẳng bao giờ rơi xuống đất, bay và bay mãi, bay không vội vàng theo từng cơn gió nhẹ. Tôi thích TTH trong bài này, không phải cô là một ca sĩ vượt hẳn lên những ca sĩ khác, nhưng TTH đã đưa tôi đi được thật xa và đi mãi trong thành phố Hà nội mà những năm tháng tuổi thơ trở lại, hiển hiện trong tôi một cách rõ ràng.

Hà nội là thế đấy. Hà nội là mảnh đất của tuổi thơ trong tôi đang sống. Nếu hình ảnh kỉ niệm tuổi thơ của tôi mất đi hay phai nhạt thì Hà nội cũng chỉ còn là New York hay Washington, hay chỉ là bản nhạc nào đó tôi nghe bằng tai chứ không phải bằng trái tim mình.

Anh có nghe bài hát "Hà nội mùa vắng những cơn mưa" không? Anh hãy nghe một đoạn nhé :

Hoa sữa thôi rơi, em bên tôi một chiều tan lớp

Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về.

Đối với người Hà nội, đường Cổ ngư không một ai không biết. Như anh đã biết đường Cổ ngư là con đường chia hai hồ Tây và hồ Trúc bạch. Chính thật tên của Cổ ngư là Cố Ngự Yểm tức là con đê ngăn nước từ sông Hồng vào, người Hà nội gọi chệch ra là Cổ ngư cho được êm tai hơn. Anh đã từng ăn bánh tôm ở đây chưa? Món bánh tôm Cổ ngư đã nổi tiếng một thời. Khi tôi trở lại Hà nội thì bánh tôm không còn ngon như tôi tưởng nữa. Tôi nhớ, hồi còn nhỏ, ông cậu tôi thường chở xe đạp đưa tôi đến đây vào ban đêm. Trai thanh gái lịch dập dìu, thơ mộng lắm. Thỉnh thoảng, năm thì mười họa lắm mới được ông cậu cho ăn một ly "kem cốc", sao nó ngon thế hả anh? Đa phần là chỉ được ăn "kem que" vừa đi vừa mút, không mút nhanh kem chảy ra tay. Hình ảnh các bà, các cô hay các chị quấn chiếc khăn "san" quanh cổ vào mùa xuân hay thu, theo gió bay bay, phủ xuống bờ vai đẹp vô cùng. Phải chi người Hà nội bây giờ ăn mặc trở lại thời đó thì đẹp và trang nhã biết bao. Nói thế có người lại cho tôi có tính bảo thủ và thích "đồ cổ" đấy.

Hà nội mùa này chiều không buông nắng

Phố vắng nghiêng nghiêng cành cây khô

Quán cóc liêu xiêu một câu thơ

Hồ Tây, Hồ Tây tím mờ.

Một bên đường Cổ ngư là hồ Tây. Đây là cái hồ lớn nhất của Hà nội. Chung quanh hồ có nhiều di tích và thắng cảnh đẹp như chùa Trấn quốc, đền Phủ Tây hồ, làng hoa Nghi tàm. Cách chùa Trấn quốc không xa có đền Trấn võ hay Quan thánh với những cây muỗm có số tuổi khoảng 500 năm, được trồng dưới đời nhà Trần. Đền này nổi tiếng nhất nước ta với tượng đồng Trấn võ do dân làng Ngũ xá đúc nên. Nơi đây tôi thường theo bà nội tôi tới lễ vào dịp đầu tháng hay rằm, và tôi thường gặp những nhóm hướng đạo sinh hoạt trong sân đền thật vui.

Bên kia hồ Tây, qua đường Cổ ngư là hồ Trúc bạch. Trên hồ Trúc bạch có một ốc đảo nhỏ, trên đảo đó có đền Cẩu nhi, thờ vua Lý Thái Tổ. Đền này đã bị bỏ hoang phế giữa một khu thanh lịch mà cách đó không xa bên bờ hồ Tây có những căn nhà nghỉ mát sang trọng mới được xây dựng dành riêng cho cán bộ cao cấp của chính quyền hiện tại và những hotel lộng lẫy.

Nói đến Hà nội là phải nói đến những dấu tích của lịch sử và văn hóa lâu đời. Nào với Văn miếu, biểu tượng cho văn hóa Việt nam, nào chùa Một cột, biểu tượng cho thành phố Hà nội, có từ thời Cao Biền của thành Đại la.

Nói đến Hà nội ta không thể không nhắc đến hồ Hoàn kiếm, một đóa hoa đẹp đặt giữa thành phố với đền Ngọc sơn với cầu Thê húc. Chắc anh còn nhớ ngay hồ Hoàn kiếm có những chuyến "tầu điện" chạy qua, nay đã bị bỏ đi. Vào tuổi trẻ chúng ta, anh cũng như tôi, ít nhất một lần đã đi "tầu điện" lậu, không trả tiền. Ta lẻn từ toa này sang toa khác, hay mỗi khi tầu ngừng ta đi xuống, khi tầu chạy ta lại theo khách leo lên. Tôi rất thích tiếng chuông tầu điện khua leng keng mỗi khi ghé trạm.

Vào ban đêm quanh bờ hồ thật là nhộn nhịp. Ánh đèn điện chiếu xuống hồ lấp lánh như sao. Những cây cổ thụ, cành cây với ra thật xa và là là xuống mặt nước thật nên thơ. Ta có thể ngồi trên ghế đá nhâm nhi gọi lạc rang hay hạt dẻ rang nóng hổi.

Khu hồ Hoàn kiếm có những con đường nổi tiếng là phố Tràng tiền có nhiều cửa hàng sang trọng. Cuối phố Tràng tiền là Nhà hát lớn. Nhà hát lớn Hà nội có kiến trúc theo phương Tây, một kiến trúc đẹp của Hà nội trong thời kì Tây có mặt ở Việt nam. Những kiến trúc của Tây để lại, theo tôi, ta cũng nên đánh giá cao nó như một nét đẹp cổ của Hà nội và ta có bổn phận bảo quản và duy trì như ta đã coi trọng phần kiến trúc của phố cổ "ba mươi sáu phố phường" của chúng ta.

Thành phố Hà nội nhỏ nên tôi thường đi bộ từ TVV nơi chúng ta ở tới bờ hồ mà không phải dùng tầu điện. Ta cứ đi dọc theo một đoạn của Phố Huế đông đúc, khoảng nửa giờ là ta tới bờ hồ. Trên đoạn Phố Huế này có rạp ciné Đại nam. Đi thêm vài chục thước là tới Chợ Hôm. Đối diện với rạp Đại nam, bên kia đường là nhà sách Xuân thu, nhà sách lớn và nổi tiếng thời bấy giờ.

Hà nội có nhiều hồ lắm, có một cái hồ mà tôi không thể quên, đó là hồ "Ha Le", khu phố Tây, mà nay gọi là hồ Thuyền quang thì phải, tôi không rõ lắm. Vào năm 1954, sau hiệp định Genève, người dân Hà nội chuẩn bị vào Nam, đem đồ đạc ra bờ hồ Ha Le bán tống bán tháo để biến nơi đây thành "chợ trời"â. Hàng ngày tôi hay ghé chợ trời, không phải để mua mà xem người ta buôn bán. Kẻ mua người bán tấp nập. Cuối cùng, trước ngày gia đình chúng tôi vào Nam, tôi mua hai cuốn sách, dó là cuốn Tấm Lòng Vàng của Nguyễn Công Hoan và tập thơ Tản Đà Vận Văn gồm hai quyển. Đó là tài sản của riêng tôi lúc 13 tuổi đem vào trong Nam. Cuốn Tản Đà Vận Văn tôi còn giữ trong tủ sách tới bây giờ sau bao nhiêu năm đổi thay trong cuộc đời.

Hà nội đối với tôi thì nói mãi cũng không hết được cái quyến rũ và êm ả của nó như :

Hà nội mùa này lòng bao nỗi nhớ

Ta nhớ đêm nao lạnh đôi tay,

Hơi ấm trao em tuổi thơ ngây

Tưởng như tưởng như còn đây.

Đó là câu hát cuối cùng trong bản nhạc. Những kỉ niệm của những ngày trèo cây me, cây sấu, đánh đinh đánh đáo, đánh khăng hay những hôm đi bắt ve sầu vẫn như còn đây.

Bây giờ, tôi kể anh nghe kỉ niệm của tôi về ngoại thành Hà nội nhé! Thời gian này thì tôi còn nhỏ, khoảng tám tuổi thì phải. Tôi ở Gia quất với ông bà ngoại tôi đâu chừng hai tháng. Anh biết Gia lâm không, bên kia cầu Long biên đó. Gia lâm và Hà nội cách nhau bởi sông Hồng. Bắc qua sông Hồng là cầu Long biên. Nay cầu này chỉ được dùng cho người đi bộ và xe đạp vì cầu quá cũ. Những loại xe nặng thì dùng cầu Chương dương mới được xây vào những năm gần đây. Cầu Long biên có kiến trúc đẹp, dài khoảng 3 cây số kể cả chân cầu.

Gia quất, cách Gia lâm khoảng hai cây số. Từ Gia quất, đứng trên đê, ta có thể nhìn thấy cả thị xã Gia lâm và cầu Long biên một cách rõ ràng, và thấy cả thành phố Hà nội nữa. Tôi ở với ông bà ngoại của tôi tại Gia quất. Bố mẹ tôi phải đi xa, ít khi nào tôi được gặp.

Cứ vào buổi chiều chiều, khi mặt trời tắt nắng, tôi nhớ bố mẹ ghê lắm. Tôi thường lên đê một mình nhìn về phía cầu Long biên như mong đợi bố mẹ dù rằng tôi biết rõ chỉ là vô vọng. Tôi cứ đứng hàng giờ như thế, nhìn những hồ sen chạy dài dưới chân đê. Có hôm đoàn tầu hỏa chạy trên cầu nhả khói đen và rúc lên từng hồi còi vang vọng ra xa. Tiếng còi tầu buồn làm sao. Tôi đứng nhìn trời như thế cho đến khi màn đêm từ từ buông xuống. Gió bắt đầu lạnh, trên đê không một bóng người. Tôi nhìn vào làng, những ngọn đèn đã bắt đầu heo hắt vài nơi từ những khu nhà trong xóm. Tôi lững thững xuống đê, lần theo con đường nhỏ về nhà, lòng buồn rười rượi. Hồi đó tôi rất sợ tiếng chó sủa, không phải tôi sợ chó mà sợ lính Tây đi "càn" hay sợ Việt Minh về làng. Ai về vào ban đêm, dù Tây hay Việt Minh, dân làng đều sợ cả, người lớn sợ, trẻ con cũng sợ. Tiếng chó sủa ran là những báo hiệu không may cho làng xóm.

Một lần tôi từ Gia quất sang Hà nội một mình. Vào buổi sáng hôm đó, tôi cứ theo chân người lớn, kẻ gồng người gánh mang hàng từ Gia quất sang Hà nội bán. Trên cầu Long biên có đường cho tầu hỏa, đường cho xe hơi chạy và đường lề bằng gỗ cho bộ hành đi. Thỉnh thoảng có những tấm ván trên đường dành cho bộ hành bị hư, có thể nhìn thấy nước sông Hồng chảy xiết phía dưới. Mỗi khi gặp chỗ hư như thế tôi sợ lắm. Trên cầu thường có những anh Tây đen rạch mặt cầm súng gác cầu, đứng hay đi lại trên đường gỗ dành cho bộ hành. Mỗi khi tôi gặp Tây đen thì tôi lại phải đi xuống lòng đường để tránh vì sợ. Hôm đó có 3 chị đi trước tôi vài bước, vừa khi đi ngang qua anh chàng Tây đen gác cầu, bất chợt một chị ôm ngực chạy phóng lên phía trước. Hai chị đi cùng vội phóng theo, nhìn thằng Tây đen ngơ ngác. Anh Tây đen vẫn thản nhiên như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Anh ta nhìn ba cô một cách lơ đãng. Tôi thấy ba chị thì thầm gì với nhau, bỗng hai chị kia cười rú lên, quay lại chửi thằng Tây đen bằng tiếng Việt. Ba chị lại lầm lũi đi. Ba chị thỉnh thoảng lại rú lên cười. Hồi đó tôi không hiểu chuyện gì, nhưng nay thì tôi đã biết, không nhiều thì ít, tôi đoán được mà, không sai đâu.

Có những buổi chiều sang Hà nội như thế, tôi đi lang thang bên Hà nội một mình cho đến khi phố lên đèn mới trở về Gia quất. Đi ngang qua những cửa hàng rực rỡ trong ánh đèn điện. Lúc đó tôi không thấy được cái rực rỡ ấy mà chỉ thấy buồn và cô đơn quá, nhất là khi thấy trong căn nhà nào đó người ta dọn cơm ra, tiếng người lớn trẻ con cười nói ồn ào. Cái cô đơn cứ thấm dần và nỗi nhớ cha mẹ cứ tăng lên mãi theo bước chân mình làm tôi có khi muốn khóc.

Viết đến đây tôi cứ tủm tỉm cười vì không biết hồi cùng ở TVV với anh, tôi và anh có cùng “yêu“ chung người con gái tên Phương ấy không? Nếu anh biết có chuyện ấy, tôi đã bị ăn đòn của anh rồi. Tôi có về thăm căn nhà ở TVV, nó tiêu điều quá. Cảnh vật nơi đó thay đổi cũng nhiều, có cái đẹp lên có cáI xấu đi, riêng cây cổ thụ trước nhà vẫn như xưa vì nó đã cũ từ hồi đó, không đủ sức già thêm hay trẻ lại. Để viết về TVV tôi phải nhờ đến bản nhạc Lối Cũ Ta Về của Thanh Tùng mới nói lên được cái cảm xúc của mình.

Lối cũ ta về

Dường như nhỏ lại

Trời xanh xanh mãi

Một thời ấu thơ

Lối cũ ta về

Dừng chân trước thềm

Chờ nghe trong gió

Mùi hương ngọc lan.

Tôi còn nhớ vào năm 1951, gia đình tôi hồi cư về Hà nội, thuê một căn gác nhỏ ở góc đường TVV và Tô Hiến Thành. Căn nhà này dùng làm trường học ở tầng dưới. Cũng căn nhà đó tôi có quen một cô bạn gái con bà chủ nhà. Cô ấy thua tuổi hay bằng tuổi tôi. Nếu tôi và anh định nghĩa tình yêu chỉ là nhớ nhớ thương thương thì quả thật tôi đã yêu cô ta hồi đó. Chúng tôi thân nhau lắm mặc dù thời gian quen nhau và chơi với nhau quá ngắn. Có lẽ vì biết nhau quá ngắn nên tôi mới có thể nhớ cô ấy lâu chăng? Tôi đã nhờ người tìm lại cô ấy bao lần. Cuối cùng khi nhà tôi và tôi trở về thăm Hà nội tôi mới biết tin tức về cô ấy.

Khi tôi đứng trước cửa căn nhà cũ, tôi thấy trong lòng vấn vương như tiếc nuối cái gì xa vắng lắm xen lẫn cái buồn thật bâng khuâng. Nói về kỉ niệm cuộc tình mình, không thể nói bằng lời mà chỉ có thể nói bằng những xúc cảm của mình. Tôi muốn nói với anh nhiều lắm, nhưng sao tôi không biết phải khởi đầu ở chỗ nào và chấm dút ở nơi đâu. Nay tôi chỉ xin gửi đến người "yêu" xa vắng một vài lời qua câu hát của nhạc sĩ Thanh Tùng :

Chốn xa xôi kia, bao kỉ niệm cũ

Em đã quên hay là vẫn mang theo

Dù cho bên anh nay em không còn nữa

Biết không trong con tim anh luôn hằng nhớ

Người yêu nay em đã bỏ anh đi

Sao em nỡ bỏ anh đi mãi.

Lối cũ ta về.

Khi tôi đi dự một buổi ca nhạc thính phòng bỏ túi ở Hà nội tôi được nghe ca sĩ không tên tuổi Trọng Tấn hát ca khúc này thật hay.

Anh làm ơn cho tôi thêm kỉ niệm về khu phố TVV vì anh đã ở đó lâu hơn tôi. Sau Hà nội là Sơn tây, có dịp tôi kể anh nghe tiếp.

Hai Hát


 

Mất Mũ

Sáng chủ nhật, một anh chàng về tới nhà mới biết là mình mất cái mũ. Anh nghĩ ngay cái cách dễ nhất để kiếm một cái mũ khác là đi tới nhà thờ và "chôm" một cái. Lúc anh ta bước vào nhà thờ là lúc ông cha đang giảng về "Mười điều răn của Chúa." Sau bài giảng, anh ta thưa với ông cha:

- Con muốn thưa với cha là cha vừa giúp con khỏi phạm tội! Con đến đây với ý định là sẽ ăn cắp một cái mũ, nhưng mà sau khi nghe cha giảng, con quyết định không ăn cắp nữa!

Cha bảo:

- Hay quá! Cha đã nói cái gì mà con có thể thay đổi ý định?

Anh ta trả lời:

- Khi cha giảng tới đoạn về hành động thông dâm, con đã nhớ ngay ra con để quên cái mũ ở đâu rồi!

Muốn Gặp

- Thưa cô, tôi rất mong được gặp lại cô!

- Oâng cứ gọi điện thoại. Số phone của tôi ở trong sổ điện thoại đấy!

- Thế … tên cô?

- Ồ, ở ngay bên cạnh số điện thoại!