Tạp ghi lan man của  Hai Hát

NỢ

(Đặc biệt tặng những anh chị đã vác ngà voi THĐL trong 25 năm qua).

Cái nợ hình dung nó thế nào ?
Khiến người ngao ngán, ngẩn ngơ sao!
(Trần Tế Xương - Cái nợ)

Chúng ta quen thuộc với "Nợ"từ thuở "mẹ cho mang nặng kiếp người" (TCS). Nợ chất cao hơn núi, trải rộng hơn biển cả. Nợ luân lưu trong vũ trụ được ví như đồng tiền luân lưu trong xã hội loài người. Nợ đượctrao đổi từ người này qua người khác, từ sinh vật này qua sinh vật khác một cách đều đặn và bất tận như một thứ nợ đồng lần.

Nợ thì nhiều lắm, nó nhiều từ nghĩa đen cho đến nghĩa bóng, từ thực thể "cân đo đong đếm" được cho đến những ý niệm trừu tượng có tính xấu, tốt, lẫn linh thiêng... Nợ không phân biệt “nam phụ lão ấu”, cứ có sự hiện hữu là đã có nợ rồi. Nợ không chừa một ai, nợ được coi như một định mệnh của con người, không ai tránh được, kể cả những người tưởng suốt cả cuộc đời chỉ biết có cho vay.

Nợ bao trùm trong mọi sinh hoạt hàng ngày. Nó được thể hiện từ trong nhà ra ngoài làng xã, từ việc cỏn con cho đến việc to lớn, từ việc trang nghiêm đến việc bông lơn, từ việc ban đêm đến việc ban ngày, chỗ nào cũng có mặt của nợ. Nợ nhiều quá đến nỗi đôi khi ta đã phải quên đi hay phải tảng lờ hoặc không còn biết nó là nợ nữa, tỷ như hơi thở của ta là món nợ truyền kiếp liên quan đến sự sống còn, ấy thế, mà mấy ai nhớ tới đó là món nợ của ta đối với Trời Đất đâu.  Nợ xẩy ra trong từng "sát na". Sống có cái nợ của sống, chết có cái nợ của chết. Nợ mang đủ sắc thái, mọi hình thức, biến hoá vô lường, lúc nào nó cũng ở bên mình ta như "cái của nợ". Nợ không chỉ đến từ cái ăn cái mặc, cái nhà cái cửa, cái nhăn răng hì một tiếng (nói theo cụ Nguyễn Văn Vĩnh), ... nó cũng còn đến từ công ơn dưỡng dục, tình nghĩa thâm sâu, nhân quần xã hội... kể sao cho hết.

Nào như nợ trong thi ca của cụ  Nguyễn Công Trứ, chữ “nợ” được thể hiện qua những trích đoạn sau.

- Nợ quốc gia, nợ quân thần :

Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái
Cái công danh là cái nợ nần
Nặng nề thay đôi chữ quân thân
Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ.
(Trên vì nước dưới vì nhà)

- Nợ tang bồng :

Mình một bóng đành rằng nông nỗi thế
Hỏi thư kiếm có hay chăng nhẽ
Nợ tang bồng giả đặng lúc này chăng
Ra tay chữa lệch cho bằng.
(Đi quân thứ)

Truyện đố kỵ sá chi con tạo
Nợ tang bồng quyết trả cho xong
Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm cung
Cho rõ mặt tu mi nam tử.
(Làm cho tỏ mặt nam nhi)

- Nợ đèn sách :

Chí tang bồng hẹn với giang sơn
Đường trung hiếu chữ quân thân là gánh vác
Đã mang thân ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Nợ sách đèn đem nghiên bút trả xong
Cầu xe ngựa lúc đi về mới tỏ.

- Nợ phong lưu :

Suy mới biết ở đời ai cũng hớ
Vì tài tình nên vướng nợ phong lưu
Kho trời cho tiêu phí thấm vào đâu
Chơi là lãi, dẫu chưa giàu nhưng chẳng kiết.

- Nợ tài hoa :

Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
Dở duyên với rượu khôn từng chén
Trót nợ cùng thơ phải chuốt bài.
(Tự cao)

Chưa chán ru mà quấy mãi đây
Nợ nần dan díu mấy năm nay
Mang danh tài sắc cho nên nợ
Quen thói phong lưu hoá phải vay.
(Than nghèo)

- Nợ tình :

Đa tình là nợ
Mắc míu vào đố gỡ cho ra.
(Chữ tình)

- Nợ duyên :

Ừ duyên nợ ắt đà hơn một
Mà nét xuân kia vẹn cả mười.
(Bỡn cô đầu già)

- Nợ vật chất :

Van nợ lắm khi trào nước mắt,
Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi.
(Than nghèo - Trần Tế Xương)

Nào như nợ trong ca dao:

Bốn bề công nợ eo sèo
Chỉ vì một nỗi tôi nghèo mà thôi.
Eo sèo công nợ tứ bề
Kẻ lôi người kéo, ê chề lắm thay.

Trong các loại nợ, có một loại nợ rất đa dạng, đầy đủ hỉ nộ ái ố nhất: đó là nợ duyên, nợ tình được ca dao đặc biệt nhắc đến.

Vô duyên vô phúc húc phải ông chồng già
Ra đường bị hỏi là cha hay chồng ?
Nói ra đau đớn trong lòng
Ấy cái nợ truyền kiếp, chớ phải chồng em đâu !

Chồng con là cái nợ nần
Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm

Mỗi người một nợ cầm tay
Đời xưa nợ vợ, đời nay nợ chồng

Mực đen vô giấy khó chùi
Chồng chồng, vợ vợ, nợ đời trăm năm

Nợ đòi trả trả vay vay
Nợ tình biết trả đến ngày nào xong?

Buồn riêng thôi lại tủi thầm
Một duyên, hai nợ, ba lầm lấy nhau

Lạy trời phù hộ cho em
Cho em chóng lớn em lên cõi già
Khỏi đền duyên nợ rầy rà
Khỏi mang tiếng xấu như là những ai.

Ấy thế, không phải nợ duyên, nợ tình lúc nào cũng đáng sợ đâu nhé mà nhiều khi người ta ùa nhau tự nguyện đi vác những cái nợ ấy vào thân :

Đem thân ở dưới cõi trần
Hỏi rằng duyên có nợ nần chi không
Bao nhiêu giá một ông chồng
Thì em cũng bỏ đủ đồng ra mua

Một duyên, hai nợ,
Anh sợ em sắp có chồng.
Anh chẻ tre bện sáo, ngăn sông
Cầm duyên em lại để kết đạo đồng cùng anh.

Gió thổi pho pho, đưa đò lên Huế,
Trăng non đoài vội xế về Vinh
Em đây vốn thiệt một mình,
Có ai vô gầy dựng duyên nợ, gá nghĩa chung tình cho vui.

Không được mắc vào nợ duyên, nợ tình với nhau thì mè nheo, than thở:

Gió đưa nước, nước sao vời vợi
Gió đưa mây, mây hỡi mịt mù
Anh với em duyên nợ sầm sờ
Em còn thủ tiết, mà chờ đợi ai?

Đường đi lên quăn quăn quéo quéo
Đường đi xuống quẹo quẹo vườn dâu
Hai đứa mình ân ái đã lâu
Ai vô đây bày mưu sắp kế cho duyên nợ hầu rẽ phân

Nghĩ tơ duyên quá dở
Giận căn nợ bời bời
Đau lòng quá lắm em ơi
Xui chi gặp gỡ chẳng trọn đời với nhau

Khi được nợ duyên, nợ tình rồi thì lại phụ duyên, phụ tình nhau :

Còn tiền còn duyên còn nợ
Hết tiền hết vợ hết chồng

Ngọn cỏ phất phơ, ngọn cờ phơ phất
Nồi đồng sôi, nồi đất cũng sôi
Anh với em duyên nợ hết rồi
Để cho người khác đứng ngồi với em

Ôi thôi, tôi muốn bứt rời duyên nợ
Anh đi kiếm vợ em lại kiếm chồng

Ngôn ngữ liên quan đến "Nợ" của ta thì giàu có lắm như: mang công mắc nợ, nợ ngập đầu, nợ như chúa Chổm, nợ như tổ đĩa, nợ tiền kiếp, nợ van quan khất, rút ruột tằm trả nợ dâu, trả nợ quỷ thần, tất tưởi như nợ đuổi sau lưng, tốt vay dày nợ, nợ có vay có trả, may gặp duyên chẳng may gặp nợ, nhất tội nhì nợ, một là vợ hai là nợ, nhà gần chợ để nợ cho con, nặng nợ giang hồ, kéo cầy trả nợ, một vay hai nợ,... cũng ôi thôi, kể sao cho hết.

Nhân nhắc tới thành ngữ “nợ như chúa Chổm” tôi cũng xin kể các bạn nghe một câu chuyện mang ý nghĩa của một người mắc nợ nhiều. Theo tục truyền, chúa Chổm là nhân vật có thật. Thuở hàn vi, chúa Chổm phải vay nợ nhiều lắm. Khi được tôn lên làm chúa và được rước về kinh thành Thăng Long thì chúa bị đòi nợ suốt dọc đường. Chủ nợ thật cũng có mà chủ nợ “hôi” cũng có, chúa Chổm không thể nào nhớ hết. Lúc đầu ai đòi thì trả, sau thấy càng trả nợ thì số chủ nợ càng đông nên ra lệnh: chúa Chổm chỉ trả nợ cho tới khi chúa về đến ngã tư cổng thành Cửa Nam. Do đó, chỗ ngã tư này được gọi là ngã tư Cấm Chỉ (Ở cạnh Hàng Bông gần Cửa Nam).

Nợ có hai đối tượng, "vay" và "trả". Có vay thì có trả. Có vay mà không trả thì gọi là "quịt nợ", cho vay mà không đòi thì gọi là "xóa nợ", nợ mà cứ lần khân không chịu trả ngay thì gọi là "trây nợ". Có những món nợ không phân định rõ là ai vay, ai trả, như tình tôi đối với những cô hàng xóm, "ai vay ai" thì chỉ có "Ai" biết và "ai trả ai" thì cũng chỉ có "Ai" biết. Trong trường hợp này thì phải hiểu nôm na đó là cái "nợ đời". (Cười mỉm). Và như thế, sự tương quan giữa người chủ nợ và người vay nợ, nếu ta quán chiếu cho sâu, quả thật không có sự cách biệt là bao. Nợ của người này chính là cái vay của kẻ khác và ngược lại. "Vay trả" đôi khi được hiểu như là "Đạo". Theo Lão Tử, Đạo thì không thể nói được, nói được thì không còn là Đạo, nên thôi, tôi chẳng bàn thêm về "vay trả" ở đây.

Muốn hiểu hết ý nghĩa của nợ thì thật gian nan. Không hiểu được ý nghĩa của nợ thì ta khó có thể biết cách trả nợ, không trả nợ đúng cách thì cũng kể như ta quịt nợ dù vô tình hay là cố ý. Vay nợ, mang nợ, trả nợ đều có những ẩn số phức tạp của nó như vay ra sao, trả như thế nào đòi hỏi một trình độ ứng xử cho thích nghi cho phù hợp với từng hoàn cảnh, ý nghĩa của nó.
Nợ có nhiều mức độ khác nhau, kẻ nợ nhiều người nợ ít.  Để nhìn nợ một cách gần gũi và thực tế hơn thì nợ luôn đi kèm theo một yếu tố được thể hiện ở một mức độ nhất định nào đó là có vay có trả . Đối với những người có quan niệm có ơn phải sợ có nợ phải đền thì thái độ của những loại người này luôn luôn là muốn trả nợ cho xong.

Kiếp này trả nợ cho xong
Làm chi để nợ một chồng kiếp sau!

Trong số những người muốn trả nợ cho xong này phải kể đến nàng Thúy Kiều đã đem cả vốn liếng nghìn vàng của mình ra trả nợ chuộc tội cho cha. (Không như Thúy Vân chỉ biết vô tình ăn no ngủ kỹ cho mập ú đến khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang chứ không chịu chia sẻ với chị theo đúng tinh thần "fair" của người Mỹ, mỗi người một nửa, nghĩa là mỗi người còn giữ lại một nửa để dành làm vốn. Cười.)

Có loại người lại không sợ nợ như :

Dầu cho nợ bắt nợ đòi
Phong lưu ta cũng cứ nòi phong lưu.

Vì trong đời có người nọ kẻ kia đối với nợ như thế nên các cụ ta có câu :

Ở đời có bốn cái ngu
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.

Nghe tôi nói thế, chẳng biết nghe câu được câu chăng, ất giáp thế nào, ba cô hàng xóm xinh đẹp trước cửa nhà tôi chạy ùa sang đòi "ngu".

- Cho em "gác" với.

- Cho em "cầm"với.

- Cho em "lãnh" với, em xin lãnh hết.

Tôi chỉ còn biết ngao ngán nhận cái ngu còn lại là "làm mai". Ai muốn thì xin dơ tay. Các cô  hăng say đòi “ngu” cũng như các cô hăng say đòi "được nợ" vậy.

Tôi nghĩ, dường như có gì nghịch lý hay chơi chữ ở đây. Trên đời, ai cũng đòi “khôn” chứ ai có đòi "ngu" bao giờ. Nghĩ đến đây, tôi chợt nhớ tới câu chuyện xẩy ra không lâu, nhân tôi đến thăm một vị Sư già cả đời chỉ chuyên tụng niệm Phật A Di Đà.

Khi thấy tôi, vị Sư hỏi :

- Có Phật Di Đà à ? Hỏi như thế là vị Sư có ý nói không có Phật Di Đà. Tôi biết Sư hỏi cắc cớ đây rồi.

Tôi trả lời cũng cắc cớ không thua:

- Không có Phật Di Đà à ? Nói như thế là ý nói có Phật Di Đà.

Vị Sư cười ha hả mời tôi ngồi uống trà. Tôi thưa :

- Để con vào trong lễ Phật đã.

- Tại sao lại vào ?

Tôi trả lời:

- Tại thế gian nói như thế là vào.

Vị Sư già lại cười ha hả :

- Được rồi, cứ giữ lấy nó mà "mở cửa". (Ý nói mở Huệ.)

Các bạn ơi, vừa nghe tới "mở cửa", ba cô hàng xóm tung cửa chạy vào nhà.

Nhà Phật có câu thật cao siêu "Găp Phật giết Phật, gặp Ma giết Ma." Theo chân nhà Phật, tôi sẽ giết và nhất định giết ba cô hàng xóm xinh đẹp này đêm nay trong giờ thiền định.Gặp NỢ tôi cũng giết luôn: xoá nợ.
Xin chấm dứt câu chuyện tào lao về NỢ ở đây.

ĐẾM SAO

(Tặng các anh Thụy và Sáu đã nhắc tới sao "Nổ")

Cái nợ hình dung nó thế nào ?
Khiến người ngao ngán, ngẩn ngơ sao!
(Trần Tế Xương - Cái nợ)

Em hãy đếm những vì sao trên trời được bao nhiêu thì anh yêu em còn nhiều hơn thế nữa.
Bùi Quang Đoài (Một Câu Chuyện Tình)

Anh về đếm hết sao trời,
Em đây kết tóc ở đời với anh.
(Ca dao)

Cô hàng xóm và tôi đang ngồi trên ngọn đồi cao cách xa thành phố, cùng ngắm nhìn những ngôi sao lấp lánh trên cao. Nàng ngồi bó gối bên tôi. Chiếc váy mini quá ngắn, hớ hênh đến độ tôi tưởng như những con "dế mèn, dế dũi" của nhà văn Tô Hoài quanh đây có thể nhẩy vào cái nơi hoang vắng thâm u ấy. Sự hớ hênh này thật chẳng thích hợp với khung cảnh nên thơ và trong sáng của đêm nay. Nàng dựa đầu trên vai tôi, ngước mắt nhìn trời đếm những vì sao :

Một ông sao sáng
Hai ông sáng sao
Ba ông sao sáng
Bốn ông sáng sao.

Và cứ như thế, nàng đếm không ngừng, tưởng chừng như càng đếm được nhiều bao nhiêu ngôi sao thì số lượng tình yêu của tôi dành cho nàng cũng sẽ nhiều như thế.

Nàng chợt ngừng đếm rồi quay sang nói với tôi bằng một giọng thật nũng nịu :

- Anh đếm đi !

- Đếm cái gì ?

- Đếm sao, đếm theo em đi.

Tôi ngập ngừng:

- Ừ thì đếm.

Sao và sao, đâu đâu trên vòm trời cũng đều là sao cả. Có đến hàng vạn, hàng triệu, hàng ức ngôi sao đang nhấp nháy, ngôi tỏ ngôi mờ. Tôi phân vân không biết phải bắt đầu đếm từ ngôi sao nào.

. . .
Ngẫm sao con tạo xoay vần
Chờ cho đến tối dần dần mọc ra
Mọc ra vô số hằng hà
Thiên hà vạn ức biết là bao nhiêu
Trời quang sao mọc cũng nhiều
Đến khi trăng tỏ ra điều sao thưa.
. . . (Ca dao)

Tôi chỉ cho nàng những ngôi sao thật sáng và tôi tự đặt tên cho chúng với cái tên của những vì sao quen thuộc mà tôi đã từng nghe đến từ cái thuở xa xưa, cái thuở cô hàng xóm còn chưa ra đời.

. . .
Trên trời sao bẩy sao ba
Nhị thập bát tú cùng là thất tinh
Sao hôm chỉ mọc một mình
Sao mai gà gáy chung tình với ai
Có hôm mà chả có mai
Kìa như sao vượt chờ ai giữa trời
Nam tào, Bắc đẩu đôi nơi
Thần nông sao ấy trị vì làm ăn.
. . . (Ca dao)

Tôi chợt nhớ tới và se sẽ hát bài ca "Bài Ca Sao" của Phạm Duy do TH Thu Hoa gửi cho THDL và tôi đồng thời cũng vờ chỉ cho nàng những ngôi sao có tên trong bài hát ấy. Nàng nhìn tôi chớp chớp đôi mắt cảm động một cách ngờ nghệch vì nàng tưởng đâu như những câu tình tứ trong bài ca là để dành riêng cho nàng.

Sao Tua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha
Sao Vua dăm cái nằm xa
Thương em từ thuở người ra người vào
Sao Mơ sáu cái nằm chầu
Sao Khuê mấy cái nằm đâu ?
Sao Khuê mấy cái nằm dài
Thương em từ thuở tình ngoài nghĩa trong
Sao Măng năm cái nằm ngang
Thương em từ thuở mẹ mang đầy lòng
Sao Vua năm cái nằm tròn
Sao Tư bốn cái nằm vuông
Sao Hôm le lói đầu hè
Thương em từ thuở em về với ai
Sao Mai le lói ngọn cây
Thương em từ thuở về xây tình người.
Sao Vân xa tít đầu trời
Sao Quanh cao ngất ngoài khơi
Sao Vân muôn cái mịt mùng
Thương em từ thuở ngàn trùng cách chia
Sao Quanh theo gót người đi
Thương em chỉ có trời khuya nhìn về
Sao ơi, sao hỡi buồn gì ?
Sao ơi, sao hỡi buồn chi ?

Tôi lại còn bịa ra một lô tên cho những ngôi sao mà những tên ấy chưa từng có ở trên cõi đời này như sao Lưu Bị, sao Quan Công, sao Trương Phi, vì thấy chúng ở gần nhau như đang diễn ra cái cảnh kết nghĩa Vườn Đào. Cô hàng xóm của tôi thì mù tịt với những cái tên trong truyện Tầu ấy nên chỉ còn biết há mồm ngẩn tò te thán phục.

Nàng thích thú với sự chỉ dẫn rất "nổ" của tôi, hỏi :

- Anh học Thiên Văn à. Sao anh biết nhiều sao thế ?

Tôi "nổ" tiếp:

- Ừ, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ này. Anh không biết thì còn ai biết. Cái gì mà anh chẳng biết.

Nàng hỏi thêm :

- Thế sao Chổi ở đâu ?

- Đằng kia kìa. Tôi bâng quơ chỉ tay về hướng những ngôi sao xa tận cuối chân trời.

- Sao nó không giống cái chổi ?

- Hỏi vớ vẩn. Quét xong, Ông Trời cất đi rồi.

Tôi bí nên gạt ngang, cười xòa.

Nàng cười theo rồi cứ lấy tay đấm vào đùi tôi thùm thụp:

- Anh nói dối nhớ, anh nói dối nhớ (nhé) !

Nàng nói với một giọng rất "nẫu" mà cứ cho là rất nũng nịu thơ ngây.

Đợi khi nàng thôi đấm, nhớ đến nhà văn Vũ trọng Phụng than thân là đã sinh ra vào một ngôi sao xấu, tôi giải thích thêm:

- Người xưa tin rằng mỗi người dưới trần gian này sẽ tương ứng với một vì sao trên trời.

Nàng chồm lên ngắt lời tôi:

- Thật hả ? Thế ngôi sao của em ở đâu, tên gì ?

Tôi chỉ vào một ngôi sao rồi nói :

- Kia kìa, tên là sao Băng.

- Tại sao tên là sao Băng ? Nàng chớp chớp đôi mắt ngạc nhiên.

Tôi ỡm ờ trả lời:

- Tên Băng vì em lạnh như băng (giá) ấy.

- Thế ngôi sao của anh phải nóng lắm hả. Chắc nó tên là Lửa ?

Nói xong câu ấy, nàng tự cho đó là câu nói đùa đầy dí dỏm, mặt vênh vênh đắc ý rồi phá lên cười. Tiếng cười của nàng lanh lảnh vang xa làm con sóc gần đó sợ hãi chui tọt vào hang.

Tôi mỉm cười hóm hỉnh đáp :

- Không phải. Sai rồi. Ngôi sao của anh ở tít đằng xa kia kìa, tên là sao "Nổ".

- Sao "Nổ" ? Em chưa hề nghe thấy bao giờ.

- Sao "Nổ" thì nhiều lắm. Mỗi sao nổ một cách.

Tôi nghiêm giọng, ra vẻ thầy đời, lên giọng dậy dỗ:

- Em không biết à. Những ngôi sao "Nổ" này cùng họ hàng gần với sao "Phét" (nói phét), với sao "Khoác" (khoác lác) ... Thường thì những ngôi sao này rất mờ. Vì rất mờ so với những ngôi sao khác nên chúng phải nổ để mong cho mình được sáng thêm lên và được mọi người chú ý tới. Vì là sao “nổ” nên khi nổ, âm thanh của nó thường chát chúa đến đinh tai nhức óc, nhưng cũng có khi tiếng nổ chỉ lẹt đẹt vài tiếng như pháo "tép " trẻ con chơi trong ba ngày Tết. Tiếp theo những tiếng nổ thường là những sự đổ vỡ, vỡ cửa vỡ nhà hay vỡ mặt, hay còn có khi "vỡ nợ" nữa. Và cái "vỡ nợ" bẽ bàng gần nhất là những câu thường được nghe thấy liền sau tiếng nổ : "Nổ rồi mà chỉ sáng được có thế thôi à !"

Nàng nghển cổ im lặng nghe tôi nói một cách hết sức thành khẩn, thành khẩn đến trở thành ngu ngơ, ngốc nghếch. Tay nàng xoa nhẹ lên chiếc váy nơi bị muỗi đốt. Muỗi ở đây đốt đau và ngứa ngang với muỗi West Nile chết người. Hết xoa nàng lại lấy hai ngón tay lúc cấu lúc véo cho đả cơn ngứa. Có khi nàng cho hẳn bàn tay vào trong để gãi. Động tác gãi của nàng quá tự nhiên, tự nhiên đến độ tôi không thể trách nàng tại sao lại làm như thế trước mặt một người đàn ông đứng đắn như tôi, một người vốn cầm tinh sao "Nổ".

Nàng vẫn há hốc mồm ra chiêm ngưỡng nhìn tôi dù tôi đã ngừng nói từ lâu. Nàng cứ ngẩn người ra như Từ Hải chết đứng pha lẫn nét đăm chiêu. Rồi nàng nhìn lên trời cao, buông thõng một tiếng bất ngờ :

- Xạo !

- Xạo gì ? Tôi trố mắt hỏi.

- Anh nói em cứ đếm trên trời có bao nhiêu vì sao anh sẽ yêu em còn nhiều hơn thế nữa.

Tôi chưng hửng vì tôi cứ tưởng từ nẫy đến giờ nàng đang lắng nghe tôi nói về những ngôi sao "Nổ". Tôi miễn cưỡng hỏi :

- Thế em đếm được bao nhiêu ngôi sao rồi ?

- Được vài chục.

Tôi nháy mắt hỏi đùa :

- Thế còn chưa đủ cho em à ?

Nàng trở nên thông minh khác thường, đánh nhẹ vào cánh tay tôi cười ré lên :

- Anh này... nham nhở nhá (nhé)... chưa đủ ! Phải cả nghìn cơ !

Tôi không hiẻu nổi chữ nham nhở nàng dùng ở đây. Nói xong nàng đứng lên vụt chạy ra xa, ngoảnh lại như chờ tôi đuổi theo sau. Tôi đứng dậy vươn vai nhìn trời cao. Tôi giật mình khi nhìn thấy một ngôi sao sáng quá. Ngôi sao ấy cứ nhìn tôi chầm chập và như trách móc tôi sao tới giờ này vẫn chưa về ăn cơm tối, bắt chờ. Tôi nhìn ngôi sao ấy, trong lòng không khỏi bối rối và có chút gì hổ thẹn. Tôi nói vọng về phía cô hàng xóm đã chạy ra xa với giọng gần như ra lệnh :

- Về !

Nàng nói vọng lại :

- Chưa gì đã về !

- "Chưa gì" là chưa cái gì ? Về!

Tôi vội rảo bước nhanh. Cô hàng xóm lật đật chạy theo sau.

Nàng như vẫn còn ấm ức :

- Ngày mai anh phải đưa em lên đây đếm sao tiếp. Anh nhớ mang theo cái chăn nữa nhé, ngồi trên cỏ ngứa quá.

Nàng chạy lên phía trước, vừa chạy vừa đưa hai tay ra sau cào gãi hai khối thịt nung núc đang tưng lên theo bước chạy.

Trời vẫn trong, gió vẫn thổi và những ngôi sao vẫn lấp lánh trên trời. Cô hàng xóm vẫn đổ dốc xuống đồi. Một ngôi sao xẹt ngang trời. Sao "Sa". Một ngôi sao vừa nổ tan tành. Buồn.

Và tôi cũng buồn cười vì thấy cô hàng xóm đã chạy gần đến chân đồi. Bóng dáng cô trở nên ngắn và tròn nên tôi cứ ngỡ như cô ấy đang lăn. Cũng may cô ấy không phài là chị Doãn của nhà văn Vũ Trọng Phụng, chị có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai, mà ngược lại nhan sắc của cô thì lại đẹp vô cùng, để cho tôi:

Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ.
Ca dao)

TÀO LAO

Việc lớn thì chẳng ra sao,
Việc tào lao hay chú ý.
(Ca dao)

Dưới cái nắng như thiêu như đốt, tôi cố gắng cắt cho xong bãi cỏ trước nhà. Mồ hôi nhễ nhại, tôi đẩy cái máy cắt cỏ một cách nặng nề, nhẫn nại. Chiếc máy cắt cỏ cứ như muốn ì ra dưới cái sức đẩy của tôi như mỗi lúc một yếu đi. Mệt bá thở. Chưa cắt cỏ xong, tôi đã phải nghĩ ngay tới việc phải tìm chỗ đổ đống cỏ vừa cắt này đi, rồi rải thêm phân, tưới thêm nước cho cỏ mới mọc lên được xanh tươi, và để rồi tuần sau lại vác máy cắt cỏ ra cắt. Nếu lười hay quên, ông hàng xóm sẽ đem máy cắt cỏ của ông ta để ngay trước cửa nhà tôi nhắc khéo. Đã bao năm nay tôi cứ lập đi lập lại cái công việc nặng nhọc và nhàm chán này một cách cần mẫn, nghĩa là tốn phí tiền của lẫn công sức nuôi cỏ cho lớn lên xanh tươi rồi cắt nó đi, rồi lại nuôi, rồi lại cắt một cách đều đặn. Nếu công việc này xẩy ra vào những ngày mát mẻ thì chẳng nói làm gì, nhưng hôm nay dưới cái nóng bỏng của "cái nóng nung người, nóng nóng ghê" (Nguyễn Khuyến) thế này thì tôi như chợt nhận ra, trong công việc của mình có cái gì có vẻ "tào lao". Nó tào lao ngang với cái luật thành phố San Jose này: cấm hủy bỏ bãi cỏ trước nhà vì muốn bảo tồn cái vẻ đẹp của thành phố. Nếu tôi vi phạm luật này, tất nhiên, tôi sẽ bị phạt nặng. Và nó cũng tào lao như những năm hạn hán, thành phố muốn giữ cỏ xanh nhưng lại đòi hỏi cư dân phải hạn chế tối đa hay cấm dùng nước tưới cỏ. Nếu tôi không tuân thủ ? Phạt. Tào lao thế đấy !

Chuyện tào lao như thế thì cứ "khối" ra đấy. không phải là chuyện của trẻ con đâu mà là chuyện của người lớn.

- Tào lao như câu cửa miệng của dân Việt ta ngày nay:

Sáng đúng chiều sai
Sáng mai lại đúng
Lúng túng, sáng đúng chiều sai.
Lai rai, chiều sai sáng mai lại đúng.

- Tào lao như cụ Tản Đà viết thơ hỏi vợ trên trời:

Tình riêng trăm ngẩn mười ngơ,
Ngồi buồn lấy giấy viết thơ hỏi trời.
Xem thơ trời cũng bật cười,
Cười cho hạ giới có người tào lao. (1)

- Tào lao như anh nói khoác :

Ta con ông Cống, cháu ông Nghè,
Nói có trên trời dưới đất nghe,
Sức khoẻ Hạng Vương cho một búng
Cờ cao Đế Thích chấp đôi xe.
Nhẩy ùm xuống biển lôi tàu lại
Nhảy tót lên non dắt cọp về.
Độ nọ vào chơi trong nội phủ,
Ba nghìn công chúa phải lòng mê.
(Độ nọ ra chơi ngoài hải đảo,
Ba nghìn tiên nữ chạy ra ve.)

- Tào lao như những câu chuyện tào lao đầu môi của những ông thợ cạo ở nước ta. Với những ông này, tào lao là một điều kiện tất yếu không thể tách rời khỏi nghề nghiệp của ông. Bỏ tào lao đi, ông chỉ còn biết cạo trọc đầu thiên hạ. Ta hãy tính thử xem có bao nhiêu nghề nghiệp cần đến tào lao như thế, nhiều lắm, mà đặc biệt, nghề làm chính trị, chính khách, lãnh tụ, thì đứng về mọi phương diện, tào lao đã trở thành những điều kiện “ắt có và đủ” không thể thiếu được. Tào lao như cái khóc của cuộc “cải cách ruộng đất” năm nào, oan khiên chồng chất. 

- Tào lao như bảng thống kê của viện Harris Poll mới đây (2006) bỏ tiền của và công sức ra để hỏi về giới tính (sex) của Thiên chúa trong dân Mỹ, kết quả là:

* 36%  tin rằng Thiên chúa là đàn ông.
* 37% tin rằng Thiên chúa không có giới tính, không phải đàn ông cũng không phải đàn bà.
* 10% tin rằng Thiên chúa có lưỡng tinh, vừa là đàn ông vừa là đàn bà,
* 1% tin rằng Thiên chúa là phái nữ.
* số phần trăm còn lại thì không có ý kiến (tin AFP).

Bản thăm dò ý kiến trên cũng tào lao ngang với bảng thống kê dưới đây về đàn ông Mỹ:
Ở Mỹ, người ta thống kê lý do những người đàn ông ra khỏi giường vào ban đêm, kết quả cho thấy: 35% vào toilet, 15% đi làm việc ca đêm, 50% mặc quần áo và đi về nhà mình.

Cứ dựa vào những điều tôi vừa kể thì tào lao, đứng về phương diện trà dư tửu hậu, là những câu chuyện nói cho vui miệng, cho giết thì giờ, cho câu chuyện thêm vui, thêm tức, hoặc nói cho qua rồi bỏ; đứng về phương diện việc làm hay hành động thì tào lao là những việc làm có tính cách vô bổ, ruồi bu, vớ va vớ vẩn hay ngớ nga ngớ ngẩn, nghĩa là chẳng đâu vào đâu hoặc chẳng đâu ra đâu cả. Có khi nó còn trở thành trống đánh xuôi, kèn thổi ngược mà cái hậu quả của nó làm người ta cứ tức mình anh ách, không nhịn được nhau sẽ có thể xẩy ra chuyện lớn, đánh nhau vỡ đầu hoặc chiến tranh.

Những sự việc tào lao hay có vẻ tào lao xẩy ra không ít, nó bao trùm trong mọi lãnh vực sinh hoạt hàng ngày kể cả vật chất lẫn tinh thần, tâm linh, chính trị lẫn văn hoá ... của loài người. Cũng có khi tào lao được diễn ra ở bình diện quốc gia lẫn quốc tế như khi ông Bush đem quân đi đánh Iraq vì nghi nước này có bom nguyên tử. Đánh xong thì mới "OOPS !!!", cả thế giới xúm lại tìm, chẳng thấy bom đâu. Ông hùng hồn tuyên bố cuộc chiến xẩy ra là vì vấn đề dân chủ, dân quyền, nhất định không phải là dầu hỏa hay bom. Tào lao chăng, thật khó hiểu. Tìm hiểu sự thật, âu đôi khi cũng là chuyện tào lao.

Tào lao còn được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào thời điểm, nơi chốn hay đối tượng nữa. Mức độ tào lao cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh chủ quan hay khách quan của sự việc. Tào lao có tính chất tương đối, cả về ý niệm, như chuyện tào lao lúc này trở thành chuyện không tào lao lúc khác, và ngược lại, chuyện không tào lao lúc nọ lại trở thành chuyện tào lao lúc kia vậy. Những chuyện như thế phải kể đến câu chuyện của  nhà "bác vật" Gallilée, trong khi cả nhân loại tin là quả đất hình vuông, riêng ông cho là quả đất hình cầu nên ông chết thảm vì nhân loại tưởng ông tào lao. Nói lên sự thật không đúng lúc, đúng người, đúng hoàn cảnh hay thời đại, âu đó cũng là chuyện tào lao chết người vậy. Cũng thế, ta cũng cứ tưởng Đức Phật tào lao khi ngài nói : "Ta thuyết pháp trong khoảng bốn mươi chín năm mà ta chưa từng nói một lời nào", hay trong kinh Kim Cang ngài dậy : "Cái gọi là Phật pháp, tức chẳng là Phật pháp, nên gọi là Phật pháp... Phật nói chúng sinh, tức chẳng phải là chúng sinh, cho nên mới gọi là chúng sinh." Tưởng ngài tào lao mà lại chẳng phải tào lao, tưởng tào lao chỉ vì ta không hiểu ngài thôi. Nếu không hiểu lời nói của ngài thì dầu tụng bao nhiêu kinh điển cũng trở thành vô ích. Phật xé kinh nói Pháp, kinh thượng thừa phải là kinh "vô tự", bám vào "tự" ta sẽ lạc lối về như khi ngài dặn : "kìa đệ tử hãy xem theo ngón tay ta mà thấy mặt trăng, nhưng nên nhớ : ngón tay ta không phải là mặt trăng."

Và vì tính chất uyển chuyển, đa dạng của tào lao nên ít ai nghĩ đến chuyện cần phải "cải sửa" tào lao như người ta cố cải sửa việc làm xấu để trở thành người tốt cả. Cải sửa bản tính tào lao đôi khi lại cũng trở thành công việc của tào lao.

Có những chuyện tào lao ảnh hưởng đến một người, một nhóm người, hay cả nhân loại. Như cái tào lao không tưởng của Karl Max, đã bị một đám người vận dụng lý thuyết ấy để nhận chìm một phần nhân loại xuống bẩy từng địa ngục. Cũng may nhân loại văn minh đã sớm bức tử nó.

Tào lao là chuyện dài "nhân dân tự vệ",  vui buồn ... lẫn lộn.

Tôi nói tào lao với các bạn một chút để các bạn đừng nhăn mặt, nhăn mũi về những điều tôi nói tôi làm. Có như thế các bạn mới thật sự là không tào lao mỗi khi các bạn cứ cho tôi là "chuyên viên tào lao", đặc biệt là ông hàng xóm, một người quy tội tôi nặng nhất.

Trong Thánh Kinh có một câu chuyện về một người đàn bà phạm tội bị đám đông đem đến trước mặt Đức chúa Jesus và xin ngài xử tội ném đá người đàn bá ấy. Đức chúa Jesus hỏi lại : “Trong tất cả mọi người ở đây, ai là người chưa từng làm tội lỗi thì có quyền ném viên đá đầu tiên.” Khi nghe lời phán ấy, đám đông bỏ đi.

Nhớ tới đây, tôi hỏi các bạn, có bạn nào chưa một lần tào lao thì có quyền ném tôi viên đá đầu tiên. Chưa nói hết câu, cô hàng xóm nhà tôi nhặt hòn đá ném vào đầu tôi cái bốp, rồi đứng cười ngặt nghẽo. Tôi hỏi tại sao cô ném ?.Cô trả lời tỉnh bơ : ném cho bõ ghét.

Đúng là câu trả lời lãng nhách, tào lao.

Gân cổ lên để cãi đúng sai về một câu chuyện đã được xác định là chuyện tào lao như bức thư này, ấy mới chính thật là ĐẠI TÀO LAO. Nghĩ cho cùng, có bao nhiêu chuyện trên đời này là không tào lao nhỉ ? Cười.

Hai Hát

(1) bản chính là "oái oăm", tôi sửa lại là “tào lao” cho hợp với bài viết.

Trở về đầu trang