Trở về trang chính

DRAN CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM ?

VĨNH NGỘ

Mỗi năm gần đến mùa hè bãi trường lòng tôi lại nao nức, mong được đi lên nơi xó núi, khỉ ho cò gáy Dran. Nhóm chữ này là của chú Hưng, hay dùng để tự trào cho vui. Lên ở nhà Dì Chú tôi được mọi người yêu quí và săn sóc chu đáo, chú Hưng là người thảo chương trình và kiêm luôn hướng dẫn du lịch. Thường thì hai chú cháu rong chơi suốt ngày, chỉ về nhà đúng giờ cơm chiều vì biết là không nên vắng mặt hay để người khác chờ đợi vào giờ khắc cả nhà quây quần vui vẻ. Đây là một sinh hoạt của gia đình có nề nếp và hạnh phúc. Tôi thích hầu chuyện với Mẹ của chú Hưng. Bà là người cho tôi cảm giác gần gũi và thân thương như đang ở nhà mình vì Bà giống Bà Ngoại tôi lắm, lúc nào cũng vui vẻ, dịu dàng và nhất là dù sống nhiều năm ở miền Nam hai bà vẫn luôn luôn vấn tóc với khăn nhung đen. Bà thường gọi đùa chú Hưng là “công tử bột”. Ông bà có ba người con trai, chú út Hưng giống hai anh ở nét đẹp trai nhưng to con hơn, mặt bầu bĩnh và hay cười hề hề. Có lẽ vì thế mà chú có vẻ “bột” hơn hai ông anh chăng. Tôi thích cái biệt danh này và thường ghẹo xem chú có giận không nhưng lần nào cũng thất bại vì chú cứ tỉnh bơ và cười rất thoải mái.

Đơn Dương là một thị trấn yên bình, so với “phố núi Pleiku” của thi sĩ Vũ Hữu Định thì nhỏ hơn nhiều lắm nhưng cũng mù sương, đi dăm phút cũng về chốn cũ. Riêng về mục ẩm thực, nếu để ý một chút sẽ thấy đặc điểm của Đơn Dương là sự hội ngộ của nhiều món ngon của ba miền đã đi theo dân tứ xứ đến sinh sống và lập nghiệp ở vùng đất trù phú này. Đến đây, ngoài những món ăn bình dị hàng ngày, du khách còn hài lòng với mì Quảng, bánh đúc, bánh nậm, nem nướng … và có cả phở nữa. Trong bài này tôi không dám dông dài về ăn uống vì đã có nhiều người viết rồi, chỉ xin kể chuyện phở thôi.

Với một người vui tính như chú Hưng thì bắt đầu chuyện gì cũng nên “lung khởi” một tí cho thêm rôm rả và thú vị. Trước khi đi ăn phở chú nói:

- Tao sẽ dẫn mày đi ăn phở nếu mày nói đúng tên một món phở ngon.

- “Phở đặc biệt, đúng không?” Tôi trả lời ngay không cần suy nghĩ.

- Đâu dễ thế, mày. Phải có mô tả chứ chung chung như thế sao được!

- Phở tái nạm, được chưa ?

Chú Hưng nhìn tôi, lắc đầu và cười hề hề với vẻ mặt giễu cợt. Thấy tôi vẫn kiên nhẫn chờ, chú lên giọng :

- Nghe đây. Phở tái nạm chưa ngon nhất nhưng thôi tạm chấp nhận. Tao sẽ dẫn mày đi ăn phở. Mỗi thằng sẽ làm một tô “tái, nạm, gầu, gân, hành trần, nước béo”. Tao biết ở Sài Gòn mày thường ăn phở ngon nên cái tên này đối với mày không lạ gì, nhưng tao đoán mày đang nghĩ là tao nói phét vì ở cái xó núi này làm gì có món phở tuyệt cú mèo như thế. Tao nói đúng không?

Tôi thán phục sự lém lỉnh và thông minh của chú Hưng vì quả tình tôi có ngờ vực như thế. Tôi không dám cười cách nói ra vẻ ta đây của chú vì thông cảm cho chú ở nhà là út quanh năm phải nghe lời sai bảo, tới nghỉ hè mới có thằng cháu từ Sài Gòn lên chơi, cứ để chú “lên gân” một tí chả sao. Bắt chước chú tôi cười hề hề nói:

- Thì phải ăn thử mới biết được !

- Rồi. Ngày mai 5 giờ sáng mình thức dậy đi ăn phở.

Biết là tôi sắp khiếu nại sao phải dậy sớm thế chú lại cười và nói tiếp:

- Tao biết mày sẽ thắc mắc sao phải đi ăn sớm thế. Đây là hai lý do chính đáng. Thứ nhất, giờ đó quán phở mới mở cửa chưa đông khách lắm và sáng mờ sương trời lạnh ăn một tô phở bốc khói nghi ngút mới đúng điệu. Thứ nhì, ngày mai thứ bảy tụi mình lên Đà Lạt chơi. Ăn sớm như thế mới kịp ra ngã ba Phi Nôm đón xe đò tài nhất lên trên đó làm một chầu cà phê sáng mới đã.

Đúng 5 giờ sáng hôm sau chú Hưng đánh thức tôi, sợ tôi ngủ nướng chú dựng cổ tôi ngồi dậy. Được đi ăn phở nhưng thức sớm quá thật cũng đáng đồng tiền bát gạo cho tô phở được quảng cáo là ngon tuyệt. Mắt nhắm mắt mở xuống thang lầu, mùi cây ngo thơm nhẹ dễ chịu đang lan tỏa. Người Dran thích dùng cây ngo để nhóm lửa cho dễ và nhanh. Bước vào gian nhà sau thấy dì Hà đang đun nước. Tôi hỏi sao dì dậy sớm thế, dì bảo:

- Biết hôm nay hai chú cháu đi ăn phở sớm rồi lên Đà Lạt, Dì nấu ấm nước để cháu rửa mặt đánh răng cho khỏi lạnh.

Buổi sáng trời lạnh giá nhưng tôi cảm thấy ấm áp vô cùng không phải nhờ ánh lửa hồng bập bùng reo vui trong bếp lò mà vì sự chăm sóc của dì. Trên đời này biết tìm đâu một người tuyệt vời như dì Út Hà của tôi.

Chúng tôi mặc thêm áo ấm, cầm theo túi hành lý để khỏi trở lại nhà. Bước ra đường thấy cảnh vật chìm trong màn sương. Trời còn tối lắm. Đèn đường le lói không đủ sáng khiến cho sương mù như dày thêm. Khu chợ bên phải gần dốc đèo đã sáng đèn, bạn hàng đang gấp rút chuyển hàng hóa từ trên xe tải xuống chợ, cười nói lao xao. Chú Hưng chỉ về phía trái rồi bước đi, tôi lẳng lặng theo sau. Đi bộ chừng vài phút, khi gần đến cầu xi măng chú quẹo trái, nói “Ở trong này, sắp tới rồi”. Con đường xuống dốc nhỏ và tối, gạch đá lổm nhổm thật khó đi nhưng cũng may là không xa. Sau vài mươi “từng bước, từng bước thầm” đã thấy một căn nhà vách cây sáng đèn, bên trong có người lố nhố. Gần thêm một chút nữa mùi phở thơm lừng bay ra. Tới lúc đó chú Hưng mới cười hề hề và mở máy nói :

- Mày ngửi thấy mùi gì chưa? Phở ngon nhất Đơn Dương bán ở đây.

Nãy giờ chú ít nói chắc muốn dành cho tôi sự ngạc nhiên. Trong dạ dày của tôi hàng triệu con tì con vị cũng thức dậy và đang nhốn nháo theo mùi phở thơm ngon càng ngày càng đậm đà. Chưa kịp bước vào quán chúng tôi đã được chủ nhân, một người trung niên nói giọng Bắc ngọt ngào, chào đón thật nồng hậu:

- Cậu Hưng khỏe không? Hôm nay đi ăn sớm thế. Mời hai cậu vào trong này.

Ba người đàn ông đang ngồi ăn trong quán thấy chúng tôi bước vào cũng lên tiếng chào hỏi rất vui vẻ. Họ là tài xế vừa giao hàng xong ở chợ và đến đây ăn sáng. Ở cái thị trấn hiền hòa và nhỏ bé này mọi người đều quen biết nhau. Cùng đi với “công tử” Hưng chú nhóc tôi trở thành “cậu” và được chào mừng. Kể cũng ngon. Vừa ngồi xuống ghế, chú Hưng vừa cười vừa nói với ông chủ còn đứng chờ ở cạnh bàn:

- Hôm nay dẫn thằng cháu ở Sài Gòn lên chơi đến đây ăn sáng, nó muốn ăn thử xem phở ở quán này có ngon bằng phở Sài Gòn không. Chú cho hai tô tái nạm gầu gân hành trần nước béo như thường lệ, chú nhé !

Trong khi chờ đợi, tôi quan sát chung quanh. Cái quán không tên này là một căn nhà nhỏ trông nghèo nàn được một người đến từ xứ Bắc xa xôi, không cần dựng bảng hiệu mà biến nó thành điểm gặp gỡ của thực khách ba miền. Tôi làm một tổng kết nhanh khi nghe giọng nói của ba người khách đã đến trước. Trong một quán ăn ở một thị trấn nhỏ trên cao nguyên Trung phần đang hiện diện sáu người có hai người Nam, một người miền Trung và ba người Bắc. Như vậy, dân số “Bắc kỳ” của chúng tôi chiếm một tỉ lệ đa số áp đảo. Tôi nói với chú Hưng cái thống kê vui vừa nghĩ ra làm chú cười khoái trá. Hai tô phở được bưng ra đặt trên bàn, mùi thơm bốc lên làm tỉnh cả người. Chưa ăn cứ nhìn thôi cũng đã thấy ngon. Chủ nhân quả là một đầu bếp khéo vì trình bày tô phở thật bắt mắt. Tái, nạm, gầu, gân món nào đáng món đó. Thịt tái nhúng vừa độ nên mềm và thơm. Nạm không dai, rất vừa cho người thích ăn khoan thai. Gầu béo ngậy cùng với nước béo tạo cho tô phở có vị thơm nồng. Gân không cứng, chỉ dòn để tạo âm thanh vui tai khi hai hàm răng làm việc. Hành trần đúng độ nên không mềm nhũn và mùi hành vẫn còn hơi cay, cứ từ từ nhấm nháp kèm với thịt thật khoái khẩu. Nước dùng nấu theo lối Bắc rất đậm đà, không cần thêm tương, chỉ nên vắt một chút chanh cho thơm dịu mà thôi. Bánh phở trắng phau, mềm nhưng không nát càng nâng cao giá trị của tô phở ngon. Dân Đơn Dương dạo đó rất tự hào về hai sản phẩm nổi tiếng được ưa chuộng khắp nơi trong tỉnh là bún và bánh để nấu phở, hủ tíu. Chú Hưng rất hài lòng khi thấy thằng cháu thưởng thức tô phở một cách tận tình. Để chấm điểm cho tô phở tôi hoàn toàn đồng ý với chú : “tuyệt cú mèo”.

Tô phở làm ấm bụng và khoan khoái. Mặt trời miền núi cũng thức dậy sớm. Những tia nắng đầu ngày làm cho những giọt sương đọng trên lá sáng long lanh có vẻ đẹp hơn mọi ngày. Hai chú cháu lội bộ về khu chợ để quá giang xe lam đi ra ngã ba Phi Nôm. Trên đường đi chú Hưng nhắc là tôi còn nợ chú câu trả lời phở quán nghèo Dran so với phở Sài Gòn hơn kém thế nào. Chú nóng ruột muốn biết và tôi cũng thấy hứng thú để kể cho chú nghe. Ông Ngoại của tôi thường đưa cả nhà đi ăn phở vào ngày Chủ nhật. Thật tình cờ trùng hợp, quán phở ngon mà Ông thích nhất cũng không có bảng hiệu, là một căn nhà nằm trong ngõ hẻm tráng xi măng bể loang lỗ nhiều chỗ, bên cạnh rạp hát Casino ở ngã tư đường Lê Lợi và Pasteur nên được thực khách gọi là phở Pasteur. Quán nhỏ, khách đông nên ít khi có chỗ ngồi ngay phải chờ người ta ăn xong đứng lên. Và cũng hiếm có dịp cả nhà cùng lúc ngồi ăn một bàn. Khi người tiếp khách mời vào vài ghế trống thì bọn nhóc chúng tôi được ăn trước, ăn nhanh rồi tới phiên người lớn. Thực tình, tôi không thích quán phở này lắm dù ngon hơn những tiệm phở khác. Quán “Pasteur” này nổi tiếng nhất Sài Gòn vào những năm cuối thập niên 50, đã được ông Trần Rắc, chủ tiệm giày ở đường Lê Thánh Tôn gần đó làm một bài thơ ca tụng phở để tặng cho quán. Theo tôi, món ăn được đánh giá là ngon không chỉ dựa vào tài của đầu bếp mà còn chịu ảnh hưởng của không gian và khí hậu. Ăn phở Pasteur gọi món gì cũng có, tái, chín, nạm,vè, gân, sách … Đủ cả. Quán ồn ào từ trong nhà ra đến ngoài. Thực khách vừa ăn vừa xuýt xoa vì mùi phở thơm lừng và nước dùng nóng hổi, phải vừa thổi vừa ăn và lau mồ hôi vã đầy mặt mũi vì trời nóng. Nếu không lau thì mồ hôi cộng với hơi mỡ từ nước phở bốc lên làm cho mặt mày bóng nhẫy khó coi lắm. Mình đang ăn mà chung quanh nhiều người đang chờ dòm ngó chỉ chỏ, thì cũng phải làm người lịch sự ăn cho nhanh.

Ăn phở ở căn nhà trong con hẻm đường đất mấp mô ở Dran thật khác so với phở ngõ hẻm Pasteur giữa lòng phố Sài Gòn. Trời lạnh, không khí trong lành. Thực khách cứ nhẩn nha thưởng thức tô phở với đủ các món cho người sành điệu. Hơi nóng từ nước phở thơm ngon bốc lên chỉ làm cho người ta thêm ấm áp. Món ngon ăn từ từ càng thêm ngon. Đầu bếp là dân Bắc chính cống đến lập nghiệp ở xứ được thiên nhiên ưu đãi là Đơn Dương, nấu một nồi phở ngon không cần đi xa đề tìm vật liệu. Bánh phở nổi tiếng khắp nơi làm ngay tại đây. Nấu phở với nước suối nguồn tinh khiết chắc chắn phải hơn nước máy đầy hóa chất ở thành phố. Rau hành tươi ngon mua từ nông trại kế bên. Thịt từ trại nuôi bò địa phương đến quán phở Dran gần hơn đi Sài Gòn thì phải tươi và ngon hơn nhiều. Kể tới đây thấy đã quá đủ, tôi nói:

- Hết ý rồi đấy. Bây giờ nhường cho chú chấm điểm.

- “Hà hà. Như vậy phở Dran là số một. Ha ha.” Chú cười thật lớn như muốn đánh thức cả dãy phố còn đang say giấc nồng.

Chúng tôi xuống Phi Nôm đón xe Mai Tiến lên Đà Lạt. Cả bác tài và chú lơ xe chạy đến đón:

- Không biết hôm nay cậu đi nên không giữ chỗ tốt. Chỉ còn ghế sau nếu cậu không thích xin chờ tài kế, cũng không lâu.

- “Không sao. Ghế sau cũng tốt” Chú Hưng vui vẻ nói.

- “Ghé Tùng như mọi bận?” Bác tài nháy mắt. Chú Hưng khẽ gật đầu. Tôi cho là trao đổi việc riêng nên không hỏi.

Lúc đó chú lơ xe mới để ý đến tôi và chào hỏi vồn vã. Chú Hưng ngạc nhiên lắm, không ngờ tôi có quen biết với dân Mai Tiến. Khi nghe kể cứ mỗi Chủ nhật đầu tháng, buổi chiều, là tôi ra bến xe đò Đà Lạt ở Ngã bảy Sài Gòn đón xe Mai Tiến lấy trà về cho Ông Bà Ngoại, chú Hưng nói như reo:

- Thì ra tụi mình làm cùng nghề giao nhận hàng hóa. Tao gởi trà theo xe Mai Tiến ở trên này, còn mày là người nhận ở Sài Gòn.

Từ khi dì Hà thành hôn với chú Minh, lên làm dâu ở Đơn Dương hàng tháng Bố Mẹ chồng của Dì gởi biếu trà ngon cho Ông Bà Ngoại. Cứ đều đặn như thế nhiều năm về sau. Những gói trà thượng hạng sản xuất từ xứ trà Bảo Lộc là món quà thật quí giá đáng trân trọng khiến cho tình thông gia của hai gia đình càng ngày càng thân ái hơn. Chú Hưng và tôi đều góp công gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp này.

Sáng sớm, đường đèo lên Đà Lạt sương mù chưa tan nên chiếc xe đò nhỏ thận trọng bò từ từ, phải mất hơn một tiếng cho đoạn đường chỉ hơn 30 cây số. Đến nơi, xe không vào bến ở khu chợ Hòa Bình mà tiếp tục chạy vòng chở hai chú cháu đến tận cửa quán cà phê Tùng để khỏi phải đi bộ đường dốc cho mệt. Thế mới biết không gì bằng gia thế và thân quen.

Xin tạm chấm dứt chuyện Dran ở đây để gởi đăng vì tôi biết chú em ở Sài Gòn và hai cô em ở tận Miệt Dưới của xứ Kangaroo xa xôi đang chờ đọc chuyện ngày xưa ở quê nhà. Chúc tất cả dân Đơn Dương và những người đã từng sống và làm việc ở thị trấn hiền hòa này một ngày vui trọn vẹn.

VĨNH NGỘ
Th. 1/2018

Trở về đầu trang